Thứ Tư, 14 tháng 11, 2012

18 bài Phê bình, Tiểu luận của Đ.N.Thạch




18 bài PB&TL của Đỗ Ngọc Thạch (vannghechunhat.net)


Bạch vân cư sĩ Trạng Trình

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn người tới chốn lao xao.
(T180px-Nguyen Binh Khiemrạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm)
 


Nguyễn Trãi - Bui một tấc lòng ưu ái cũ

Nói đến Nguyễn Trãi - Ức Trai (1380-1442), là nói đến một nhân vật vĩ đại về nhiều mặt, rất hiếm có trong lịch sử. Và nói đến Nguyễn Trãi cũng là nói đến tính bi kịch của lịch sử:

Nhớ Long Thành xưa

Nhớ Long Thành xưaNăm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu Gia Long và định đô ở Huế. Từ đó, Thăng Long mất địa vị đầu não của đất nước về chính trị và văn hóa. Và Cố đô đất Bắc trở nên hoang tàn!...

Sân khấu Tuồng - nguồn gốc và quá trình phát triển

Triển lãm sắp đặt mặt nạ tuồng nhiều nhất Việt Nam, Phi thường - kỳ quặc, mat na tuong,trien lam sap dat mat na tuong,chuyen la viet nam,ky luc viet nam,chuyen la co that,chuyen la the gioi,ky luc the gioi,tin tuc,binh dinh,hoa hau mai phuong thuy
Xu hướng khá phổ biến vào thời kỳ đầu của việc tìm hiểu nghệ thuật tuồng là cho rằng Tuồng từ Trung Quốc truyền sang do một tù binh quân Nguyên tên là Lý Nguyên Cát (vào thời nhà Trần)..

