Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2011

PB&TL của Đ.N.T trên vanvn.net và trieuxuan.info

PB&TL của Đỗ Ngọc Thạch trên vanvn.net, trieuxuan.info...- Đ.N.T

PB&TL của ĐỖ NGỌC THẠCH trên vanvn.net, trieuxuan.info...

  • Nhà báo Đỗ Ngọc Thạch

ĐỖ NGỌC THẠCH (TP.HCM-1993)

Xem hình

Đỗ Ngọc Thạch (TP. HCM-2010)

  1. phê bình, tiểu luận của Đ.N.T trên vanvn.net, trieuxuan.info ...

    25 Tháng 2 2010 – Truyện ngắn - Đặc trưng thể loại Đỗ Ngọc Thạch (3/4/2009 10:17:20 AM) . ... Net (PB ) · 5 bài Tiểu luận, PB trên VanVn.Net (Phiên bản cũ) ...

Đọc nhiều nhất
Đỗ Ngọc Thạch
GS Đỗ Đức Hiểu và tác phẩm Đổi mới phê bình văn học
Đỗ Ngọc Thạch
Một cơ chế đặc thù của văn hóa


Đỗ Ngọc Thạch
Kịch nói và cuộc sống hôm nay
Đỗ Ngọc Thạch
Đọc Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng
Đỗ Quyên
Đỗ Ngọc Thạch và lối viết hiện thực huyền ảo Việt tính


Đọc nhiều nhất
Đỗ Ngọc Thạch
Đọc tác phẩm: Đến hiện đại từ truyền thống
Đỗ Ngọc Thạch
Những trang web Văn học - Cầu nối tuyệt vời của Nhà văn - Tác phẩm và Bạn đọc

    1. Vũ Bằng và nghệ thuật viết chân dung văn học

      Đỗ Ngọc Thạch. Thứ sáu, 27 Tháng 3 2009 21:09. Nhà văn, nhà báo Vũ Bằng sinh năm 1914, mất năm 1984, năm nay là 95 năm ngày sinh và 25 năm ngày mất của ông. ...
      vanchinh.net/index.php?... - Đã lưu trong bộ nhớ cache - Tương tự
  1. Đỗ Văn Sĩ


    Thơ về vợ của Nguyễn Duy
    Đỗ Ngọc Thạch
    (3/6/2009 7:07:15 PM)
                                 
    Khi trong túi có mấy đồng ngọ nguậy
    Ta chạy rông như gì nhỉ - quên đời
     Lúc xơ xác bờm xơm từng sợi tóc
     Đói lả mò về
                           Cơm đâu
                                         Vợ ơi…


Vũ Bằng và nghệ thuật viết chân dung văn học
Đỗ Ngọc Thạch
(3/27/2009 8:50:45 PM) Nhà văn, nhà báo Vũ Bằng sinh năm 1914, mất năm 1984, năm nay là 95 năm ngày sinh và 25 năm ngày mất của ông. Vũ Bằng là một mẫu nhà văn – nhà báo khá điển hình và độc đáo của làng văn, làng báo Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ hai mươi.

Bản sắc văn hoá của con người Việt Nam trong bản sắc văn hoá Việt Nam
Đỗ Ngọc Thạch
(2/25/2009 12:25:20 PM)