Thứ Hai, 22 tháng 10, 2012

Suy Nghĩ về đề tài trong sáng tác văn học - Đ.N.T

Truyện ngắn - Đặc Trưng Thể Loại





SUY NGHĨ VỀ ĐỀ TÀI
TRONG SÁNG TÁC VĂN HỌC


ĐỖ NGỌC THẠCH

Lâu nay, trong công tác nghiên cứu, phê bình văn học, chúng ta thường phân chia các tác phẩm văn học theo từng diện đề tài : Đề tài lao động, đề tài chiến tranh, đề tài cách mạng, đề tài lịch sử, v.v…Trong các diện đề tài lớn đó lại được phân chia ra thành nhiều đề tài phạm vi hẹp hơn. Trong các phạm vi đề tài hẹp này lại có nhiều đề tài nhỏ hơn, cụ thể hơn nữa…Nhiều khi đề tài được cụ thể hóa đến mức dường như nó đồng nhất với đối tượng phản ánh của văn học. Chẳng hạn có những đề tài công nhân, đề tài nông thôn, đề tài bộ đội, đề tài phụ nữ…Trong các sách lý luận văn học khái niệm đề tài được xác định rất rộng chẳng hạn như định nghĩa về đề tài của Từ điển thuật ngữ văn học : Khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học (NXB Giáo dục 1992). Và, ở từng thời kỳ, do yêu cầu chính trị cần phải động viên một đối tượng nào đó chúng ta đã cổ động, ưu tiên cho một đề tài nào đó. Lẽ đương nhiên, các nhà văn đã tập trung vào những đề tài có “tính thời sự” này. Loại đề tài này nổi lên như một “đề tài trung tâm” thu hút sự chú ý của các nhà văn…
Vấn đề đặt ra ở đây là : Đâu là đề tài vừa mang tính chất thời sự cấp bách, vừa mang tính chất lâu dài ? Chỉ có thể giải quyết được câu hỏi này, nếu chúng ta, trước hết giữ được mối liên hệ giữa các đề tài trong cái gọi là “phân loại đề tài” này.
Sự thành công đáng kể của nhà văn Nguyễn Minh Châu với tiểu thuyết Cửa sông và những tiểu thuyết tiếp theo viết về chiến tranh chống Mỹ vừa qua có thể là một ví dụ tốt để chúng ta suy nghĩ về cái cách phân loại đề tài như hiện nay. Nguyễn Minh Châu viết về chiến tranh nhưng không bị chôn chân ở “đề tài chiến tranh” với việc kể lại những trận đánh đơn thuần, nhà tiểu thuyết đã phản ánh được những biến đổi lớn lao của cuộc sống miền Bắc qua cái làng Kiều, trong những ngày bước vào cuộc chiến tranh ác liệt, nhưng công việc lao động sản xuất vẫn khẩn trương sôi nổi… (Cửa sông) . Ở đây, hiện thực chiến tranh và lao động đan chéo nhau làm thành bức tranh sinh động, đa dạng. Đồng thời, sự vượt lên phạm vi hẹp của một diện đề tài còn thể hiện ở chỗ nhà văn đã biết từ một vấn đề cụ thể đề cập, liên hệ đến nhiều vấn đề khác và đặt chúng trong những mối quan hệ xã hội phức tạp. Đó chính là lý do khẳng định sự thành công của Nguyễn Minh Châu : sự thể hiện đề tài chiến tranh một cách toàn diện và sâu sắc, trong khi đó các nhà văn khác đang lúng túng trong phạm vi đề tài này .
Vậy là phải quan niệm sự phân loại đề tài như thế nào cho chính xác, để từ việc đi sâu vào một đề tài cụ thể nhưng vẫn bao quát được toàn bộ hiện thực cuộc sống với mọi vẻ đa dạng và phong phú của nó trong sự vận động không ngừng hiện nay ? Đó cũng là con đường tiến tới việc xác định khái niệm đề tài một cách đúng đắn .
Theo chúng tôi nghĩ, sự phân chia các diện đề tài như hiện nay chỉ nên coi như là một quá trình tiến tới sự thống nhất tuyệt đối các đề tài dưới dạng một đề tài chung nhất. Nghĩa là sự phân chia đó chỉ có tính chất giả định để đi đến sự khẳng định một đề tài duy nhất cho văn học. Đây cũng chính là quá trình vận động và phát triển của khái niệm đề tài phù hợp với qui luật của toàn bộ quá trình tiến hóa của xã hội loài người : đi từ thuần nhất đến đa tạp với quá trình khu biệt hóa để rồi tiến tới sự thống nhất tuyệt đối, cao hơn. Vậy là sự xác định một đề tài nhất định nào đó là một quá trình để nhà văn đi từ cụ thể hóa đến khái quát hóa – con đường tất yếu của công việc điển hình hóa trong văn học.Câu chuyện về đề tài sẽ là việc tìm hiểu quá trình này.
Nhiều nhà văn của chúng ta đã thất bại ngay từ khâu đầu tiên này của công việc sáng tạo nghệ thuật mà không hay biết ! Do không xác định được rằng, tìm cho mình một đề tài thích hợp là khâu yếu thứ nhất của toàn bộ công việc xây dựng tác phẩm thành một chỉnh thể thẩm mỹ, cho nên các nhà văn đã không nhận được cái “giấy thông hành” thiết yếu của “cửa ải” thứ nhất này !
Khi nghiên cứu lao động sáng tạo của nhà văn, A. Xâytlin đã nói rằng, bắt tay vào xây dựng tác phẩm, nhà văn phải làm một loạt công việc gắn bó hữu cơ với nhau mà thứ nhất là xác định đề tài tác phẩm. Dẫn ra định nghĩa tuyệt hay của M. Gorki “đề tài là tư tưởng nảy sinh trong kinh nghiệm của tác giả, do cuộc sống gợi ra cho nhà văn, nhưng còn ẩn náu trong kho tàng ấn tượng của nhà văn dưới dạng thức chưa thành hình và đòi hỏi được thể hiện bằng hình tượng thúc đẩy nhà văn làm cho nó thành hình” , A. Xâytlin đã chỉ ra đằng : “Khi tìm đề tài, sở dĩ nhà văn càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa là vì, để đến được với đề tài, nhà văn phải len lỏi qua vô số những đề tài đã quá quen thuộc đối với thời đại, những đề tài đã bị những kẻ chuyên bắt chước vồ vập lấy và lặp đi lặp lại mãi hóa nhàm”. Như vậy, rõ ràng là, việc nhà văn đi tìm một mảnh đất cho riêng mình để gieo “hạt mầm ý đồ tư tưởng” đã nảy sinh trong quá trình tìm hiểu cuộc sống không phải dễ dàng. Đây là cả một sự quyết định lớn lao đến số phận của nhà văn. Ta hãy nghe nhà thơ Lecmontov giãi bày nỗi băn khoăn day dứt của tâm trạng trong cái giờ phút “vạn sự khởi đầu nan” này:

               Biết viết gì đây? Phương Đông và phương Nam
              Thì họ đã mô tả, ca ngợi từ lâu
               Dân chúng thì mọi nhà thơ đều chửi rủa
               Họ chỉ thi nhau ca ngợi cảnh xum họp gia đình;
              Họ đều thả tâm hồn bay bổng
               Thầm khẩn cầu kêu gọi N.N.
              Người đẹp hằng mơ ước trong lòng
               Tôi chán ghê tất cả bọn họ.