Truyện ngắn - Đặc trưng thể loại
Đỗ Ngọc Thạch
(3/4/2009 10:17:20 AM)
           “Thể loại  sống bằng hiện tại , nhưng luôn nhớ quá khứ của mình, khởi thủy của mình” (M.B.)
Home / Nghề văn
Truyện ngắn - Đặc trưng thể loại
Đỗ Ngọc Thạch ( 3/4/2009 10:17:20 AM )
Đặc trưng  của từng thể loại  và mối quan hệ giữa các thể loại trong tiến trình phát triển của văn học là những vấn đề cơ bản của lý luận văn học. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin đề cập đến thể loại truyện ngắn, một thể loại văn học được coi là  “xung kích” của đời sống văn học, một thể loại có tính chất “thuốc thử” đối với  hầu hết nhà văn trên con đường sáng tạo nghệ thuật đầy cam go…Do đây chưa phải là một chuyên luận “bài bản” nên những trích dẫn không đánh số chi tiết (tránh cho bài viết “cồng kềnh”, nặng nề) mà chỉ xin nêu ra một số sách tham khảo chính như : “Cá tính sáng tạo và sự phát triển của văn học” (M.B.Khrapchenco), “Những vấn đề thi pháp của Đoxtoiepxki” (M. Bakhơtin), “Những vấn đề lý luận trong kịch hiện thực” (M.Gorbunova), “Cấu tứ trong thơ trữ tình” (G.Bese), “Lao động nhà văn” (A. Xaytlin), “Bông hồng vàng” (K.Pauxtopxki), “Đaghextan của tôi” (R.Gamzatop), “Sổ tay truyện ngắn” (Vương trí Nhàn), “Những vấn đề lý luận và lich sử văn học” (Viện Văn học), v.v …
       * * *
   Khi nghiên cứu sự phát triển của những thể loại trong những thời kỳ lịch sử khác nhau, M.B. Khrapchenco đã phát triển luận điểm của V.Bielinxki “…nếu như có những tư tưởng của thời đại thì cũng có những hình thức của thời đại”, ông lưu ý rằng, khi quan sát sự bộc lộ mối liên hệ với thời đại, với hiện thực lịch sử của sự phát triển của những thể loại, chúng ta phải thấy rằng sự phát triển các thể loại trong những thời kỳ lịch sử nhất định nằm trong mối tương quan nhất định với sự phát triển những khuynh hướng nghệ thuật, và cũng phải chú ý đến sự không đồng đều độc đáo của quá trình phát triển nghệ thuật, nghĩa là trong khi một số thể loại này sống không lấy gì làm lâu thì những thể loại khác, tuy có sự biến đổi cơ bản, lại chứa đựng nội dung xung đột của những thời đại khác nhau.
     Truyện ngắn, một thể loại mà nếu nhìn  thuần túy hình thức bên ngoài thì dường như nó  không thay đổi, nhưng nếu nghĩ rằng  nó phải  chứa đựng  nội dung xung đột của những thời đại khác nhau thì ắt  nó sẽ có biến đổi gì đây ? Rõ ràng, cái biến đổi cơ bản vừa nói trên  đối với thể loại truyện ngắn, nó thuộc về cấu trúc nội tại của thể loại này. Điều này phù hợp với luận điểm khá thịnh hành hiện nay : về phương diện lịch sử, thể loại là một cấu trúc biến đổi. Vậy thì ta hãy xem cái biến đổi ấy nó tuân thủ nguyên tắc nào để nó đủ sức chứa đựng được những tư tưởng mới của thời đại mới.
     Theo tôi nghĩ, trong lịch sử phát triển của thể loại, bên cạnh việc xuất hiện những loại hình, thể loại mới, khái niệm đổi mới sáng tạo của nghệ thuật bao hàm sự đạt tới một cách hoàn mỹ của một loại hình, thể loại nào đó. Nói cách khác, mỗi loại hình, thể loại luôn vận động để tự làm giàu mình đồng thời tác động qua lại lẫn nhau để đạt tới sự hoàn mỹ cao hơn – trở thành những “khuôn vàng thước ngọc” của nghệ thuật.
     Mỗi loại hình, thể loại cần có tên gọi, khuôn mặt của nó. Với truyện ngắn, ý kiến sau của Ga-ra-nốp thật đáng chú ý : “ Đối với truyện ngắn hay, có một vấn đề đặc biệt quan trọng, đó là bảo vệ cho được tính xác định về mặt  thể loại. Truyện ngắn cần phải cô đọng đến  mức cao nhất. Vấn đề số một đối với nó là vấn đề dung lượng (xin đừng lẫn với sự ngắn gọn bên ngoài)”.
     Nhà văn có tài, có phẩm chất sáng tạo chính là người chấp nhận tự nguyện và thoải mái những nguyên tắc sắt đá của thể loại. Trong quá trình chấp nhận lề luật đó, chính là anh ta đã làm cho những nguyên tắc sắt đá đó trở nên hoàn mỹ. Thể loại càng đẹp, càng tinh xảo, tư tưởng càng sâu sắc, càng lớn lao.
    Khi cầm bút, vấn đề viết cái gì đây dần dần sẽ được chuyển thành vấn đề lựa chọn thể loại nào ? Sẽ không thể viết nổi  nếu không nắm vững nguyên tắc của thể loại và điều đó không chỉ là vấn đề nghề nghiệp đơn thuần mà còn là một yếu tố quan trọng để cùng với tư tưởng  tình cảm hình thành nên cảm hứng sáng tạo, hình thành nên “tia chớp” cảm hứng để nhà văn cất cánh bay vào bầu trời sáng tạo nghệ thuật.
    Chọn thể loại cho phù hợp với ý đồ tư tưởng là khâu đầu tiên đặc biệt quan trọng của quá trình sáng tạo. Với ý nghĩa này , bản thân thể loại – hình thức , đã thể hiện sự đòi hỏi phải phù hợp với chủ đề tư tưởng – nội dung. Luận điểm về mối quan hệ hữu cơ giữa hình thức và nội dung thể hiện rõ ngay ở khâu đầu tiên này. Ý tưởng này được nhà thơ Raxun Gamzatop nói bằng hình ảnh độc đáo và giản dị:  
          “Kẻ  ngu làm kinh ngạc bằng tiếng gào
            Người thông minh làm kinh ngạc bằng câu tục ngữ dẫn ra đúng chỗ.
            Mùa xuân đã đến – hãy hát bài ca
             Mùa đông đã đến – hãy kể chuyện cổ tích “
     Trong lịch sử phát triển lâu dài của nghệ thuật văn chương nhân loại, có rất nhiều ví dụ về những nhà cách tân lớn mà bằng tài năng độc đáo của mình đã đưa thể loại truyện ngắn đến những đỉnh cao rực rỡ của sự hoàn mỹ. Tính cách tân của các thiên tài là làm phong phú, đa dạng thể loại đồng thời tiến tới khẳng định những nguyên tắc cơ bản, những qui định ngặt nghèo và khắt khe của sáng tạo nghệ thuật ở thể loại truyện ngắn.
     K. Pauxtopxki -  nhà cách tân độc đáo, người thầy dạy nghề cỡ lớn đã nói về điều này:”Mỗi nhà văn, kể cả những người muốn viết truyện ngắn một cách hoàn toàn thoải mái, đều không khỏi có lúc phải nghĩ về những nguyên tắc sắt đá, những  “qui luật vàng” được viết trong các sách giáo khoa văn học. Những qui luật đó cố nhiên rất hay. Chúng buộc những ý tưởng còn lờ mờ trong đầu óc nhà văn phải cập bến những ý đồ chính xác và sau đó, nhịp nhàng đi tới những khâu cuối cùng  , tới  sự hoàn thiện của tác phẩm, cũng như con sông mang nước của mình tới  biển”.
     Thông thường, người ta chỉ chú ý đến tính chất tự sự (kể chuyện) của truyện  ngắn, tệ hơn là coi truyện ngắn như một thứ văn xuôi “nôm na mách qué”, hoặc thứ văn xuôi “bò sát ngọn cỏ” !...Đó là một quan niệm sai lầm. Truyện ngắn đích thực không bao giờ là những chuyện vặt vãnh mà mỗi chi tiết dù nhỏ bé cũng ẩn tàng hơi thở của thời đại, nỗi đau, niềm vui của nhân thế… Những cách tân, sáng tạo của các  nhà văn bậc thầy về truyện ngắn đã khẳng định rằng, truyện ngắn, về tạng chất của nó rất gần với thơ, thậm chí có thể nói một  cách không đến nỗi quá đáng rằng, truyện ngắn là một dạng cấu trúc đặc biệt của thơ. Với ý nghĩa ấy, truyện ngắn  có vị trí cao cả đặc biệt ở ngay cả trong “bầu trời Thi ca” mà lâu nay thơ ca độc tôn ! Về điều này, cũng K.Pauxtopxki có ý kiến tuyệt hay :”…Cái chính là ở chỗ khi văn xuôi đã đạt tới mức hoàn thiện toàn mỹ thì về bản chất nó đã thật sự là thơ!”. Và chính những truyện ngắn của K.Pauxtopxki là sự chứng minh rõ ràng ý tưởng đó : được cảm hứng trữ tình sâu lắng dẫn dắt, những câu truyện rất giản dị mà Pauxtopxki kể ra đã mất đi cái chất nôm na ngày thường của nó mà lấp lánh cái cấu trúc kỳ ảo của những tứ thơ thể hiện những nỗi niềm ưu tư, trắc ẩn về số phận con người, thời đại…
     Cần lưu ý rằng, cái nghĩa Thơ  được nói đến ở đây phải được hiểu là chất trữ tình sâu lắng của những trạng huống, của những tâm trạng nhân vật trong truyện ngắn (chứ không phải là những sự uốn éo  cầu kỳ trong câu văn, sự lòe loẹt trong tả cảnh…), là sự cao đẹp của tư tưởng thẩm mỹ khả dĩ có sức mạnh chắp cánh mà nâng cao tâm hồn người đọc thoát khỏi những sự níu kéo của cái “trần tục” ở đời thường đặng vươn tới những ý tưởng đầy nhân văn và sáng tạo. Với ý nghĩa ấy, chất thơ  của truyện ngắn chính là cái tâm trong sáng mà đầy nặng sự ưu thời mẫn thế của nhà văn.
     Như vậy, khi đạt tới đỉnh cao sáng tạo, thơ và truyện ngắn đã gặp nhau hòa thành đám mây ngũ sắc kỳ diệu ! Đây chính là đầu mối để ta lần tìm về đặc trưng loại biệt của thể loại truyện ngắn. Bởi vì, chỉ có đứng ở nơi hội tụ của sáng tạo nghệ thuật này, ta mới nhìn rõ những nguyên tắc sắt đá, những qui luật vàng của thể loại truyện ngắn !
    Ta hãy  trở lại  câu hỏi  “Truyện ngắn là gì ?”.  Như trên vừa nói thì có phải chăng truyện ngắn là thơ, một dạng thơ đặc biệt -  thơ văn xuôi ? Đó cũng là một ý, song chưa vội, hãy trở lại với cái tên gọi của nó : Truyện ngắn !
     Tên gọi truyện ngắn đã thể hiện khá rõ diện mạo của nó : truyện ngắn thì phải là  truyện… ngắn  !  Không cần phải dùng lối chiết tự hoặc tìm tra cái ngữ nghĩa xa xưa của thuật ngữ “truyện ngắn” như nhiều người  đã làm, mà ta hãy cứ nhìn vào phương thức tồn tại và cái hình hài ngắn gọn đến ngạc nhiên của những  truyện ngắn kiểu mẫu của các bậc thầy, sẽ có ngay được ý niệm cơ bản khá chính xác về truyện ngắn : đó là một kỳ quan nghệ thuật bé nhỏ nhưng có sức chấn động phi thường !
      Một số người dựa vào chính cách tồn tại của truyện ngắn để giải thích những đặc điểm của thể loại . Đây là một hướng tiếp cận tốt. Bởi vì từ khi ra đời cho đến nay (truyện ngắn hình thành gắn liền với sự ra đời của báo chí), truyện ngắn ngày càng khẳng định rõ chức năng  của  nó  ở cả hai phương diện báo chí  và văn chương . Môi trường sống của truyện ngắn là báo chí, nhưng tính chất của nó  là một tác phẩm văn chương . Báo chí qui định cho truyện ngắn  một hình thức – khuôn khổ ngắn gọn . Tính chất văn chương đòi hỏi truyện ngắn phải đạt tới một tác phẩm nghệ thuật có cấu trúc hoàn chỉnh – một chỉnh thể thẩm mỹ. Những truyện ngắn nào còn nặng về tính chất ghi chép, phóng sự và sức khái quát yếu  là do chưa thoát ra khỏi vòng cương tỏa của cái môi trường báo chí. Cũng là cái hạt mầm được gieo trên mảnh đất báo chí” ấy , nhưng truyện ngắn phải phát triển thành một loài cây đặc biệt, khác hẳn  với những  “vườn cây báo chí”, nó phải vươn tới tầm cao của sự sáng tạo nghệ thuật để tạo nên một thế giới khác : thế giới nghệ thuật văn chương .
      Truyện ngắn của chúng ta ít tính chất văn chương, nặng tính chất thời sự báo chí vì người viết bị gò ép quá nhiều về tính chất  “có định hướng” của tờ báo, vào những chủ đề, đề tài mà tờ báo đó phải  “bám sát”. Song, chủ yếu là do tài năng của người viết, chưa từ cái “khung cửa nhỏ” của đề tài mà nhìn bao quát được cả đại dương – mở rộng khả năng ôm trùm hiện thực, khả năng khái quát của thể loại truyện ngắn.Việc so sánh truyện ngắn với tiểu thuyết dưới đây sẽ làm rõ ý này .
     Như trên đã nói, vấn đề đặc biệt quan trọng là bảo vệ cho được tính xác định về mặt thể loại của truyện ngắn . Và tính xác định đó chính là sự đòi hỏi truyện ngắn phải cô động đến mức cao nhất. Điều này cũng được X. Antônốp đặc biệt nhấn mạnh : “ Trước mắt nhà văn viết truyện ngắn  là vấn đề rất phức tạp. Mọi câu chuyện càng phức tạp hơn, bởi lẽ truyện ngắn phải …ngắn !...Chính việc truyện ngắn phải ngắn khiến nó tự phân biệt một cách dứt khoát và rành rọt bên cạnh  truyện vừa và tiểu thuyết”. 
     Không ai máy móc qui định truyện ngắn phải bao nhiêu chữ, nhưng khuôn khổ báo chí đã hình thành nên một  diện mạo tương đối định hình đối với truyện ngắn : từ ba đến năm ngàn chữ. Điều cần chú ý ở đây là: cái  vỏ hình thức bên ngoài khá định hình của thể loại truyện ngắn đã buộc nó phải tạo nên sự biến đổi của  cấu trúc nội tại, đó là sự vận động phát triển đi từ cái cá biệt đến cái chung, từ cụ thể hóa đến khái quát hóa, tức là quá trình điển hình hóa của nghệ thuật văn chương. Đó chính là sự cách tân, đổi mới, sáng tạo của thể loại truyện ngắn. Sự khác biệt của truyện ngắn đối với truyện dài, tiểu thuyết không phải chỉ ở độ dài ngắn. Có người chú  ý đến phẩm chất đặc biệt của truyện ngắn do môi trường báo chí đòi hỏi, đó là yếu tố mới lạ. Song, cần lưu ý rằng, yếu tố mới lạ đó không phải là tính thời sự “sát sạt”, càng không phải là “chuyện lạ đó đây” của môi trường báo chí. Yếu tố mới lạ của truyện ngắn là phải tạo nên được sự cuốn hút đối với người đọc vào những sự kiện đang diễn ra một cách đầy biến động của cả đời thường và những chuyện lớn lao của thời đại. Điều cần nhấn mạnh là, yếu tố mới lạ đó là sự xâu chuỗi cái đời thường và những cái lớn lao thành một cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh đặc biệt ngắn gọn, cô đọng của truyện ngắn khiến cho cái cụ thể và cái trừu tượng, cái cá biệt và cái điển hình ở truyện ngắn khác hẳn tiểu thuyết: nó hòa vào nhau và dường như là một để tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ ở người đọc – đọc liền một  mạch. Chính ở cách đọc truyện  ngắn này, một lần nữa cho ta thấy cái phẩm chất gắn bó với thơ của nó: mạch cảm hứng không đứt đoạn và truyện ngắn nào hay là những truyện ngắn cấu trúc  theo một cái tứ độc đáo như của tứ thơ vậy !...
     X.Antonop đã nói về điều này như sau: ”Bởi truyện ngắn chỉ đọc liền trong ít phút nên ở đây rất cần tới sự nguyên vẹn của cấu trúc, sự thống nhất của phong cách. Một vài câu không đâu, thậm chí vài trang tiểu thuyết có thể bỏ qua, nhưng ở truyện ngắn, người ta không được phép. Cần phải nhớ rằng, một trong những đặc điểm cốt yếu của truyện ngắn là nhạy bén trước những gì thay đổi của đời sống…Một trong những lý do để nhiều thế kỷ qua, truyện ngắn trở thành một trong những thể loại có ý nghĩa phổ cập nhất: đó là sự kết hợp giữa yếu tố năng động, khả năng nhạy bén với một cái nhìn rất mới đối với cuộc sống”
     Ngắn ở truyện ngắn đồng nghĩa với cô đọng, tinh chất – nhìn vào đó có thể thấy cuộc  sống hiện ra với đủ sắc màu của nó. Sự thách đố ở đây là ai viết được ngắn gọn nhất ! Lep Tonxtoi nói:”Tôi không có thời gian để viết ngắn!”. Còn A. Tsekhop nói:”Để có một truyện ngắn tốt, trong truyện đó, không có cái gì được thừa, cũng y như trên boong tàu quân sự, ở đó tất cả đâu vào đấy, không có gì được thừa, truyện ngắn cũng vậy. Nghệ thuật viết, nói cho đúng ra, không phải ở chỗ viết như thế nào, mà là nghệ thuật vứt bỏ đi những gì dở kém như thế nào”…
      Và A.Tsekhop đã rất trung thành với những nguyên tắc đó của nghệ thuật viết truyện ngắn. Ông cố gắng viết thật ngắn, nhưng truyện của ông nồng ấm hơi thở đời sống, bao quát những vấn đề cơ bản của xã hội và vang lên âm hưởng sử thi quyến rũ. Sự sáng tạo của A.Tsekhop khiến ta ngạc nghiên chính là kết cấu chặt chẽ, ngắn gọn và có vẻ đẹp thanh tú, giản dị đến tuyệt vời. Đó là sự ngắn gọn, giản dị của thiên tài. Tomat Man  nói: ”Sự ngắn gọn của Tsekhop là sự ngắn gọn tráng lệ”. Còn Trifnov nói:”Truyện ngắn của Tsekhop (những truyện ngắn hay nhất) chính là những tiểu thuyết được tài năng ghê gớm của ông cô gọn lại”. Và , từ những truyện ngắn  mẫu mực của Tsekhop, Trifnov đã đi đến  khẳng định đặc trưng của thể loại truyện ngắn: Về khả năng bao quát cuộc sống, truyện ngắn và tiểu thuyết bình đẳng với nhau… Một anh hùng ca dày dặn và một truyện ngắn bốn, năm trang có thể xếp vào cùng một diễn đàn”. Ý kiến này dường như có vẻ cao hứng và cường điệu. Song, với bàn tay sáng tạo kỳ diệu của thiên tài, sức mạnh của thể loại là không có giới hạn !
   Đến đây, có thể nói, truyện ngắn vừa là dạng thức đặc biệt của THƠ, vừa là TIỂU THUYẾT được cô gọn lại – dạng thức độc đáo của tiểu thuyết.Với ý nghĩa này, nếu nói truyện ngắn là thể loại văn học khó nhất là hoàn toàn có cơ sở. Ở truyện ngắn, mỗi câu chữ, mỗi dấu chấm phảy đều phải được chọn lọc tới mức tinh xảo, hoàn mỹ. Ngôn ngữ của truyện ngắn  phải là thứ ngôn ngữ kim cương tuân theo những  “Quy luật vàng” khắc nghiệt ! Cho nên ta sẽ dễ dàng tìm thấy không ít những ý kiến về đặc trưng của thể loại truyện ngắn gần với  quan niệm trên. Chẳng hạn như: ”Trong các thể loại văn chương, truyện ngắn đóng vai trò hổ báo trong đại gia đình các loài vật. Ở loài thú dữ này, không được có chút mỡ thừa dính vào mọi cơ bắp, nếu không chúng không thể săn mồi được. Ngắn gọn là qui luật của việc cấu tạo truyện ngắn. Nhờ có khả năng phản ánh  hành động một cách ngắn gọn, truyện  ngắn có khi còn có thể đạt tới trình độ anh hùng ca và đó là cả một bí mật của nó” (Hoan Bốtsơ), “Truyện ngắn là một thứ giọt nước mà không có nó không thể có đại dương . Theo tôi hiểu toàn bộ truyện ngắn là một tấm thảm lớn lao về cả thời đại. Với những mảnh tưởng như rất nhỏ bé, nó góp phần tạo nên cả tấm chân dung hoàn chỉnh. Truyện ngắn giống như tranh khắc gỗ, lao động nghệ thuật ở đây đòi hỏi chặt chẽ, cô đọng, các phương tiện phải được tính toán một cách tinh tế, nét vẽ phải chính xác. Đây là một công việc vô cùng tinh tế. Xoay xỏa trên một mảnh đất chật hẹp, chính đó là chỗ làm cho truyện ngắn phân biệt với các thể loại khác” (Ts.  Aitmatốp), v.v…
      A. Tônxtôi  nhận định : truyện ngắn là một trong những thể tài văn học khó nhất. Về nội dung cũng như về tư tưởng , nó không khác gì tiểu thuyết…chỉ có điều do ngắn nên khó hơn…Truyện ngắn đòi hỏi một công phu lao động lớn. Đây là chỗ đánh dấu trình độ nghệ thuật một nền văn học”, để thấy rằng vấn đề đã trở nên trầm trọng, chứ không phải “chuyện như đùa”  nữa . Từ ngày có cuốn  “Những người thích đùa”  của Azít  Nêxin, dường như làng văn của chúng ta thiếu đi tính thận trọng, nghiêm túc cần thiết . Người sáng tác viết như đùa nhà phê bình cũng  viết như đùa mà quên đi rằng “cơm áo không đùa  với khách văn”  !  Muốn đùa phải cao tay lắm ! …
    * * *
    Nhà thơ Đức Bese có nói rất hay rằng  : “Khi nào bầu trời thơ  ca rạng rỡ nhất ? Sau cơn giông , sau xung đột” . Câu này được viết trong chuyên luận “Cấu tứ trong thơ trữ tình” .Như thế có thể nói rằng, xung đột không chỉ là đặc trưng loại biệt của KỊCH mà cả THƠ và VĂN XUÔI đều có dự phần. Cũng như vậy, chất trữ tình bay bổng không chỉ là thuộc tính đặc trưng của THƠ mà cả KỊCH và VĂN XUÔI đều không thể thiếu. Sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau giữa các  thể loại văn học không chỉ làm cho thể loại trở nên phong phú, đa dạng mà còn ngày càng khẳng định những đặc trưng có tính loại biệt của các thể loại. “Thể loại sống bằng hiện tại, nhưng luôn nhớ quá khứ của mình, khởi thủy của mình” (M.Bakhơtin) – liệu còn cách nói nào hay hơn nữa ?
Hà nội, 1985 – TP.HCM, 2009
Đỗ Ngọc Thạch
Đã viết lại bài này, xem: TRUYỆN NGẮN - ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
Đã viết lại bài này, xem: TRUYỆN NGẮN - ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
Biển Côn Đảo trong xanh đến quyến rũ