                   (Nhà báo, độc giả và nhà văn)

Chính do có sự “lao tâm khổ tứ” quyết liệt này trong việc lựa chọn đề tài, Lecmontov đã chọn được đề tài đích đáng nhất để ngay từ lúc ban đầu xuất hiện trên Thi đàn đã trở thành nhà thơ lớn khả dĩ kế tiếp được Puskin – Mặt trời của Thi ca Nga vừa mới tắt! Đề tài mà Lecmontov lựa chọn là cái chết của Puskin (năm l837) – cái chết bất tử quyết định sự ra đời của bài thơ kiệt tác Cái chết của nhà thơ, đưa Lecmontov lên đỉnh cao mới của Thi ca Nga!...
Sẽ viết về cái gì đây? Đó là câu hỏi đầu tiên đối với các nhà văn. Với câu hỏi này, người ta thường băn khoăn giữa hai ý hướng trước khi trả lời: hoặc là viết về một cái gì “cụ thể” nhất, hoặc là viết về một cái gì “lớn lao” nhất. Thoạt nghĩ thì ngỡ là như vậy, nhưng thực ra chỉ có thể nói: Tôi sẽ viết về dân tộc tôi, Tổ quốc ở trong tôi! Bởi vì, nhà thơ không chỉ là “vú em” của tâm hồn mình mà còn là ca sĩ của thời đại mình. Không phải chỉ Macxim Gorki nói thế, mà bất kỳ nhà văn, nhà thơ chân chính nào cũng đều khẳng định như vậy…Thế là việc xác định đề tài thật khó và có ý nghĩa quyết định thật lớn đến số phận của tác phẩm. Có ai đó nói: Tác phẩm hay nhất là tác phẩm chưa được viết ra! “Hãy bắt đầu bằng kiệt tác hoặc tự văn cổ mình!” – lời răn đe tuyệt diệu này của Banzăc không phải để hù dọa ai mà đó là sự đòi hỏi tất yếu và khắc nghiệt của sáng tạo văn học. Hãy bắt đầu bằng việc xác định đề tài và hãy dè chừng khi “con dao được rút ra khỏi vỏ”. Theo cách nói của nhà thơ Raxun Gamzatov thì ‘Khi không cần thì đừng rút dao ra. Nếu đã rút rồi thì hãy đâm! Đâm một nhát thôi mà giết được cả kẻ thù lẫn ngựa!”. Vậy là phải suy nghĩ thật chín khi nắm tay vào chuôi dao, nếu không anh sẽ không hạ thủ được kẻ thù mà còn bị nó sát hại rồi nát nhừ dưới vó ngựa kia! Nếu nhà văn không xác định được cho mình đề tài thích hợp, anh ta sẽ chẳng làm nên chuyện gì, nếu không muốn nói là anh ta sẽ tự vặn cổ mình!...
M.B. Khrapchencô cũng đồng tình với ý kiến của V.Panôva cho rằng:”Thật là sai lầm lớn nếu nghĩ rằng: nếu nhà văn có tài thì anh ta có thể tha hồ viết về bất cứ một điều gì”. Đó là một ý kiến chính xác, bởi vì để viết được một điều gì đó thôi cũng đã đòi hỏi nhà văn rất lớn rồi:”Chỉ có nhà văn nào được toàn bộ kinh nghiệm sống của mình gợi ra đề tài, thì mới tìm ra nổi đề tài” – khẳng định điều này, A. Xâytlin đã nhìn thấy một vấn đề thật sâu sắc: xác định đề tài là khâu thứ nhất của công việc xây dựng tác phẩm nhưng lại là sự đúc kết kinh nghiệm sống của cả một đời người của nhà văn! Vậy có ai đó nói “Hãy cho tôi một đề tài, tôi có thể trở thành một nhà văn” thì thật ảo tưởng nông nổi!
Hãy bắt đầu bằng việc xác định cho mình một đề tài cụ thể và thích hợp nhất. Vậy thì đề tài ấy ở đâu ? Mảnh đất riêng cho mình ấy ở đâu ? Chỉ ra được cái nơi ẩn tàng của đề tài ngỡ tưởng là câu chuyện thần bí, nhưng nó lại giản đơn vô cùng ! Nhưng cũng chính vì nó giản đơn vô cùng, giản đơn đến không ngờ nên không phải ai cũng nhìn thấy được. Trong khi bao nhiêu người lúng túng về cái chuyện đi tìm đề tài này, thì R.Gamzatốp, nhà thơ Đaghextan nổi tiếng đã quyết định chọn chính Đaghextan – quê hương của ông là đề tài : “Đề tài của tôi là quê hương. Tôi không phải tìm đề tài, phải lựa chọn. Chúng ta không lựa chọn cho mình quê hương nhưng quê hương thì ngay từ đầu đã lựa chọn chúng ta”. Có được lời tâm huyết bình dị như vậy đâu phải trong chốc lát. Nhà thơ đã phải trải qua những cuộc hành trình đi khắp thế gian mới có được sự quyết định đúng đắn này. Và chúng ta cũng không nên quên rằng Gamzatốp đã chọn “Đaghextan của tôi” là đề tài chứ không phải một Đaghextan nào khác của những người xứ Avar khác. Chính vì đã tìm được đề tài như vậy, R. Gamzatốp đã viết nên tác phẩm trứ danh Đaghextan của tôi !
Sự gắn bó chặt chẽ với một đề tài cụ thể thân thuộc và máu thịt đối với nhà văn đã giúp họ tin tưởng vào cái đích trên những chặng đường gian khổ sắp tới của cuộc hành trình vạn dặm này.