Lý luận phê bình văn học
15.04.2009
Đỗ Ngọc Thạch
Một cơ chế đặc thù của văn hóa
   Tất cả những biểu hiện của hoạt động thẩm mỹ của con người mà chúng ta quen nói nôm na là “đời sống văn hóa- văn nghệ”  được bộ môn lý luận văn hóa  xác định trong một cấu trúc tổng thể theo một hệ thống với khái niệm văn hóa nghệ thuật – là một hệ thống, một thể thống nhất khép kín. Trong  hệ thống văn hóa nghệ thuật đó, có nhiều hệ thống phụ, hệ thống con, thể hiện cơ chế hoạt động của những lĩnh vực khác nhau của đời sống thẩm mỹ. Một trong những hệ thống phụ đó của văn hóa nghệ thuật là bộ môn phê bình nghệ thuật.
 Các hệ thống phụ trong cấu trúc của văn hóa nghệ thuật đều vận hành theo những quy luật đặc thù, có cơ chế hoạt  động riêng nhưng đều có mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau. Nếu chỉ nhìn vào qui luật đặc thù thì dễ dẫn đến những quan niệm cực đoan, phiến diện. Nếu bị những biểu hiện của mối quan hệ qua lại chồng chéo che lấp thì sẽ không nhìn rõ đặc trưng loại biệt của từng đối tượng quan sát. Vì thế, dưới đây chúng ta sẽ quan sát cơ chế hoạt động của một quá trình hoạt động nghệ thuật, trong đó sẽ làm nổi rõ bộ môn phê bình nảy sinh từ đâu, nó có chức năng gì, tác động như thế nào vào quá trình này?
    1.   Hình thái đầu tiên, công đoạn đầu tiên của một quá trình hoạt đông nghệ thuật là sản xuất nghệ thuật (theo chữ dùng của C.Mac). Trong cơ chế sản xuất nghệ thuật hiện đại , bên cạnh “nhân vật chính” là nhà sáng tác còn có một “công cụ sản xuất” rất quan trọng là nhà biên tập. Nhiệm vụ lớn nhất của họ là thẩm định, đánh giá trước nhất tác phẩm nghệ thuật, giúp nhà sáng tác hoàn chỉnh tác phẩm  trước khi nó được ra mắt công chúng với tư cách là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Trước đây, người ta ít chú ý đến bàn tay của nhà biên tập, dấu ấn lao động nghệ thuật của họ trong việc cho ra đời một tác phẩm nghệ thuật. Phải nói rằng quá trình làm việc giữa nhà biên tập và nhà sáng tác diễn ra khá công phu và  đó chính là một biểu hiện của hoạt động phê bình nghệ thuật. Hoạt động phê bình ở “khâu yếu” này như thế nào, đến nay vẫn còn là “chuyện hậu trường”,chưa được chú ý nghiên cứu. Tuy vậy, cũng có thể nhận xét sơ bộ rằng, hoạt động phê bình đã có nhu cầu nảy sinh, nhu cầu tồn tại ngay từ khi tác phẩm nghệ thuật chuẩn bị ra đời, thậm chí nó còn thai nghén trong ý đồ sáng tác của nhà sáng tác. ở khía cạnh khác có thể nói, đây chính  là cơ sở nảy sinh của kiểu phê bình tình cảm -  cá tính sáng tạo, chủ yếu dựa vào công việc bếp núc của nhà sáng tác mà nhà phê bình (hình thành từ trong đội ngũ nhà biên tập) nắm bắt tường tận. Những nhà phê bình này thiên về lý giải, phân tích tác phẩm trong quá trình “mang nặng đẻ đau” của nhà sáng tác, chú ý nhiều đến cuộc đời của nhà sáng tác và cố tìm mối quan hệ giữa tác phẩm và chính cuộc đời của nhà sáng tác. Kiểu phê bình này thường là tạo ra được những chân dung sinh động về nhà sáng tác hơn là sự “mổ xẻ” lạnh lùng  và khách quan tác phẩm của nhà sáng tác.
   2. Tác phẩm nghệ thuật ra đời, nó tồn tại trong đời sống thẩm mỹ với tư cách là một vật thể mang giá trị nghệ thuật. Giá trị này được quyết định bởi  nội dung tinh thần của nó và   phẩm chất của hình thức mang giá trị đó. Đồng thời nó cũng được qui định bởi tính chất của những nhu cầu xã hội và bởi  mức độ đáp ứng của tác phẩm đối với những nhu cầu ấy. Nói cách khác, giá trị nghệ thuật này tùy thuộc vào lý tưởng thẩm mỹ của thời đại (hệ tư tưởng chính thống của hoàn cảnh lịch sử - xã hội mà tác phẩm nghệ thuật ra đời). Vì thế, nó mang tính cụ thể - lịch sử và đương nhiên biến đổi theo biến động lịch sử - xã hội. Thước đo giá trị của tác phẩm nghệ thuật này nằm trong lý tưởng thẩm mỹ của thời đại. Thước đo này là “công cụ thẩm mỹ” đặc biệt nhằm đánh giá giá trị tác phẩm nghệ thuật. Như vậy là, từ trong bản thân tính chất của tác phẩm nghệ thuật đã nảy sinh nhu cầu tất yếu đánh giá giá trị tác phẩm nghệ thuật: đó là hoạt động  phê bình nghệ thuật. Như thế, nhà phê bình nghệ thuật chính là “công cụ thẩm mỹ” đặc biệt để một lần nữa xác định giá trị tác phẩm nghệ thuật khi nó tồn tại trong đời sống thẩm mỹ với tư cách là một vật thể mang giá trị nghệ thuật. Giá trị tự thân của tác phẩm nghệ thuật và sự đánh giá của nhà phê bình có trùng khớp hay không, đó là một công việc lớn cùa phê bình nghệ thuật.
Sự đánh giá này của hoạt động phê bình nghệ thuât mang tính chất tổng  quát và nó thể hiện lý tưởng thẩm mỹ của thời đại, nhà phê bình nhân danh người phát ngôn cho tư tưởng  thẩm mỹ của thời đại. Vì thế người ta thường nói đó là sự đánh giá có tính chất triết học, hoặc triết mỹ. Đây chính là cơ sở nảy sinh kiểu phê bình triết hoc, có từ lâu với cách gọi “Phê bình triết học truyền thống” (hoặc còn gọi phê bình là “mỹ học vận động”) do V.G.Biêlinxki sáng lập ở Nga. Kiểu phê bình này thường nhìn tác phẩm dưới con mắt triết mỹ,chú ý nhiều tới việc  tìm ra sự phù hợp giữa tác phẩm và  thời đại với sự tồn tại của giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mỹ (thực ra không thể tách bạch ra như thế!). Và như trên đã nói, giá trị này tùy thuộc vào lý tưởng thẩm mỹ của thời đại, cho nên nó chỉ chấp nhận những tác phẩm nào “hợp gu”, hợp “khẩu vị” với nó và đương nhiên, nó gạt ra ngoài những tác phẩm nào vượt quá “khuôn phép” mà nó – cái lý tưởng thẩm mỹ của thời đại – ngầm qui ước! Vì thế, khi thời đại có biến đổi, các tác phẩm có sự “đảo lộn” giá trị vì có sự “đảo lộn các thang giá trị”!... 
     Như C. Mác nói  “Tác phẩm nghệ thuật  - và mọi sản phẩm khác cũng thế - đều tạo ra một thứ công chúng sính nghệ thuật  và có khả năng thưởng thức cái đẹp”. (C. Mác: Về văn học và nghệ thuật -  Nxb Sự thật. H.1997 ,tr.96). Công chúng nghệ thuật là nhóm người có trình độ cảm thụ những tác phẩm nghệ thuật. Việc hình thành công chúng nghệ thuật, từ tự phát đến tự giác, từ giáo dục nghệ thuật đến giáo dục thẩm mỹ. ở một nền văn  hóa nghệ thuật phát triển cao, việc giáo dục nghệ thuật cũng như giáo dục thẩm mỹ (giáo dục nghệ thuật là một bộ phận hợp thành của hệ thống giáo dục thẩm mỹ) được chú trọng thì công chúng nghệ thuật càng phát triển, nâng cao. Công chúng ấy có nhạy cảm về nghệ thuật, am hiểu nghệ thuật, tức là có kiến thức về nghệ thuật mới có khả năng thưởng thức nghệ thuật, họ tiếp nhận được giá trị của tác phẩm nghệ thuật. Mà giá trị của tác phẩm nghệ thuật luôn luôn biến đổi và đa nghĩa, lại được “mã hóa” bằng cấu trúc nghệ thuật phức tạp, ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, v.v… Việc tiếp nhận giá trị của tác phẩm nghệ thuật đối với công chúng không dễ dàng gì. Tác phẩm nghệ thuật như là có “lớp vỏ” đặc biệt bao bọc . Vì thế,có thể nói, chính nhu cầu cảm thụ nghệ thuật của công chúng đã làm nảy sinh nhu cầu giáo dục nghệ thuật một cách chủ động cho công chúng, nhu cầu  “giải mã” tác phẩm để cho công chúng tiếp nhận hết giá trị của tác phẩm. Điều này nảy sinh tất yếu bộ môn phê bình nghệ thuật: gồm những nhà phê bình có trình độ, kiến thức nghệ thuật cao làm “phiên dịch”, “môi giới” giữa  công chúng với tác phẩm. Đây cũng chính là cơ sở của kiểu phê bình chủ yếu dựa vào văn bản cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật. Kiểu phê bình này tập trung  vào việc phát hiện những cái “ẩn tàng” , “ẩn ngôn” , “ý tại ngôn ngoại” trong những cấu trúc “ đa tầng”, “đa nghĩa”, “ đa thanh” của tác phẩm nghệ thuật.
 3. Mặt khác, xét ở giác độ tâm lý tiếp nhận, hoạt động cảm thụ của công chúng đồng thời xảy ra với hoạt động đánh giá giá trị tác phẩm. Nói cách khác, đánh giá giá  trị tác phẩm nghệ thuật là một nhu cầu tất yếu của cảm thụ nghệ thuật. Nhu cầu đánh giá này không chỉ dừng lại ở sự phản ứng trực tiếp (bản năng của trạng thái xúc cảm thẩm mỹ) của công chúng nghệ thuật mà lan truyền, tích tụ thành  những “làn sóng dư luận công chúng”. Làn sóng này tồn tại và phát triển trong đời sống thẩm mỹ, đến độ nào đó sẽ nảy sinh thành nhu cầu phát ngôn thành những quan điểm thẩm mỹ. Điều này nảy sinh  tất yếu bộ môn phê bình nghệ thuật mà nhà phê bình là những đại biểu ưu  tú nhất của công chúng nghệ thuật . Việc chọn lọc những người tiếp nhận nghệ thuật có tài năng nhất  (theo cách nói của Xtanixlapxki) - những người vừa có một cảm quan nghệ thuật phát triển, tinh tế, được tôi luyện hẳn hoi lại vừa có khả năng biểu đạt bằng ngôn ngữ các ấn tượng và thể nghiệm nghệ thuật của mình. Những người này sẽ trở thành những nhà phê bình chuyên nghiệp . Chính vì thoát thai từ bộ phận ưu tú nhất của công chúng , những nhà phê bình này bao giờ cũng coi trọng hiệu quả của sự tác động thẩm mỹ của tác phẩm nghệ thuật vào công chúng, coi trọng mối quan hệ giữa tác phẩm và công chúng, đương nhiên không thể không có dấu ấn cá nhân của nhà phê bình. Đây chính là cơ sở của kiểu phê bình xã hội học: tình trạng tiếp nhận tác phẩm của công chúng thu hút sự chú ý của nhà phê bình. “Công chúng là vị quan tòa thông minh nhất” – câu nói nổi tiếng này là chỗ dựa vững chắc cho kiểu  phê bình xã hội học này. Lâu nay, người ta thường dè bỉu kiểu phê bình là “xã hội học dung tục” bởi bộ môn xã hội học nghệ thuật chưa phát triển, nhà phê bình chưa thực sự là đại diện của bộ phận công chúng ưu tú… 
*