Nhưng từ chỗ đứng vững chắc này, nhà thiện xạ cũng sẽ bắn trượt nếu không ngắm huống hồ với những tay súng ngỡ ngàng ! Bởi vì, mục tiêu không đứng yên mà chỗ đứng cũng luôn nổi sóng ! Cũng như vậy, “hạt mầm ý đồ” của nhà văn sẽ khó mà đâm chồi nảy lộc nếu hạt mầm không hướng lên bầu trời mà lại chui xuống âm ti địa ngục ! Đề tài cụ thể ấy chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó vươn tỏa được tới tầm khái quát rộng lớn. Thế thì câu hỏi vừa nêu trên “Đề tài ở đâu ?” không chỉ nhằm vào đối tượng nhà văn sẽ phản ánh, mà còn nhằm vào cái đích mà nhà văn sẽ vươn tới nữa. Câu hỏi sẽ phải là : “Sẽ viết về cái gì đây của quê hương mình – Đất nước mình – Hành tinh này ?”. Như vậy, trong phạm vi suy nghĩ về đề tài, nhà văn không chỉ quan tâm đến đối tượng phản ánh mà còn suy nghĩ đến cả quá trình điển hình hóa – cái trung tâm thu hút mạnh nhất mà từng động tác, chi tiết dù rất nhỏ đều hướng về nó, chịu sự chi phối của nó . Cái ý nghĩa của “vạn sự khởi đầu nan” chính là ở đó : Sự hướng tới cái đích tối cao ngay từ khởi đầu xuất phát !
Raxun Gamzatốp đã chú ý đến vấn đề này khá sâu sắc và tinh tế, Sau khi xác định được “Đaghextan của tôi” là xuất phát điểm của mình, nhà thơ không quên nghĩ đến việc gắn lên trên “cái mũ đề tài cụ thể” một ngôi sao đưa đường. Ngôi sao đính trên mũ ấy là “khung cửa nhỏ nhìn ra đại dương”. Xác định được đề tài cụ thể là quê hương, từ “khung cửa nhỏ nhìn ra đại dương” ấy, nhà thơ đã tìm thấy đề tài lớn cho mình. Nói cách khác, nhà thơ chỉ có thể đến được với đề tài lớn lao khi xác định được nơi xuất phát của mình. Và không trói buộc mình ở một đề tài nhỏ hẹp, Gamzatốp đã tìm được đề tài lớn cho mình, đó là cả thế giới : “Tôi không muốn tìm mọi hiện tượng trên thế giới này trong ngôi nhà của tôi, trong lòng tôi, trong Đaghextan của tôi, trong tình cảm của tôi với quê hương. Ngược lại, tình cảm quê hương tôi tìm thấy trong mọi hiện tượng bên ngoài thế giới, ở mọi nơi trên trái đất này, với ý nghĩa đó, đề tài của tôi là cả thế giới” – liệu còn định nghĩa nào về đề tài mà lại sâu xa, tinh tế và đầy đủ hơn lời nói đầy chất thơ của thi sĩ Đaghextan này nữa không? Tự ví mình như con suối mải mê chảy từ nguồn ra tới biển, lúc thì “đổ xuống tung bọt trắng ngần” băng qua “những hẻm núi hoàng hôn chập choạng”, lúc thì “dường như dừng lại, êm đềm lắng sâu, thu vào mình bóng hình của núi, trời sao” rồi lại tiếp chảy hối hả, Gamzatop đã có nhận xét tuyệt hay:”Tôi trôi đi – có nghĩa là phía trước có mục tiêu. Không phải tôi chỉ linh cảm, mà tôi còn nhìn thấy, biết trước khoảng rộng mênh mông của biển”. Càng sâu sắc hơn, khi Gamzatop khẳng định rằng, mỗi tác phẩm có hai người mẹ, - một là quê hương của riêng mình, một là Tổ quốc của dân tộc mình, cho nên nhà thơ phải sống với “trách nhiệm người công dân không phải chỉ với miền Avarixtan, không phả chỉ với đất nước Liên Xô bao la mà với cả hành tinh này, thế kỷ hai mươi này. Không thể sống khác”.
Câu chuyện xác định đề tài dường như lại hóa ra là vấn đề nhà văn phải sống như thế nào để là một con người vừa là của riêng mình, vừa là của dân tộc mình, vừa là của nhân loại. Cái thế giới của tâm hồn nhà thơ cũng là hơi thở của thời đại, chỉ có thể là như vậy. Vậy ra việc đi tìm một đề tài cụ thể lại là phải xóa bỏ cái ranh giới giữa các đề tài của văn học, là việc xác định cách quan niệm như thế nào cho đúng về đề tài để khẳng định được rằng: đối với văn học, chỉ có một đề tài duy nhất mà thôi!
Câu chuyện đi tìm “đề tài vĩnh cửu” kia thoạt nhìn có vẻ hoang đường, nhưng nó sẽ mất đi cái dáng vẻ bên ngoài thường bị sỉ vả nếu như chúng ta hướng nó vào quỹ đạo của “quy luật riêng của tình cảm”. Khi chúng ta nói “Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là những đề tài cao đẹp nhất của văn học, nghệ thuật nước ta lúc này”(*) thì đó chính là “đề tài vĩnh cửu” vậy!
Chủ tịch Hồ Chí Minh không “lý luận” gì về đề tài, nhưng những lời Bác nói về vấn đề đề tài thì thật là rõ ràng và sâu sắc:”Về nội dung viết, mà các cô các chú gọi là “đề tài” , thì tất cả những gì Bác viết chỉ có một “đề tài” là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”(**). Những tác phẩm thơ, truyện ký, kịch… của Bác đã trở thành tài sản văn học vô gía của dân tộc ta, của nhân loại cần lao trên trái đất này được viết về một đề tài duy nhất đó!
Câu chuyện xác định đề tài vừa có tính chất thời sự cấp bách vừa có tính chất lâu dài, vĩnh cửu, cuối cùng dường như lại kết thúc bằng những vấn đề đặt ra của mối liên hệ giữa đề tài và tư tưởng chủ đề tác phẩm! Đề tài là tình yêu! – nhà thơ Raxun Gamzatop đã nói như thế! Liệu còn tìm được lời nói nào hay hơn nữa? (***)
Đỗ Ngọc Thạch
-----
(*) Văn kiện của Đảng và Nhà nước…, NXB Sự Thật, H.1970,tr.110
(**) Về công tác văn hóa văn nghệ, NXB ST, H.1971
(***) Những trích dẫn trong bài được lấy từ những cuốn sách :M.B.Khrapchenco:Cá tính sáng tạo và sự phát triển của văn học; A.Xâytlin: Lao động nhà văn; R.Gamzatop: Đaghextan của tôi; v.v…