        Đến đây, ta có thể hình dung được rằng: trong cơ chế vận hành của một quá trình hoạt động nghệ thuật gồm 3 bộ phận: sáng tạo nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật và cảm thụ nghệ thuật – ba hệ thống phụ của cấu trúc một quá trình hoạt động nghệ thuật – đều có những cơ sở nảy sinh, những nhu cầu tất yếu của sự có mặt của bộ môn phê bình nghệ thuật. Bộ môn phê bình nghệ thuật nảy sinh từ trong quá trình vận hành của ba hệ thống phụ đó và ngay lập tức quay  trở lại tác động vào quá trình vận hành  ấy. Như vậy, có thể nói: Phê bình nghệ thuật là hệ thống phụ thứ tư của hệ thống văn hóa nghệ thuật – một thể thống nhất khép kín.
    Điều cần nhấn mạnh ở đây là: phê bình nghệ thuật là một cơ chế đặc thù của văn hóa, nó là một bộ phận thiết yếu thuộc hệ thống văn hóa nghệ thuật. Nó có chức năng tạo nên cái “bình thông nhau”, cái cầu nối giữa cảm thụ nghệ thuật và sản xuất nghệ thuật, nó giải quyết nhiệm vụ xác định giá trị của tác phẩm nghệ thuật và do đó nó điều chỉnh định hướng tư tưởng và thẩm mỹ của sản xuất nghệ thuật. Đồng thời nó có khả năng tác động trở lại vào bản thân việc cảm thụ nghệ thuật, vào ý thức thẩm mỹ và cảm quan nghệ thuật của công chúng. Điều này qui định tính biện chứng của quan hệ qua lại giữa nhà phê bình và công chúng nghệ thuật.
   Chức  năng vừa nêu của phê bình nghệ thuật, về nguyên tắc nó không thể lẫn lộn với các bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu về nghệ thuật như mỹ học, lý luận nghệ thuật, xã hội học nghệ thuật, v.v…. Các bộ môn khoa học về nghệ thuật này không nảy sinh từ nhu cầu nội tại tất yếu của một quá trình hoạt động nghệ thuật mà chúng chỉ quan sát, nhìn vào nền văn hóa này từ bên ngoài, từ thế giới của các khoa học. Do đó, toàn bộ nền văn hóa nghệ thuật, trong đó có cả phê bình nghệ thuật, đều nằm ở trong tầm bao quát của các bộ môn khoa học về nghệ thuật vừa nêu với cái nhìn khách quan lạnh lùng của tư duy khoa học. Vì mối quan hệ giữa phê bình nghệ thuật và các khoa học nghiên cứu về nghệ thuật có nhiều mối quan hệ mật thiết cho nên lâu nay người ta vẫn xếp phê bình nghệ thuật   vào khu vực các bộ môn khoa học về nghệ thuật như lý luận nghệ thuật, nghiên cứu nghệ thuật, lịch sử nghệ thuật, v.v… Thậm chí người ta đã đặt câu hỏi: “Phê bình là khoa học hay nghệ thuật?”, song sự trả lời tính nước đôi: Phê bình là bộ môn có hai quốc tịch, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật !...đã khiến cho câu chuyện chưa thể có hồi kết !...
*
    Qua việc trình bày cơ sở nảy sinh và chức năng của bộ môn phê bình nghệ thuật nói trên, chúng ta thấy người làm phê bình nghệ thuật phải đồng thời đáp ứng được tất cả những yêu cầu đã nêu với những phẩm chất , trình độ,kiến thức, cảm thụ nghệ thuật, v.v… không thể ở mức bình thường!... Chính vì vậy mà Lưu Hiệp, nhà phê bình trác việt của Trung hoa cổ đại, đã nói về phê bình nghệ thuật rằng: “Tri  âm  thực là khó thay. Cái âm thực là khó biết, người biết thực là khó gặp. Gặp được người tri âm ngàn năm mới có một lần” (Văn tâm điêu long). /.
ĐNT
Tác giả gửi www.trieuxuan.info
Số lần xem: 5740

Xán Đi Sứ - Đỗ Ngọc Thạch

http://khanhhoathuynga.files.wordpress.com/2009/08/tvccbattrang02.jpg?w=117

XÁN  ĐI  SỨ

Truyện ngắn ĐỖ NGỌC THẠCH

Sau khi hoàn thành sứ mệnh “Phò Lê diệt Trịnh”, Nguyễn Huệ kiến diện Vua Lê và các đại thần nhà Lê. Khi xét công tội các quan tướng, Nguyễn Huệ đã hạch tội Trần Công Xán (1) bày mưu cho Chúa Trịnh chống lại quân Tây Sơn. Nghe Huệ nói, các quan đại thần đều tim đập chân run và nghĩ rằng Nguyễn Huệ hạch tội để giết Trần Công Xán. Ai cũng lo cho Xán.
Nhưng Xán vẫn thản nhiên đáp: - Phải, người bày mưu ấy chính là tôi!
Nguyễn Huệ cười nói:-Nếu ngài bày mưu ấy cho Chúa Trịnh là ngài có ba điều không rồi vậy.
Xán hỏi lại Huệ rằng:- Thế nào là ba điều không?
Nguyễn Huệ lại mỉm cười đáp: - Quân Tây Sơn tôi phò vua Lê diệt Trịnh, ngài lại bày mưu cho Trịnh đánh quân phò vua, ấy là bất trung. Quân Trịnh nghe hịch tôn phò của tôi đều nhờ ơn vua quăng gươm giáo mà xin hàng, vả lại họ Trịnh lúc ấy tướng lười, bình kiêu, ngài lại bảo rằng nhử giặc vào sâu rồi đánh một trận là tiêu diệt được, ấy là bất trí. Bày mưu chúa Trịnh đánh vua Lê, nay chúa mất rồi còn mặt mũi nào mà theo về với vua, ấy là bất nghĩa. Bất trung, bất trí, bất nghĩa là ba điều không vậy.
Xán tái mặt nhưng vẫn cãi lại rằng:- Tướng quân truyền hịch phò Lê diệt Trịnh kéo quân đến nước tôi. Trong lúc vàng thau lẫn lộn biết đâu là thật giả, ngộ nhỡ diệt được Trịnh rồi tướng quân không trả nước cho vua thì sao? Vậy tôi bày mưu cho Chúa đánh tướng quân để giữ nước cho vua sao bảo là bất trung? Nay Chúa Trịnh Khải dù đã bị diệt nhưng còn dư đảng là Trịnh Lệ, Trịnh Bồng. Vả lại nay được biết tướng quân thật đã tôn phò tôi mới phò vua mà không theo Trịnh sao bảo là bất nghĩa. Tôi bày việc quân cơ cho Chúa là kế hay, chỉ vì không có tướng tài để đánh một trận là diệt xong địch như nhà Trần thuở trước, sao bảo là tôi bất trí.
Nghe Xán nói xong, Nguyễn Huệ cười lớn rồi hỏi:
- Qua lời biện luận mới rõ ngài là người đại trung, đại nghĩa, đại trí. Tôi xin lỗi vậy. Nhưng tôi hỏi ngài, nay nếu tôi kéo quân về Nam ngay e dư đảng họ Trịnh kéo đến ăn hiếp vua thì ai ra tay dẹp loạn? Bọn kiêu binh quân Trịnh còn đang lẩn trốn ngoài thành thừa dịp này cướp bóc của dân thì lấy ai cứu nguy trăm họ? Nếu ngài có kế hay định yên xã tắc, Huệ tôi lập tức rút binh.
Xán đáp bừa rằng:- Ngài cứ rút quân, người nước tôi tự có kế để giữ lấy nước mình.
Nguyễn Huệ lắc đầu nói:
- Ngài nghi ngờ tôi không thực bụng tôn phò mà nói thế. Nhưng lời ngài là vô căn cứ tôi không thể nghe theo. Tôi ra đây là để phò vua. Vậy việc về hay ở xin để cho Bệ hạ định đoạt.
Lúc này vua Lê Hiển Tông mới bảo rằng:
- Trần Công Xán không được nhiều lời. Nay trước mặt ba quân ta phong Nguyễn Huệ chức Đại Nguyên soái, Phù chính Dực Vận Uy Quốc Công, trao Nguyên soái bảo kiếm tiền trảm hậu tấu. Nguyên soái hãy lại đóng quân giúp trẫm định quốc an dân, lập lại các bộ, sửa sang giềng mối luân thường, chỉnh đốn kỷ cương phép tắc cho dân ngoan biết đến vua hiền, hưởng cuộc đời thái bình thịnh trị. Ấy là nhờ Tiền đế linh thiêng sai Nguyên soái tái tạo cho nhà Lê ta vậy. Chỉ tiếc rằng Thái tử Vỹ không còn sống mà thôi.

Nói xong vua mủi lòng sa nước mắt. Nguyễn Huệ cảm động thưa:

- Xin Bệ hạ an tâm, hạ thần xin hứa sẽ hết lòng phò vua !
Nói rồi từ biệt về dinh phủ. Đọc đường Nguyễn Huệ hỏi Trần Văn Kỷ (2) rằng:
- Tiên sinh nghe Trần Công Xán luận về Trung, Nghĩa, Trí thế nào?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Luận về Trung, Nghĩa thì đúng, nhưng luận về Trí rõ là người bất trí nói càn.
Nguyễn Huệ nói:
- Các quan trong triều vua Lê lúc thiết triều không ai dám hé môi mở miệng. Nghe ta bảo là Trần Công Xán bất trung, bất nghĩa, bất trí thì sợ đà mất mật. Chỉ có Trần Công Xán tuy rằng bất trí nhưng là người trung liệt đáng khen.

Trong khi các quan đại thần ai cũng hãi hùng run sợ trước phong thái oai phong và lý lẽ sắc bén của Nguyễn Huệ, thì riêng Trần Công Xán tiến thoái như thường, không mất phong độ, thể diện của bậc đại thần. Bắc Bình Vương lấy làm lạ, đã mấy lần mời Xán đế hỏi việc Bắc Hà. Hỏi đến đâu Xán đáp đến đó, nói như suối chảy, không có chỗ nào ngập ngừng, ấp úng. Có lúc Bắc Bình Vuông cố ý hỏi vặn, nhưng Xán vẫn lật qua lật lại, tranh cãi nhiều lần, không mảy may chịu sự khuất phục.
Bắc Bình Vương bảo với tả hữu rằng: - Ta nghe Bắc Hà nhiều nhân tài, nay đến tận nơi thì chỉ thấy có Trần Công Xán là có khí sắc con người mà thôi.

*
Lại nói Nguyễn Huệ từ lúc rút quân về Nam, đến Nghệ An, giao cho Nguyễn Duệ giữ đất này, cùng đô đốc là Chiêu Viễn đóng quân ở doanh Hà Trung (thuộc Hà Tĩnh).

Lúc Nguyễn Hữu Chỉnh theo kịp, Nguyễn Huệ vỗ về, an ủi và bảo ở lại Nghệ An làm việc với Duệ. Bề ngoài tuy Huệ hứa hẹn với Chỉnh bằng những lời ngon ngọt, nhưng lại dặn riêng Duệ rằng:  “Chỉnh vốn người Bắc, trốn về với ta. Xem bộ hắn ta là kẻ phản phúc gian dối, không thể tin cậy. Vả chăng người Bắc rất oán hắn. Ta định bỏ hắn, để cho hắn chết. Không ngờ hắn lại trốn chết cố theo. Nghệ An là quê hương của hắn. Nay để nhà ngươi ở lại đây, ngươi nên xem xét kỹ lòng người xứ này, xem theo ai chống ai và tình hình động tĩnh của hắn ra sao. Chiêu Viễn ở gần đấy, gọi một tiếng là đến. Tả quân cũng không xa đây lắm, có việc nên chăng, ngươi phải viết thư báo tin cho mau, và cùng bàn định với ông ta. Sống ở nước ngoài đất khách, ngươi phải để ý đề phòng cẩn thận, chớ có dễ dàng tin theo Chỉnh mà mắc mưu của hắn. Ngươi phải cẩn thận lắm mới được”!