Thứ Hai, 24 tháng 9, 2012

tìm Đ.N.T trên nguoibanduong.net



Tác phẩm Đỗ Ngọc Thạch trên nguoibanduong.net



Tin tức > Đỗ Ngọc Thach - trong nước

1.ĐẢ LONG BÀO

Chuyện xưa, có ông Vua nọ phạm tội phải bị đánh trăm gậy, Vua muốn làm gương cho thiên hạ, nói với Thừa tướng cứ theo phép nước mà làm. Thừa tướng không dám đánh vua, bèn nghĩ ra kế “Đả Long bào”, tức lấy Long bào của Vua ra sai lính đánh trăm gậy. Mọi người ai cũng khen Thừa tướng xử lý giỏi. Lần khác, Vua phạm vào tội đáng chém đầu, sai Thừa tướng cứ làm theo Luật pháp. Thừa tướng sai người làm một con Rồng bằng giấy bồi, sơn son thếp vàng đẹp hơn Rồng thật, rồi sai đao phủ chém đầu con Rồng đó, gọi là “Trảm thủ Rồng”. Ai cũng khen Thừa tướng tài giỏi, Vua thưởng cho tiền bạc, Lụa là không biết bao nhiêu mà kể.

Xem chi tiết
“Quanh Hồ Gươm không ai bàn chuyện Vua Lê…”, biết là như thế, vậy mà khi đi dạo quanh Hồ Gươm, thấy có ai đang nói chuyện với nhau, tôi cũng đi sát họ và dỏng tai nghe xem họ có bàn chuyện Vua Lê hay không? Đó là thói quen thứ nhất và không hề mất đi của tôi.

Thói quen thứ hai là đã đến Hồ Gươm thì động tác đầu tiên là ngó nhìn xuống mặt hồ xem Rùa có nổi lên hay không? Nếu có thì reo lên rồi chỉ chỏ kêu người đứng gần tới xem, còn nếu không có thì chốc chốc lại ngó xuống mặt hồ tìm kiếm. Thói quen này cũng không hề mất đi.
Xem chi tiết
1. Giáo đầu

Cứ tưởng cái đầu mình là “Của kho vô tận”, tôi thả phanh viết búa xua đủ các kiểu, bỗng một hôm ghé mắt nhìn vào cái “Kho” thấy trống trơn! Hốt hoảng, tôi thu dọn tất cả tài liệu, sách vở vào trong cái thùng giấy cứng (vốn là cái hộp giấy đựng tivi to tướng) rồi định đi “bụi đời” tìm cảm hứng! Ai dè vừa bước ra cửa, đụng ngay mấy người hàng xóm đang cãi lộn dữ dội, xem chừng muốn chuyển qua đánh lộn! Nhớ lời mẹ dặn lúc còn nhỏ rằng, thấy đám cãi lộn, đánh lộn là phải tránh xa, tôi vội quay trở lại, trèo lên gác… ngồi Thiền!