Sau khi Huệ về Nam, Chỉnh liền được chiếu chỉ vua Lê vời đưa quân ra Bắc để “hộ giá”. Lúc đi, Chỉnh để đồ đảng của mình là Nguyễn Duật ở lại làm việc với Duệ. Sau khi Chỉnh nắm được quyền hành ở Thăng Long, thường thường gửi thư qua lại với Duệ và biếu tặng rất hậu. Rồi Chỉnh lại ngầm sai người gọi Duật về kinh thành, để hỏi tình hình Tây Sơn và dò ý tứ của Duệ. Khi đã biết vua Tây Sơn là Nhạc và Huệ gây ra việc binh đao, anh em đánh lẫn nhau, tiếp đó lại được thư của Duệ hẹn cùng chung sức đánh vào phương Nam, thì Chỉnh rất mừng, cho là có thể mưu đồ lấy lại Nghệ An. Chỉnh bèn thu xếp mười lạng vàng và mười tấm đoạn, sai Duật đem vào biếu Duệ, nhân tiện lấy việc lợi hại hoạ phúc mà doạ hắn ta, lại dỗ dành hắn ta giữ lấy Nghệ An, ngãn chặn Chiêu Viễn, đắp lại luỹ cũ Hoành Sơn, và vạch sông Gianh làm nơi biên giới như việc cũ trước đây(*).
Khi biết Chỉnh và Duệ có mưu đồ làm phản, Nhậm lập tức gửi thư cáo biến với Huệ xin kíp phát quân ra Bắc, trước hết giết Duệ ở Nghệ An, rồi sau bắt Chỉnh ở Thăng Long.

Trong lúc ấy, Huệ và vua Tây Sơn Nhạc đang có việc xích mích, cuộc binh đao giữa hai anh em chưa dàn xếp xong, việc nội chiến ở miền Nam so với mối lo ở miền Bắc còn cần kíp hơn nhiều. Bởi vậy Huệ sai người báo cho Nhậm biết, và giục Nhậm tiến quân ra Nghệ An bắt Duệ; rồi sau đó sẽ kiểm điểm quân lính, thu góp lương thực, chia đi đóng đồn ở các nơi hiểm yếu và viết thư hỏi Chỉnh về tội thông mưu với Duệ, xem Chỉnh trả lời ra sao. Nếu Chỉnh còn biết sợ hãi, cố tình chối cãi, thì nên để đó sau này sẽ liệu, chưa nên đánh vội. Bằng Chỉnh ra mặt chống lại, thì như thế là đã có cớ, lúc ấy cứ việc tiến quân ra đánh cũng không muộn gì.

Nhậm vâng lệnh, tự mình đem đại quân đi gấp. Chỉ trong một ngày một đêm. Nhậm đã đến doanh Kỳ hoa nhưng Duệ không còn ở đó nữa mà đã chạy vào Nam với Vua Tây Sơn Nhạc.
*
Nhậm đến Nghệ An, kiểm điểm binh lính, trưng thu lương thực, sửa soạn khí giới, rồi đưa thư ra Thăng Long, trách móc Chỉnh gay gắt.

Chỉnh được thư, giấu giếm không cho vua Lê biết, đoạn viết thư tạ tội, có đoạn nói:

” Tôi đã đem thân mình mà ruổi rong theo vua Tây Sơn thì còn dám tiếc gì? Vì thế, tôi tự mình xông pha tên đạn, quyết chiến với bọn Thạc, Nhưỡng. Chỉ mong trừ được hai tên ngang ngược ấy, thì sẽ lập tức quay ngựa về Nam. Nhưng, tháng trước đây đánh ở Sơn Tây, mới bắt được có quận Thạc. Riêng Nhưỡng thì vẫn đang vùng vẫy ở miền Hải Dương, còn cần phải đánh dẹp vất vả. Bởi vậy cho nên tôi chưa về triều được. Những kẻ ghét tôi, thấy tôi ở lại đất Bắc, liền đặt lời gièm pha. Sao họ không xét rằng, sau khi chúa công về Nam, tôi chỉ ở lại Nghệ An hơn mười ngày, rồi lại ra Bắc ngay, thì còn thời giờ đâu mà mưu toan với Duệ? Từ đó kẻ Nam người Bắc, ai làm việc nấy, tôi có hề đi lại gì với Duệ đâu? Nếu xét rő tình cảnh ấy, hẳn không cần phải chờ tôi biện bạch gì thêm. Vả chăng, cái ngày mà tôi làm việc chung với tướng quân, không phải không lâu. Nếu quả là tôi có ḷng ǵ khác, hồ dễ đã giấu được cho khỏi lộ? Tướng quân nên chuyển đạt lời tôi đến trước chúa công, thì tôi đội ơn nhiều lắm!".

Nhận được thư ấy, biết Chỉnh còn có ý sợ, Nhậm bèn viết bức thư khác, dùng lời nói khéo, vỗ về khuyên giải làm cho Chỉnh yên lòng, để mình còn có thì giờ sắp đặt công việc ở trấn Nghệ An. Tiện thể Nhậm cũng không quên buộc Chỉnh phải mau chóng dẹp yên quận Nhưỡng, rồi rút quân về Nam, để khỏi trái với ý định.

Chỉnh tiếp thư, không hiểu rõ ý của Nhậm, cho rằng Nhậm có thể dễ lừa phỉnh, chắc không phải lo gì về mặt Nam.
*  Lúc bấy giờ, trong ngoài đều đồn đại rằng tướng của Tây Sơn là tả quân Vũ Văn Nhậm, kéo quân ra Nghệ An, chỉnh đốn quân ngũ, chẳng bao lâu quân Tây Sơn lại tới, Thăng Long sẽ thành bãi chiến trường. Vì thế, trong kinh thành nhốn nháo, người chuyển vận đồ đạc, người bồng bế con cái, tranh nhau đi lánh nạn, làm náo động cả Thăng Long. Sự việc đến tai vua Lê.
Vua Lê liền triệu Chỉnh vào hỏi. Chỉnh tâu:

- Người ta đồn nhảm, không thể tin. Vua Tây Sơn từ khi ở đất Bắc về Nam, liền vào thẳng Qui Nhơn. Còn Nguyễn Huệ thì đóng ở Phú Xuân. Rồi nồi da xáo thịt, cốt nhục tương tàn, anh em mà gây ra cuộc binh đao, còn dữ dội hơn là đối với nước thù địch. Như vậy thì đâu còn dám ra khỏi Hoành Sơn một bước để tranh quyền với ta? Ta cần làm sao cho việc nội trị có quy mô yên ổn, thế là sẽ được thái bình. Đến như trấn Nghệ An, thì chỉ cần sai một sứ giả đem bức quốc thư sang, bàn bạc với họ, một lời nói là xong. Ta cùng họ đã thành thông gia, ta cũng không cần lo xa làm gì.

Quan ngự sử là Nguyễn Đình Giản nói: - Xưa nay tình hoà hảo thông gia, nói chung đều không thể tin cậy. Chỉ có bằng vào chước tự cường của mình, làm sao cho bờ cõi được vững chắc, ngăn chặn sự dòm ngó của kẻ địch, thì như vậy mới có thể tin cậy được. Bắc bình vương cũng là một bậc anh hùng, xem thường ông ta không được đâu!

Chỉnh nói: - Tôi đã từng cộng sự với ông ta, há lại không biết? Ông ta quả thật là bậc anh hùng, nhưng nhân tài xứ Bắc ta đây cũng không thua lắm. Vạn nhất xảy ra việc binh đao, tôi xin chọi với ông ta, còn như bọn Võ Văn Nhậm đã chiếm giữ đất Nghệ An, nhưng cứ mặc y. Quân nước ngoài ở trọ, chẳng qua cũng như bọn Chiêu võ, Thuận nghĩa hồi xưa chiếm đóng bảy huyện phía nam Nghệ An, không bao lâu rồi cũng lại về ta (**).

Vua Lê nói: - Nhân tình lo sợ, nghi ngờ, họ đang coi việc động tĩnh ở phương Nam để định sự thể khinh trọng của nước nhà. Ngươi nên tính kỹ liệu trước cho lòng trẫm được thư thái.

Chỉnh tâu: - Đó là việc trong chức phận của thần, dám đâu không hết lòng hết sức?

Ngoài mặt, Chỉnh tuy nói năng khuếch khoác để trấn áp mọi người, nhưng kỳ thực, từ khi được thư của Nhậm, trong lòng Chỉnh rất đỗi lo sợ.

Một hôm vào chầu, Chỉnh đuổi người chung quanh ra mà nói kín với nhà vua rằng:

- Võ Văn Nhậm tuy là tả tướng trong soái phủ của Bắc bình vương, nhưng vốn là rể vua Tây Sơn. Lâu nay chỉ huy việc quân, y vẫn đóng vai con rể của nước. Nay thấy anh em Tây Sơn xích mích nhau, Nhậm là kẻ đứng giữa, cố nhiên là phải tuân theo tướng lệnh, nhưng trong lòng lẽ nào lại hoàn toàn không nghĩ gì đến bố vợ? Vừa rồi có tên do thám nói rằng: "Nhậm ở Động Hải nghe việc biến cố ấy, bèn xin về hầu. Nhưng Bắc bình vương không cho mà bảo ra thẳng Nghệ An. Nay Nhậm đang ở vào địa vị nguy ngập và bị ngờ vực, nên không thể không có ý trông về bên trong. Thần xin nhân cơ hội này để thương lượng về việc bờ cõi Nghệ An. Hết sức nhắm nhe vào ân tình của họ, lại lễ nhiều, lời ngọt, ngoài có Văn Nhậm tâng bốc, trong có công chúa đỡ lời; Bắc bình vương dù có lòng nào chăng nữa cũng không thể không gượng theo mình.
Vua Lê khen phải. Sáng hôm sau, nhân buổi chầu sớm, vua nói với các quan rằng:

- Nghệ An liền kề với Thanh Hóa, là đất "thang mộc". Con em đất ấy vẫn được lựa chọn vào quân túc vệ, làm nanh vuốt cho nước nhà. Đất ấy không thể để cho người khác chiếm giữ mãi. Trẫm sắp sai người đi Phú Xuân để thương lượng với Bắc bình vương một phen. Vậy các ngươi hãy chọn xem người nào có thể sung vào sứ bộ?

Các quan đại thần bàn mãi việc cử người, luôn mấy ngày vẫn chưa ngã ngũ. Chỉnh bèn tâu để Trần Công Xán đi. Vua Lê nói: - Được đấy!

Nhà vua bèn đòi Công Xán vào triều mà bảo rằng:

- Người là người trung trinh vì nước, lòng trẫm đã biết từ lâu. Ngày xưa Phú Bật sang sứ Khiết Đan (3), làm cho nước địch phải kính trọng, công việc xong xuôi. Chuyến đi này, cũng giống như thế. Ngươi cố vì trẫm vâng mệnh ra đi, cũng là Phú Bật của nước Nam đó. Một vị hoàng thân cùng đi, trẫm đã sai Duy Án,còn một viên phó sứ nữa thì tuỳ ngươi chọn lấy.

Xán hăng hái nhận sứ mệnh và nói:- Vua phải lo thì bề tôi mang nhục; thần đâu dám sợ khó khăn? Trong những người từng làm việc chung với thần mà thần đã biết, thì có Ngô Nho là có thể dùng được.

Vua ưng lời, rồi ban mệnh lệnh xuống. Cả triều đình đều khen là chọn được người xứng đáng.

Duy Án là con thứ sáu của vua Ý Tông, vào hàng chú nhà vua. Án tính người cẩn thận, nho nhã và trung thực. Công chúa Ngọc Hân khi chưa lấy chồng, vẫn thường tôn kính Án, mọi việc nên chăng đều hỏi ý kiến của Án. Khi công chúa về với Bắc bình vương, Án thường nhân có việc tới gặp, Bắc bình vương cũng khen Án nói năng lui tới có lễ độ. Lúc đó vì muốn luôn tiện hỏi thăm công chúa, cần chọn người hoàng thân xứng đáng, nên vua mới sai Án đi.

*
Xán đã từng làm thượng thư Bộ Hình, rồi lĩnh chức Đồng bình chương quân quốc trọng sự. Trong triều đình, Xán là người cương trực, gặp việc có tài ứng biến, lại thêm có học thuật, vì vậy ai cũng tôn trọng. Xán lại là thầy học của Chỉnh. Mỗi khi Chỉnh có tâm sự gì, không thể nói với người ngoài thì không khi nào không hỏi Xán để quyết định. Vì thế, chuyến này Chỉnh mới xin vua để sai Xán đi.
Ngô Nho người làng Tri Chỉ, huyện Phú Xuyên. Trước kia Xán làm đài quan (tức là chức ngự sử) coi việc chấm thi, đã lấy Nho đậu tiến sĩ khoa ất tỵ (1785), nên Nho vẫn theo lễ thầy học mà đối đãi với Xán, thường tới nhà Xán luôn. Nho thấy Xán là người khảng khái, có khí tiết lớn lao, không thèm xu phụ quyền thế, nên hai bên thanh khí hợp nhau. Xán cũng yêu và trọng Nho, vì thế bảo Nho đi với mình.

Khi Nho mới nghe lệnh ấy, liền vào gặp Xán. Xán bảo Nho rằng:

- Nước địch đè lấn, tin báo ngoài bờ cõi đang gấp. Nay chỉ biết ra đi chưa biết ngày về. Tôi là đại thần của nước nhà, nghĩa phải ra đi, sống thác không cần tính đến. Ông mới làm quan, ngôi thứ còn thấp, ở nhà lại có mẹ già. Trung hiếu không thể vẹn cả đôi đường, hãy thử nghĩ cho kỹ, tôi không dám ép ông đâu.
Nho trả lời: - Tướng công chịu ơn dày của nước, tôi thì chịu ơn trí ngộ cao cả của tướng công. Đại thần gánh việc cho nước nhà, kẻ sĩ chết vì người tri kỷ, đều là nghĩa phải như thế, ngoài ra không biết đến việc gì khác.

Xán mừng mà rằng:- Mạnh mẽ thay! Kẻ sĩ như thế đáng gọi là "đạt" vậy.

Rồi đem Nho vào yết kiến vua. Vua cho Nho lạy ở nội điện và hỏi:

- Nhà ngươi đã ôm ấp kinh luân, từng trải việc đời thử liệu xem chuyến đi này ra sao?

Nho tâu:- Ngửa trông phúc lớn của nhà nước và mưu sâu của miếu đường, công việc xong xuôi tưởng cũng không khó. Vả lại lúc ấy đã có vị lương thần chuyên việc ứng đối, chắc sẽ không để nhục đến mệnh vua. Thần làm người giúp việc chỉ biết làm hết chức phận mà thôi.

Nhà vua gật đầu, rồi sai quan bình chương Phan Lê Phiên cùng với Bằng công Nguyễn Hữu Chỉnh họp nhau bàn việc thảo quốc thư. Trong thư có đoạn nói rằng:

”... Gần đây nghe tin quý quốc sai tướng ra đóng ở Nghệ An, lòng người ngờ vực, có kẻ cho rằng đó là do bọn bề tôi ở biên giới gây việc, không phải bản ý của quý quốc vương. Đến lúc tiếp được bức thư, mới biết thật là vâng mệnh lệnh của quý quốc vương. Trong thư vin vào cớ mùa thu năm ngoái bản quốc đã hứa cắt đất khao quân. Kẻ tiểu tử này mới lên ngôi, chưa được rõ nguyên nhân việc trước, đã sai đình thần tra cứu lại cái ước cắt đất, thì là hai châu Bố Chánh, Minh Linh(***) chứ không liên can gì tới bờ cõi xứ Nghệ An. Vả lại, hồi đó đã vâng lời quý quốc vương dụ rằng: "Quả là đất đai của nhà Lê, một tấc cũng không lấy". Nay nếu khao quân bằng đất thì không bằng khao quân bằng của. Vậy xin tính số thu nhập hàng năm của đất ấy, dùng làm chi phí khao quân; rồi cứ hàng năm đưa đến biên giới, làm thành định lệ lâu dài. Xa trông quý quốc vương xét cho, để trọn tình hoà hảo của hai nýớc. Cả nýớc chúng tôi ðều lấy làm may lắm!".

Thý thảo xong, ðệ lên vua xem. Vua sai lấy ở kho nội phủ một số vàng, ðoạn màu, và lụa vải thổ sản làm ðồ biếu tặng. Rồi vời Trần Công Xán vào trýớc mặt để dặn dò và giao cho mang đi. Ngay hôm đó, bọn Xán lên đường. Trăm quan đều tiễn chân đến ngoài kinh thành. Riêng Nguyễn Hữu Chỉnh thì cùng Xán ngủ đêm ở chùa Thịnh Liệt. Xán bảo Chỉnh rằng:

- Bắc bình vương là người hiểm sâu khó lường, chuyến đi này vị tất ông ta đã nghe theo. Nhưng tôi đã vâng mệnh nhà vua thì cứ liệu chiều biện luận, liều chết mà cãi. Còn công việc phòng bị thì sau khi tôi đi, ông phải chú ý thêm, chớ có sơ suất. Dọc theo địa phận miền núi Thanh Hóa, phải gấp rút chia đồn đóng giữ các nơi hiểm yếu đề phòng quân bộ. Cửa biển trong trấn Sơn Nam cũng nên đóng cọc ngang dòng sông, để chặn quân thuỷ. Nếu họ trái lời hẹn, mà tới đánh, thì ta đã có phòng bị trước, không đến nỗi để việc tới nơi mới hấp tấp.

Chỉnh nói:- Xin thầy cứ đi, không cần phải quá lo. Lời nói của thầy ai chẳng nghe theo? Nếu không thì việc điều khiển quân lính của trò đây cũng chẳng kém ai. Vạn nhất có biến, há lại không làm nổi một trận sấm vang chớp giật, nghiêng biển, lật núi cho sướng bụng hay sao? Họ dù kiệt hiệt, cũng chẳng làm được gì.
Xán không cho lời nói của Chỉnh là phải, song chỉ đành thở dài rồi than rằng:
- “Người tính không bằng trời tính!”.

*
Khi đoàn sứ thần đến đầu huyện Quỳnh Lưu thì có viên tướng của Võ Văn Nhậm sai ra đóng đồn ở đấy đón vào trong đồn. Xem xét đồ vật xong rồi, y chỉ cho ba viên sứ thần và mười tám người tôi tớ cùng đi, còn bao nhiêu đều bảo về.

Đến doanh trấn Nghệ An, Nhậm sai thết tiệc khoản đãi, rồi thong thả hỏi Xán rằng:

- Quan văn quan võ ở Bắc Hà như cụ phỏng được mấy người? Vua Lê giao nước cho tên giặc Chỉnh, ý ngài tự nghĩ ra sao? Tôi nay đã lĩnh binh phù, sớm tối sẽ kéo thẳng ra Thăng Long, trước chém đầu giặc Chỉnh sau hỏi tội vua Lê sao lại bội ơn dong nạp đứa làm phản? Rồi báo cáo rõ ràng với sĩ dân Bắc Hà, cho họ biết tại sao chúng tôi phải dùng quân? Vua Lê đã không giữ nổi nước nhà thì các trấn từ Thanh Hóa trở ra, chúng tôi không lấy, người khác cũng sẽ lấy. Nghệ An là một mảnh đất cỏn con, cắt hay không cắt có quan hệ gì đến việc mất còn của nước nhà mà phải đi xa xin xỏ cho mất công trèo non lội suối. Tôi chỉ e rằng con chim đã lìa tổ, đến lúc bay về lại không có cành để đậu nữa mà thôi!

Xán im lặng, mọi người nghe nói đều sợ hãi. Đến lúc trở ra, Xán bảo Nho rằng:

- Người Tây Sơn hành binh như bay, tiến quân rất gấp. Xem họ đi lại vùn vụt mau chóng như thần, chống không thể được, đuổi không thể kịp, xưa nay chưa hề nghe có giặc nào như thế. Ý tôi đã lo xa, phải đề phòng trước, lúc đi đã dặn ông Bằng phải như thế, như thế, không biết ông ấy có nhớ không? Nếu hơi chậm trễ, việc sẽ không kịp.

Nói xong, than thở hồi lâu rồi đi. Nho bèn nói với Xán rằng:

- Xem mưu kín của chủ tướng họ, thì việc thôn tính nước mình họ đã sắp đặt sẵn sàng. Việc tôn phù năm trước chẳng qua chỉ là mượn cớ mà thôi. Bọn lang sói vốn sẵn bụng ác, quyết không thể nói bằng nhân nghĩa. Bây giờ xe sứ thần đã ra khỏi bờ cõi, kinh thành sắp bị nạn đinh đao, sự thế quá gấp, phải tính đường quyền biến để làm cho được việc, không nên câu nệ. Vả xem ông Bằng từ khi đắc chí đến nay, đai vàng ngang lưng, bộ dạng nhơn nhơn tự đắc, không còn như hồi trước "nhá rễ cây mà làm nên việc". Tôi e rằng ông ta lính quýnh ra trận, thế nào cũng bị Võ Văn Nhậm bắt mất. Lúc đó vua ta đi hay ở lại, cũng chưa dám chắc. Chúng ta phải trù tính thế nào để ngấm ngầm xoay lại then máy, may ra mới có thể cứu vãn được. Chỉ cần cho nước được yên, dầu có tự tiện cũng không hề gì. Nếu cứ vâng chỉ cũ, cố tranh cãi về việc Nghệ An, thì đúng như người ta vẫn nói: "Cướp đã vào nhà còn sửa phên dậu". Như thế thật là thất sách. Vậy xin chữa lại quốc thư để mang đi.

Xán nói:- Chữa! Chữa như thế nào?

Nho nói:- Chữa rằng: "Họ Trịnh chuyên quyền, vua Lê đã không còn nước. May nhờ quý quốc vương tôn phò. Nếu trời còn phù hộ nhà Lê, tiên đế đâu đến nỗi qua đời. Tôi là cháu kế tự còn nhỏ tuổi, nghĩ rằng gánh vác không nổi, để nhục cho xã tắc. Kinh thư có chữ "làm khách", Kinh thi nói rằng "có khách" (4), đều là việc cũ đời xưa. Kính xin cắt cho một phần đất để được nối đời thờ phụng tổ tiên. Thật là thuận mệnh trời để mà sống còn, cầu lòng thương của trời về dài lâu vậy!". Nếu họ chỉ muốn giữ nước, không có bụng làm hại mình, thấy nói như thế chắc hẳn phải mừng rỡ, thế nào họ cũng thả sứ thần về nước và chia đất cho ta. Nhân thế ta có thể khuyên vua ta hãy tạm ở đất ấy. Họ không có lòng ngờ ta, thì sẽ không đến dòm ngó gì nữa. Bấy giờ ta sẽ lo tính dần dần ngày trung hưng. Nếu không thế, họ đã tức giận mà ra tay hung tàn, thì bọn mình chỉ làm ma biển khơi. Điều đó tuy chẳng đáng kể nhưng vua ta sau khi phiêu bạt, long đong, không còn tấc đất để nương tựa, thì dẫu có tài như Khổng Minh cũng bó tay.

Xán nói:- Không được! Ông Bằng theo việc quân từ lúc đầu còn để chỏm, là tay lão luyện trong chốn trận mạc, nếu như đô thành mắc nạn binh đao, tưởng cũng không đến nỗi khốn đốn lắm. Hai nước đánh nhau, chưa biết ai thua ai được. Chúng ta vâng mệnh đi sứ, mới ra khỏi cõi mà đã chữa quốc thư, mạo lời chúa, chẳng những bị tội với nước mình, mà nếu bên địch khám phá ra chỗ lừa dối đó, họ cũng không dong mình; tai vạ càng lớn, tiếng cười không biết bao giờ mới hết. Chi bằng cứ minh bạch mà làm, việc thành hay bại là tại ông trời, ta có lo gì.

Từ đó Nho không dám nói nữa.

Khi đến Phú Xuân, các sứ thần bày lễ vật vào yết kiến Bắc bình vương. Xán trình quốc thư lên. Bắc bình vương xem qua một lượt, rồi vứt xuống đất mà nói to:

- Thư này ai làm? Nói ra toàn điều vô nghĩa lý. Người Bắc quen dùng lời lẽ để dử người. Ta không phải trẻ con mà lừa dối được đâu!

Xán vẫn không đổi nét mặt, ung dung trả lời:

- Xin đại vương hãy bớt giận, để tôi nói rõ. Nếu muốn giết tôi, tôi cũng xin nói một lời rồi chết.

Bắc bình vương vốn trọng Xán, liền đổi nét mặt mà rằng:

- Ngày xưa ta vượt biển ra Bắc, phá Thăng Long, diệt họ Trịnh, cả nước khiếp sợ, trong triều ngoài nội đều chịu bó tay, không ai dám làm gì. Lúc bấy giờ nếu ta chiếm giữ đất nước, xưng đế, xưng vương, gì mà chả được? Nhưng vì ta mến đức của tiên đế, nên đem cả cõi đất nguyên vẹn trả lại ngài. Cơ đồ thống nhất đều do tay ta gây dựng lại. Bắc triều lại dùng chế sách "thượng công" để đền đáp ta. Chẳng biết "thượng công"? là danh hiệu gì? Đối với ta có thêm được cái gì không? Kịp đến khi tiên đế chầu trời, lễ cả sơn lăng, ta giúp đỡ cho: tự vương nối ngôi, lễ lớn sách lập, ta chủ trương cho. Nay không cảm ơn những việc của ta làm, lại chứa chấp kẻ phản ta, chống cự với ta, mưu đồ dành lại đất Nghệ An. Xử sự như thế, nhân tình có ai nín nhịn được không? Ta đã phái ra hai vạn binh mã, sai tả quân Võ Văn Nhậm thống lĩnh, thẳng tới Thăng Long, chặt đầu cha con giặc Chỉnh về dâng. Chắc rằng khi Chỉnh nghe tin quân ta kéo ra, thế nào cũng kèm tự tôn bỏ chạy. Bấy giờ ở dưới gươm đao, ngọc đá lẫn lộn, không biết tự tôn có giữ được yên lành hay không? Nếu có làm sao, người trong nước lại qui oán về ta thì thật phiền.