Xem chi tiết
1. Ngày…tháng …năm

Hôm nay mình phải đưa ra một quyết định quan trọng: Đi hay ở? Mình vụt nhớ đến một câu thơ rất hay khi thể hiện tâm trạng này, được ghi trong sổ nhật ký của mẹ: “Bâng khuâng đứng giữa hai dòng nước / Chọn một dòng hay để nước trôi?” Mẹ ơi, phải chi mẹ đừng bỏ chúng con mà đi theo người đàn ông ấy, mà sao mẹ đi xa thế, tận Paris, cho dù đó là “Thủ đô ánh sáng” cũng không thể thu hút mẹ mãnh liệt như vậy?
Xem chi tiết
I. TUỒNG VÀ CHÈO

1. Tuồng và Chèo là hai loại hình nghệ thuật sân khấu truyền thống đậm nét bản sắc dân tộc nhất của nghệ thuật sân khấu Việt Nam. Tuồng thiên về Dương tính: thể hiện tính Bi hùng của cuộc sống là sở trường của Tuồng. Chèo thiên về Âm tính: thể hiện tính Nhân bản của cuộc sống là sở trường của Chèo. Trải qua bao cơn biến thiên, tưởng như có lúc Tuồng bị xếp vào Kho Lưu trữ của Bảo Tàng Sân khấu, chèo bị đuổi về góc chiếu nơi sân đình thôn quê!...Nhưng, những người say đắm, tâm huyết với Tuồng và Chèo không hề suy giảm, công chúng sân khấu không phải đã hoàn toàn lạnh nhạt với Tuồng và Chèo. Và, như là một tất yếu, các Nhà Hát Tuồng và Nhà Hát Chèo vẫn rực rỡ ánh đèn, dù chỉ có một vài khán giả vẫn diễn!...
Xem chi tiết
Truyện thứ nhất: BĂNG NHÂN

Trần Mai trở thành Băng nhân (*) chuyên nghiệp sau một lần làm mai mối bất đắc dĩ nhưng đã đạt kết quả rất mỹ mãn. Đó là vào những ngày hòa bình đầu tiên của đất nước sau bao nhiêu năm dài chiến tranh khốc liệt. Anh lính Trần Mai từ Miền Nam giải ngũ về nhà với đôi chân không còn nguyên vẹn. Vì thế, gia đình cô Đào cương quyết không cho anh cưới cô Đào như đã ước hẹn, mặc dù cô Đào vẫn sẵn lòng chấp nhận dù Trần Mai đã bị mất một chân. Trần Mai nghĩ mãi không ra cách để thuyết phục cha mẹ cô Đào thì anh lại phải lo chữa chạy cho cả song thân, bởi cha mẹ Trần Mai lo nghĩ chuyện lấy vợ cho con mà bế tắc nên cùng buồn phiền sầu não mà thành bệnh.

Xem chi tiết
Ông Trung Dũng đã là cán bộ giảng dạy ở một trường đại học nhưng sau khi bọn Mỹ đánh bom B52 xuống Hà Nội thì có đợt tuyển quân rất lớn, ông Dũng nhập ngũ vào đợt đó.
Ông Dũng tuy đã gần ba mươi tuổi nhưng vẫn chưa lấy vợ vì hai lý do: phụng dưỡng mẹ già (gần bảy mươi) và chờ lấy được cái bằng Tiến sĩ! Nhưng sau khi nhập ngũ, lương cán bộ giảng dạy bị thay bằng phụ cấp của anh binh nhì, khiến cho cuộc sống của người mẹ già gặp khó khăn. Xem chi tiết
Tôi nhập ngũ tháng 12 năm 1966, vào Binh chủng Ra-đa, khi đang là sinh viên Khoa Toán Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (lúc đó đang sơ tán ở Đầm Mây, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên). Tháng 10 năm 1970, tôi lại trở về học lại Khoa Toán, trường ĐHTH Hà Nội (lúc đó đang ở cơ sở chính tại Khu Thượng Đình, Hà Nội). Tuy chỉ gần bốn năm tại ngũ, nhưng kỷ niệm đầy ắp và mỗi khi tháng 12 đến, tôi lại như là đi ngược thời gian trở về những năm tháng ấy… Xem chi tiết
BẠN HỌC LỚP BỐN

1.Mười năm học ở trường phổ thông, tôi đã chuyển lớp tới 11 lần, nếu tính tên trường thì là Mười trường, phải nói đó là con số kỷ lục về cái sự chuyển trường! Lý do đơn giản là do bố tôi thuyên chuyển công tác, từ tỉnh này sang tỉnh khác (sau này ra đời làm việc, tôi cũng làm việc ở rất nhiều cơ quan, không biết có phải đó là di truyền không?). Việc chuyển trường nhiều như vậy khiến cho tôi có rất nhiều bạn học và có một điều kỳ lạ là cứ mỗi năm vào mùa hoa phượng nở, thật ngẫu nhiên, tôi gặp một, hai bạn học cũ, và lẽ đương nhiên là tôi được sống lại tuổi học trò!...Truyện ngắn này viết về việc gặp lại bạn học lớp Bốn!
Xem chi tiết
CHUYỆN CỦA NHÀ ĐỊA CHẤT