Xán thưa:- Xưa đức Lê Thái tổ dẹp yên quân Ngô, mở mang nước nhà, công đức như trời. Vua Thánh tông tự mình làm nên thái bình, rạng danh đời trước, mở rộng về sau. Từ núi Thạch Bi ra bắc, từ dẫy Đại Lĩnh vào nam, đều làm tôi làm dân, ai ai cũng phải tôn kính, trải qua hàng trăm năm. Họ Mạc tiếm ngôi, cả nước đều giận. Đấng tiên vương hội họp những người đồng chí, dựng lại họ Lê. Họ Trịnh nối theo cũng vì có công phò Lê, cho nên mới sai bảo được bốn phương, và được mọi người hưởng ứng. Từ mấy đời nay, chúa Trịnh tuy là hiếp chế vua Lê, thiên hạ vẫn là thiên hạ của nhà Lê. Đại vương ruổi xe một mạch, thẳng đến kinh thành, tuy rằng oai danh đã vang dậy khắp nơi, nhưng cũng do lấy nghĩa cả tôn phò, khiến người ta tin phục, mới được như vậy. Nếu không, việc vào nước người ta, đâu có dễ dàng như thế. Tiên đế thoạt thấy đại vương, tiếp đãi rất là long trọng. Trước ban sách mệnh làm tước công, rồi sau sẽ phong vương, đó là điển cũ của bản triều, không phải trả ơn không hậu, chớ nên thấy như thế mà cho là bạc. Một nước đã trải hơn ba trăm năm, trời cao chứng giám, lòng người tôn sùng. Đại vương đem cả cõi đất trả lại nguyên vẹn, là thể thuận ư trời, chiều ḷng dân, chưa có thể lấy đấy làm ơn. Tiên đế mất đi, hoàng thượng nối ngôi, mọi việc đều bẩm trước với đại vương. Đại vương không làm chủ thì ai làm chủ nữa. Lý đã đến thế, đừng cũng chẳng được. Tôi không dám khen ngợi để dâng lời ton hót. Đại quân về Nam, Nguyễn Hữu Chỉnh đuổi theo, đại vương để hắn ở lại Nghệ An, sao lại bảo hắn làm phản? Nghệ An vốn là đất cũ của bản triều, bản triều phải giữ lấy bờ cõi, sao lại nói là tranh giành? Đại vương phái binh mã ra, nếu là để thăm hỏi, bản triều đã có lễ nghênh tiếp. Bằng không, thì như người xưa đã nói: "Nước lớn có quân đánh dẹp, nước nhỏ có cách chống giữ". Tôi nay đã ra khỏi cõi, việc ấy không còn dám biết đến. Tự hoàng của nước tôi, trời đã sai làm vua, đế vương có chân mệnh, gươm đao cũng phải lựa chọn, đại vương chớ có lo. Nếu như đại vương cứ thuận lẽ trời mà làm, gây lại nước đã suy, nối lại họ đã dứt, để cho nước của nhà họ Lê được yên ổn, thì những người làm tôi làm dân trong cả nước ai chẳng biết công đức, còn có oán gì? Nhược bằng làm trái lại, thì sự thế thay đổi khác thường, tôi đây ngu dại, không thể nào mà thấy trước được.

Xán cứ cãi đi cãi lại mãi, không chịu khuất phục một lời nào. Đến lúc trời sắp tối, Bắc bình vương bảo: - Hãy ra nhà trọ mà nghĩ đi nghĩ lại cho kỹ!

Xán nói:- Nghĩ lắm luẩn quẩn lại dễ lầm lẫn, một chết là xong!

Bắc bình vương nổi giận, sai đem giam Xán vào ngục. Bọn Duy Án và Ngô Nho cũng đều bị chia ra giam ở các nơi khác.

Xán vào ngục, cười nói như thường, Bắc bình vương sai người đến dò, thấy Xán viết ở chỗ giam đôi câu đối như sau:

Đạt đức hữu tam, túng vị năng chi, nguyện học / Tiểu tâm vô nhị, hành kỳ tố dã, hà vưu?

(Nghĩa là: Đạt đức có ba, dù chẳng làm nên, xin học. Giữ lòng như một, noi theo chí cũ, oán gì?)

Tư mã Ngô Văn Sở xin giết chết bọn Xán. Bắc bình vương còn tiếc tài của Xán, bèn bảo trung thư lệnh Trần Văn Kỷ và viên quan bộ Lễ là Vũ Văn Trụ rằng:

- Nhân vật Bắc Hà, Xán cũng vào bậc giỏi đấy! Ta muốn thu phục hắn để dùng, nhưng mà chắc hắn không chịu. Các ngươi thử hiểu dụ hắn một phen nữa xem sao?

Hai người bèn đến chỗ giam Xán, thấy Xán mang gông nằm sấp, liền nói:

- Ông già sao lại tự mình làm khổ mình như vậy?

Xán trả lời:- Cũng là số mệnh đấy thôi!

Kỷ nói: - Quân tử có khi không cần theo số mệnh, chế ngự được số mệnh là cốt ở mình. Ví như đánh bạc, đồng tiền một sấp một ngửa; ta theo kẻ được mà đánh, thiên hạ sẽ khen ta là người đánh bạc giỏi.

Xán nói:- Bởi thế cho nên đó chỉ là phường cờ bạc, chứ không phải đạo của người quân tử. Tôi nghe nói: "Kẻ làm bề tôi phải chết vì chữ trung". Đấy là lời dạy của người xưa!

Hai người biết là không thể làm lung lay được ý chí của Xán, liền đi ra và nói với nhau:

- Nhà Hán có Tô Tử Khanh (5) , nhà Lê có Trần Công Xán. Đáng thương, nhưng cũng đáng ghét thay!

Vừa gặp lúc đó, vua Tây Sơn gửi thư ra kể tội lỗi của Bắc bình vương và sắp phái quân tới đánh. Tướng sĩ dưới cờ của Bắc bình vương có kẻ trốn đi, Bắc bình vương liền bảo Trần Văn Kỷ rằng:

- Nay nước ta có việc lôi thôi, lòng người còn phân vân. Việc biến trong nhà không nên để nước láng giềng nghe biết. Sứ Bắc ở đây, tai vách mạch rừng. Họ ở xa đến để dò xét ta, giữ họ ở lại thì họ biết rõ tình hình trong nước, hoặc giả nhân đó họ xúi giục, gây ra việc không hay. Thả họ về thì lại bị họ rêu rao làm lộ việc, người Bắc Hà mà biết, thì lại sinh lòng khinh rẻ ta. Bởi thế, ta định ném bọn họ xuống biển, để cho hết tiếng tăm dấu vết, vậy cứ theo chước đó mà làm.

Rồi Bắc bình vương sai đô đốc là Võ Văn Nguyệt sắp sẵn vài chiếc thuyền biển, nói phao là đưa sứ thần về Bắc.

Lúc bọn Xán vào từ giã, Bắc bình vương nói:

- Các ông hãy về trước, chờ lúc tôi ra ngoài ấy vời vào gặp mặt, sẽ có cách xử trí việc Nghệ An.

Rồi Bắc bình vương lại đem tặng họ một trăm nén bạc và bảo:

- Đây là của công chúa gửi tặng, các ông đừng chối từ.

Đánh tiếng là đưa bọn Xán về Bắc, nhưng thật ra Bắc bình vương đã ngầm bày mưu cho Nguyệt, người ngoài không ai được biết.

Tháng ba, mùa xuân năm 1787, thuyền từ cửa Tư Dung giương buồm ra đi, không mấy ngày đã đến cửa biển Đan Nhai thuộc thị trấn Nghệ An. Nguyệt cùng bọn sứ thần ghé thuyền vào bờ, rồi cùng lên bộ.

Lúc ấy có người học trò của Xán là giám sinh Nguyễn Hiên, người huyện Chân Lộc, nghe tin thầy học được về, vội mừng rỡ đến chào. Chợt thấy nét mặt Nguyệt đầy sát khí, Hiên ngầm đoán được ý của hắn, bèn nói kín với Xán hãy xin đổi đi đường bộ.

Nhưng Nguyệt nói:- Tôi vâng mệnh đưa sứ giả đi đường biển, thuận tiện mà ổn thoả, không nên đi đường bộ, trèo non lội suối vất vả.

Rồi đó, cả bọn lại lên thuyền ra biển. Vừa ra đến ngoài khơi, Nguyệt liền bảo bọn lái thuyền đục thuyền cho nước vào, dìm cả bọn sứ thần xuống biển. Hiên đứng trong bờ trông ra xa gào khóc thảm thiết rồi cũng chết theo thầy. Hôm ấy là ngày 11 tháng 4, mùa hè năm 1787.

Xong việc, Nguyệt lại ghé thuyền vào bờ, nói phao lên rằng, thuyền gặp sóng gió bị đắm. Lúc bấy giờ, có người làm hai câu thơ về Trần Công Xán rằng:

Tên lưu vũ trụ bia ngàn thuở,
Nghĩa nặng cương thường biển vạn năm.


Sài Gòn, tháng 7-2010
Đỗ Ngọc Thạch
---

(1) Trần Công Xán : Đại thần thời Lê Trung Hưng, quê Hưng Yên. Đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn l772 đời Cảnh Hưng. Làm quan đến Thượng thư Bộ Hình, lãnh chức Đồng bình chương sự, tước Phái Trạch hầu. Công Xán được vua Quang Trung đánh giá cao trong số sĩ phu Bắc Hà thời đó. Xán được cử đi sứ vào Phú Xuân bàn chuyện trả đất Nghệ An cho vua Lê với nhà Tây Sơn. Vua Quang trung tính mua chuộc Công Xán nhưng không được bèn cho người ngầm đánh đắm thuyền của đoàn sứ thần trên biển. Công Xán mất năm 58 tuổi. Hiện ở Ninh Bình còn đền thờ Trần Công Xán. Tương truyền xác Công Xán dạt vào làm thành một cái gò nổi trên biển.
 
(2) Trần Văn Kỷ (?-1801): Là công thần dưới triều Tây Sơn và là bậc danh sĩ ở Nam Hà. Văn Kỷ, huyện Hương Trà, phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hóa . Năm Đinh Dậu (1777), Văn Kỷ đỗ đầu khoa thi Hương ở Phú Xuân. Năm 1786, Văn Kỷ được Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ tin dùng, phong đến chức chức Trung Thư Phụng Chính, tức chức quan chuyên lo việc dự thảo chính lệnh cho nhà vua. Nguyễn Huệ việc gì cũng bàn với Kỷ, lúc nào cũng gần bên Kỷ, không mấy khi xa rời.
 
Năm 1787, nội bộ Tây Sơn lâm vào tình trạng chia rẽ sâu sắc. Chính Văn Kỷ đã đứng ra lo dàn xếp giữa hai anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ bằng cách lấy Bản Tân làm ranh giới: Từ Quảng Ngãi trở vào Nam do Nguyễn Nhạc làm chủ, từ Thăng Diện ra Bắc thuộc về Nguyễn Huệ. Nhờ mưu kế của Trần Văn Kỷ, đã chấm dứt cuộc hỗn chiến đẫm máu kéo dài (từ tháng 1 đến tháng 5 năm 1787) giữa hai thủ lĩnh Tây Sơn làm thiệt hại chừng một nửa trong số 6 vạn quân của Nguyễn Huệ điều vào Quy Nhơn. Do thành quả trên, Văn Kỷ được phong tước Kỷ Thiện hầu, giữ chức Trung thư - Phụng chính, có nhiệm vụ tham mưu, nắm toàn bộ trung thư cơ mật, thảo sắc phong, chiếu lệnh...
 
(3) Khiết Đan: Khiết Đan là một nước ở phía đông bắc Trung Quốc, thường hay xâm phạm bờ cõi Trung Quốc. Đời vua Tống Nhân tông, quân Khiết Đan đến đóng sát biên giới và bắt nhà Tống phải cắt đất. Phú Bật được đi sứ, đã hết sức biện bạch, kết quả làm cho quân Khiết Đan phải lui và từ đó hai nước hoà bình được đến vài chục năm.
 
(4)…”có khách”: Hai câu này đều có nghĩa là muốn nhường nước cho người khác. Ở đây, tỏ ý nhường cả nước cho Tây Sơn, và chỉ xin cắt lại cho một mảnh để vua Lê lấy chỗ thờ cúng tổ tiên mà thôi.
 
(5) Tô Tử Khanh: tức Tô Vũ đời Hán Võ đế. Khi đi sứ Hung Nô, Tô Vũ bị Hung Nô giữ lại, bắt chăn dê ở Bắc Hải 19 năm ròng, mà Tô Vũ vẫn giữ khí tiết không chịu khuất phục.
 
(*) Chỉ cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn (1627-1672), sau lấy sông Gianh làm giới hạn để phân chia Đàng trong (Nam) và Đàng ngoài (Bắc).
 
(**) Chỉ việc các tướng của Chúa Nguyễn là Thuận nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến và Chiêu võ hầu Nguyễn Hữu Dật, đánh chiếm được bảy huyện ở nam sông Lam hồi xưa (1655-1660), trong cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn. Về sau, các miền ấy, lại bị họ Trịnh giành lại.
 