1. Tôi có anh bạn học cùng phổ thông, tên là Đông, sau học trường mỏ địa chất, ra trường được phân công về một đoàn Địa Chất chuyên đi thăm dò mỏ! Sau gần chục năm mới gặp lại nhau, lại ở nơi rừng xanh núi bạc, tình cảm thật xúc động muôn phần. Chúng tôi nói với nhau đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, cuối cùng Đông nói: “Vậy là tao với mày cùng nghề rồi nhé!” Tôi ngạc nhiên định hỏi lại tại sao lại nói vậy thì Đông như đọc được ý nghĩ của tôi, cười nói: “Mày đi sưu tầm văn học dân gian thì có khác gì chúng tao đi tìm mỏ!” Tôi cười bảo: “Mày vẫn hóm như xưa!...Nhưng bây giờ không mấy người coi văn học dân gian là của quý đâu! Dù sao vẫn có người như mày là tao thấy vui rồi!” … Xem chi tiết
Chuyển đến trang 1, 2, 3  [sau]

Tin tức > Đỗ Ngọc Thach - trong nước
Xa Hà Nội hàng ngàn cây số
Mà như đứng giữa năm cửa ô
Giữa góc phố, con đường bóng đổ
Những mái nhà ngói nhỏ lô xô

(Thay lời Đề từ cho chùm thơ về Hà Nội)



Xem chi tiết
1. Ngày…tháng…năm…19…

Câu nói cuối cùng của thầy Hiệu trưởng nói với mình khi đến trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương nhận công tác là: “Học sinh ở đây khác với học sinh các nơi khác ở hai điểm: 1/ Phải năn nỉ, lôi kéo chúng đến học; và do đó dẫn đến điểm thứ 2/ Không thể dùng hình phạt đuổi học dưới bất kỳ hình thức nào!”. Trải qua cuộc đời đi học từ Trung học Phổ thông cho đến hết Đại học Sư phạm, mình đã chứng kiến không biết bao nhiêu những phụ huynh học sinh phải chạy chọt đủ kiểu để con em được đi học cho nên mình thật sự ngạc nhiên khi nghe thầy Hiệu trưởng nói như thế. br /> Xem chi tiết
1.
Thầy Mân dạy tôi hồi lớp Mười, còn Thầy Hân dạy tôi hồi Đại học. Thầy Mân chào thầy Hân là Thầy, vì khi học Đại học Ngoại ngữ, thầy Mân cũng học thầy Hân. Như thế, thầy Hân vừa là Thầy của Thầy tôi, tức Sư phụ của Sư phụ, và với tôi thì là Sư phụ, tức tôi gọi thầy Hân là Sư phụ hoặc Sư phụ của Sư phụ đều đúng!... Là học trò mà viết về Thầy giáo của mình, theo lệ thường, là chỉ được viết ngợi ca, còn lại thì đều là bất kính, vô Lễ. Tuy nhiên, vì tôi cũng có hai năm làm Thầy giáo, mà học trò tôi ngày ấy, giờ cũng đã có học vị Tiến sĩ, gặp tôi vẫn lễ phép “Chào Thầy”, vì thế, nếu xét về quan hệ xã hội, thì tôi cũng là Đồng nghiệp với Sư phụ của tôi! Sở dĩ tôi phải “Vòng vo Tam Quốc” chút xíu vì những gì tôi viết về hai Sư phụ của tôi không thể xếp vào thể loại Tụng ca được dù tôi rất muốn như thế!

Xem chi tiết
1. Chuyện của cô Đào

Ông Lê Văn Binh là thương binh chống Pháp. Trong trận đánh đồi A1 ác liệt, anh chiến sĩ Lê Văn Binh chưa tới hai mươi tuổi, bị một viên đạn của quân địch đục một lỗ ở trán rồi chui vào đầu từ lúc nào không hay biết, khiến anh bất tỉnh. Những chiến sĩ cứu thương đưa anh về tuyến sau, nghĩ là anh đã chết, liền đưa anh tới một nhà dân nhờ mai táng. Nhưng đúng lúc gia chủ đào huyệt cho anh thì anh tỉnh lại…
Xem chi tiết
Mỗi khi mùa hạ tới, tôi lại nhớ đến nhà thơ Henric Hainơ với bài thơ Trong tháng năm kỳ diệu: Trong tháng năm kỳ diệu / Khi mầm cây nẩy ra /Trong tim tôi cảm thấy / Tình yêu bỗng nở hoa. / Trong tháng năm kỳ diệu / Run rẩy tiếng chim ca / Với bạn tình tôi gửi / Những nỗi niềm thiết tha.Không phải ngẫu nhiên mà với nhà thơ Henric Hainơ mùa hạ lại kỳ diệu như vậy và cũng như vậy, tôi thấy mùa hạ thật kỳ diệu bởi mùa hạ đó, tôi đã gặp em…
Xem chi tiết
Tôi bắt đầu viết báo từ thời còn là sinh viên nhưng chỉ là nổi hứng thì viết và chỉ mới biết báo chí ở sản phẩm “giấy trắng mực đen” chứ chưa biết gì về nghề báo, tức để có tờ báo “giấy trắng mực đen” đó, người ta đã phải làm những gì, tức qui trình làm báo từ A tới Z. Từ khi về “làm việc” ở Viện Văn học, tôi đọc báo nhiều hơn và cũng tích cực viết báo hơn bởi đã có ý thức hơn về nhuận bút, một khoản thu nhập không nhỏ đối với đồng lương “khổ hạnh” của đời “ăn lương” Nhà nước, mặc dù nhuận bút cũng “mỏng manh” như tờ giấy báo mà thôi
Xem chi tiết
Xuân Đào cắt thịt

Chuyện xưa có nàng Xuân Đào hiếu thảo, nhà nghèo, mẹ già lại ốm đau mà không có tiền mua thịt cho mẹ ăn, liền cắt thịt trên cánh tay nấu cháo cho mẹ ăn.

Xem chi tiết
1. Pha trộn thể loại

Có một nhà văn chuyên viết văn xuôi và một nhà thơ chuyên viết thơ tự do, cùng nhau đi thực tế cơ sở ở một làng quê vùng sâu vùng xa. Cảnh vật ở đây sơn thủy hữu tình rất ngoạn mục, tràn đầy cảm hứng sáng tạo. Nhưng con người ở đây thì thưa vắng như lá mùa thu, hai nhà văn-thơ kia tìm mỏi mắt cũng chỉ thấy có một cô thôn nữ tạm “sạch nước cản” có thể làm “chất xúc tác” cho cảm hứng sáng tạo, tức làm người tình trong quá trình “thai nghén” tác phẩm, tức cả nhà văn và nhà thơ cùng sở hữu chung một người tình.
Xem chi tiết
BA LẦN THOÁT HIỂM
Năm 1961, tôi học lớp Năm ở trường Phổ thông cấp 2-3 Lương Ngọc Quyến, thị xã Thái Nguyên, nay là Thành phố Thái Nguyên. Tính đến nay (năm 2011) là đã chẵn 50 năm. Số bạn học cùng tôi ở lớp Năm hồi đó, suốt 50 năm qua tôi chưa hề gặp lại người nào. Những tưởng đó chỉ còn là ký ức xa mờ thì thật diệu kỳ, trong dịp lễ kỷ niệm 30-4 và 1-5 vừa rồi, tôi đã bất ngờ gặp lại không chỉ một mà tới ba người bạn học cùng lớp Năm từ hồi năm 1961 đó. Có cuộc hội ngộ không tiền khoáng hậu này bởi mấy người bạn học của tôi đã đứng ra tổ chức một buổi họp lớp “Bạn học thời cởi truồng”. Xem chi tiết
Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội 2010 đã trao giải “Thành tựu trọn đời về Thơ” cho Tuyển thơ Gió và Tình yêu thổi trên đất nước tôi (NXB Hội Nhà văn và Nhã Nam hợp tác xuất bản, H.2010) của cố thi sĩ Lưu Quang Vũ (1948-1988). Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi (2010) với hơn 100 thi phẩm có thể xem như tuyển tập thơ Lưu Quang Vũ đầy đủ, công phu và kỹ lưỡng nhất cho đến thời điểm này. Tuyển tập thơ sẽ đem lại cho độc giả hình dung khá toàn diện về hành trình thơ Lưu Quang Vũ, nơi mỗi chặng đường đều in dấu những suy nghĩ, xúc cảm sâu đậm của tác giả và ghi dấu nhiều biến động của lịch sử, xã hội trong những thập niên cuối của thế kỷ 20.
Xem chi tiết
Chuyển đến trang [trước]  1, 2, 3  [sau]

Tin tức > Đỗ Ngọc Thach - trong nước
Vài nét về tác giả: Nhà văn Đỗ Ngọc Thạch sinh ngày: 19 -5 - 1948. Quê: Phú Thọ. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội 1976 . Đã kinh qua: Bộ đội Rađa, Giáo viên, Cán bộ nghiên cứu Viện Văn học, Biên tập viên Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, Báo Lao động Xã hội, Phụ trách Ban Biên tập Tạp chí Văn Nghệ GiaLai - Kon Tum, v.v... Viết nhiều thể loại: Phê bình Tiểu luận, Truyện ngắn, Thơ. Sách đã in: Quà tặng tuổi Hai mươi (Tập truyện ngắn - NXB Công an Nhân dân: Bản in năm 1994 gồm 8 truyện; Bản in năm 2005 gồm 26 truyện). Hiện sống tại TP.HCM. NBĐ đã đăng một số truyên của tác giả như: Bạn học lớp hai, Lấy vợ xấu. Xin giới thiệu với bạn đọc thêm một truyện khác của nhà văn: Giá một cái hôn. Xem chi tiết
Chuyển đến trang [trước]  1, 2, 3

nguồn: nguoibanduong.net