(***) Bố Chánh nay gồm các huyện Bố Trạch, Quảng Trạch, Tuyên Hoá thuộc Quảng Bình. Minh Linh nay là Vĩnh Linh, Do Linh thuộc Quảng Trị (Bình Trị Thiên).
                       Chiến thuyền Tây Sơn trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút.

Chúa Trịnh - Ngày Tàn ... - Đỗ Ngọc Thạch

 http://nhasachtritue.com/imagedata/review3/20090303/38156-28.jpg
Truyện ngắn

Chúa Trịnh - Ngày Tàn… Đỗ Ngọc Thạch

Sau khi thoát được vòng vây của Nguyễn Hữu Chỉnh ở Quế ổ, Chúa Trịnh Bồng (1) chạy đến Hàm Giang, nương tựa vào Đinh Tích Nhưỡng(2). Nhưỡng là con của Đinh Văn Tả (1602-1685), là tướng nhà Hậu Lê, người làng Hàm Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, lập nhiều công trạng các thời chúa Trịnh từ Trịnh Tạc (1653-1682), tới Trịnh Căn (1682-1709).
Năm 1645, hai con thứ của Trịnh Tráng là Trịnh Lịch (trấn thủ Sơn Tây) và Trịnh Sầm (trấn thủ Hải Dương), muốn tranh ngôi thế tử với Trịnh Tạc, nhân lúc cha bị ốm bèn cùng nhau làm phản. Trịnh Tạc bèn cầm quân đi đánh. Đinh Văn Tả được cử làm tiên phong. Trịnh Lịch và Trịnh Sầm chia quân cắt quân Trịnh Tạc làm đôi. Trịnh Tạc phá được vây ra trước. Đinh Văn Tả bị hãm trong trận, hai người con Tả bị tử trận. Đinh Văn Tả tả xung hữu đột chém 18 tướng sĩ của Lịch và Sầm khiến quân địch phải dãn ra. Trịnh Tạc thấy Đinh Văn Tả còn sống bèn mang quân quay lại cứu, bắt được Trịnh Lịch. Trịnh Sầm chạy về Ninh Giang, sau cũng bị bắt. Cả hai đều bị xử chém.
Năm 1667, chúa Trịnh đem quân đánh Mạc Kính Vũ ở Cao Bằng, Đinh Văn Tả làm đốc suất. Quân Mạc thua chạy vào vùng Miên Khâu, Châu Lăng núi non hiểm trở. Đinh Văn Tả truy kích đến nơi, bắt được 800 quân Mạc. Mạc Kính Vũ bỏ chạy sang Trung Quốc.
Đinh Văn Tả nhờ công đó được phong Quận công. Đầu năm 1668, chúa Trịnh cử Tả làm kiêm trấn thủ mấy trấn vùng biên là Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên. Đến tháng 6 năm đó, được gia phong làm đô đốc.
Tháng 8 năm 1677, khi đã 74 tuổi, Đinh Văn Tả tiến quân đánh tan Mạc Kính Vũ một lần nữa ở Cao Bằng. Tả thân đốc các tướng 4 mặt đánh thành, phá vỡ quân địch, chém được mấy trăm quân Mạc. Mạc Kính Vũ bị thua trận, quân sĩ đều tan vỡ, chạy sang Long Châu (Trung Quốc). Từ đó Mạc Kính Vũ không trở về Cao Bằng được nữa, đất này trở về với nhà Hậu Lê.
Chúa Trịnh thấy Đinh Văn Tả tuổi cao, liền triệu về kinh, giao cho Đặng Công Chất thay chức trấn thủ Cao Bằng.
Vì có nhiều công lao, Đinh Văn Tả được gia phong làm thượng tể, ban cho ruộng 300 mẫu.
Ngày 4 tháng 5 âm lịch năm 1685, Đinh Văn Tả mất ở kinh đô Thăng Long, hưởng thọ 84 tuổi.
Đinh Văn Tả có hai bà vợ, là hai cô cháu trong một nhà họ Phạm. Bà vợ cả là con gái nhỏ của vị quan họ Phạm, bà vợ thứ là cháu gái vị đó, cả hai cô cháu cùng cưới một ngày. Bà vợ cả sinh được 3 trai 1 gái; bà vợ thứ sinh được 1 trai 1 gái. Hai người con rể ông đều làm quận công.
Con cháu Đinh Văn Tả đều làm quan cho nhà Hậu Lê:
*
Lại nói về Chúa Trịnh Bồng, sau khi thoát khỏi  vòng vây của Nguyễn Hữu Chỉnh (3) ở Quế ổ thì đến Hàm Giang nương nhờ Đinh Tích Nhưỡng, đám lính già yếu cho về quê hết, chỉ giữ lại Toại và Châu cùng gần một trăm dũng sĩ khỏe mạnh. Nguyễn Đình Toại và Trần Quan Châu chỉ là thổ hào ở vùng Kinh Bắc nhưng dũng cảm hơn người. Khi Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An ra kinh thành, chúa Trịnh Bồng phải chạy về trấn Kinh Bắc thì Toại vâng mật chỉ của Chúa kêu gọi các thổ hào vùng Thuận Thành, Từ Sơn mộ quân nghĩa dũng để đánh lại Nguyễn Hữu Chỉnh…Khi Chỉnh đánh đến Quế ổ, Toại và Châu đều đốc xuất quân chiến đấu rất ngoan cường khiến Chỉnh không dễ dàng tiến binh, phải cho quân bao vây Quế ổ chờ thời cơ. Trong cuộc phá vòng vây Quế Ổ, Toại và Châu mỗi người lãnh 50 dũng sĩ, vừa tiên phong mở đường máu cho Chúa thoát vòng vây vừa chặn hậu, tả xung hữu đột không khác gì Triệu Tử Long cứu ấu chúa thời Tam Quốc!  
Toại và Châu đêm ngày ở bên cạnh Chúa, nửa bước không rời. Nhưỡng có ý không mặn mà với Chúa và không ưa hai viên tướng thường đứng hầu bên cạnh Chúa. Đối với Toại thì Nhưỡng ganh ghét là con nhà tướng; đối với Châu thì Nhưỡng khinh rẻ là kẻ bạch đinh. Hai người dò biết ý Nhưỡng, sợ có điều gì bất trắc, nên đều từ giã chúa và ra đi cùng một ngày.
Chúa thương cảm khóc lóc tiễn đưa hai người mà rằng:
- Đúng là "chết đuối vớ phải bọt", bám cũng không được, chẳng bao lâu nữa ta cũng đi thôi, giữ các ngươi lại làm gì cho nhục!
Chúa ở lại hơn 10 ngày, Nhưỡng không hề nói đến việc đại sự. Chợt một đêm, Nhưỡng tới chỗ chúa ở, nói:
- Hôm nay gió mát trăng thanh, vẻ thu rất đẹp, thần đã đem rượu lên thuyền chờ đợi, xin chúa đi chơi một lúc, ngắm xem phong cảnh, cho khuây khỏa.

Chúa tỏ vẻ sầu não mà rằng:
- Phong cảnh vẫn sông núi ruộng đồng ấy mà ngước mắt thấy non sông khác lạ. Ta chưa giết được quân thù, không thể cởi giáp mà ngủ. Bơi thuyền uống rượu ngắm trăng không phải là việc của ta ngày nay. Tướng quân hãy đi mà chơi!
Nhưỡng đi rồi, chúa tựa ghế ôm sầu, buồn khổ vô cùng, bảo bọn người hầu:
- Quan võ đều không thể tin cậy, bọn quan văn có hy vọng gì chăng?
Có người nói: “Quan Bình chương Trương Đăng Quỹ là người được Vua Lê quý trọng, chúa có thể nhờ cậy người này!”
Chúa bèn viết bức thư, sai người ngầm đưa cho quan Bình chương là Trương Đăng Quỹ. Thư nói rằng: "Kiếp này sinh ra không gặp thời, lại là lúc nhà nước lắm nạn; lạm dự vào dòng đích nhà chúa, rất lo cho việc tôn miếu xã tắc. Dâng biểu trần tình, may được hoàng thượng cho về triều kiến. Lúc mới về, chỉ muốn giữ lấy việc thờ phụng tổ tiên cho tròn đạo hiếu, thực không có bụng dạ nào khác. Sự thế đổi thay, lại bị chư tướng ép buộc, thành ra trái ý hoàng thượng. Lúc Chỉnh vào kinh, cung khuyết liền bị tiêu huỷ. Con chim bị mất tổ, bay quanh không biết nương nhờ vào đâu. Vì thế phải phiêu bạt giang hồ, không dám về nơi kinh khuyết. Nay Quế ổ, mai Hàm Giang, chỉ vì lo tìm nơi trú ngụ, bèn vướng lấy hình tích chống chế triều đình, khiến kẻ ghét mình có cớ mà nói. Mảnh lòng kính thuận, không có cách nào thấu đến bề trên. Ông hãy dùng lời lẽ khéo léo, tâu bày giúp cho. Lần này, dù tiến dù lui, tuỳ theo mệnh lệnh của hoàng thượng".
Đăng Quỹ nhận thư ấy, liền đem tâu vua. Vua ngậm ngùi mà rằng:
- Tấm lòng thật thà của chúa, trẫm đã lường biết. Chỉ vì không khéo xử sự trong lúc tai biến nên mới đến nông nỗi này. Nay nếu đã nghĩ lại và biết hối lỗi, trẫm sẽ có cách đối đãi, chẳng những
giữ được dòng dõi, mà cũng không mất địa vị giàu sang.
Vua Lê bèn sai Đăng Quỹ làm sứ thần đi nghênh tiếp, đón chúa về triều.
*
Lúc đó, chúa ở Hàm Giang, nghe nói Nhưỡng và Chỉnh ngấm ngầm đi lại với nhau, nghi ngờ  chúng có mưu đồ gì khác, liền than rằng:
- Đây không phải là chỗ  có thể gửi gắm cả sinh mạng được. Ta thà liều chết vượt biển vào núi còn hơn là ngồi lại mà chịu nhục!
Rồi chúa sai người hầu bí mật mượn mấy chiếc thuyền buôn, đang đêm đem cả bọn người thân tín, thủ hạ, thuận gió giương buồm chạy thẳng tới Sơn Nam . Sáng hôm sau, Nhưỡng mới biết, lấy làm kinh sợ mà rằng:
- Chúa đi sang nam mà không nói gì với ta, phải chăng là có ý ngờ ta? Nếu không theo chúa, lòng này không sao bộc bạch ra được, thiên hạ sẽ cho ta là người muốn bức hại chúa, làm sao mà thanh minh đây?
Tức thì, Nhưỡng cũng lên chiếc thuyền binh chạy theo chúa.
*

Chúa đến huyện Chân Định thì có Phạm Tôn Lân lên thuyền yết kiến.
Lân quê ở làng Bác Trạch, huyện Chân Định (nay là huyện Kiến Xương, thuộc Thái Bình), vốn dòng dõi quan lại, có nhiều quân công; ông tổ đời trước là Phạm Tôn Nhậm, một danh tướng của Trịnh Doanh, khoảng đầu niên hiệu Cảnh Hưng từng lập được nhiều chiến công. Tính Lân hào hiệp, khách ăn trong nhà thường có hàng trăm, chẳng khác gì Mạnh Thường Quân(4) bên Tàu ngày xưa. Trong đám thổ hào của trấn Sơn Nam hạ, Lân là bậc nhất.
Lúc gặp chúa, Lân bàn việc binh, vạch chước tiến thủ rất mạch lạc. Chúa rất mừng, cầm tay Lân nghẹn ngào: “ Tiếc rằng ta gặp ngươi muộn quá! Ngươi hãy gắng giúp ta để nối công đức của tổ tiên ngày xưa!”.
Lân nói:” Thần vốn không có tài gì. May được nhờ oai linh của chúa, dám đâu không hết sức”.

Nói rồi Lân mời chúa về nhà, kêu gọi thêm đồ đảng, hộ vệ cho chúa.
Hôm sau, Nhưỡng cũng đã theo đến nơi. Trước hết. Nhưỡng sai người đưa một tờ khải cho chúa, trong nói:
"Nhà thần bao đời được đội ơn dày, một lòng với nhà chúa. Nay thần với Chỉnh, nói về tình tuy có quen thuộc, nhưng nói về thế thì không thể nào cùng phe. Cả nước ai cũng biết điều đó, thần dám có lòng nào để nhục đến tổ tiên đời trước, xin chúa soi xét cho, khiến thần có thể lập được chút công, bù lại lỗi trước...".
Chúa xem khải rồi hỏi ý Lân, Lân vốn nghe tiếng tăm của Nhưỡng, thường coi là tay cự phách xứ Đông, nay may được chung sức làm việc thì rất lấy làm mừng, nên cố khuyên chúa đem lòng thành thực mà dùng Nhưỡng để thêm thế lực. Chúa nghe lời, Lân lập tức tự mình ra đón Nhưỡng cùng vào gặp chúa. Do đó, hai người rất là tương đắc. Họ liền đưa hịch đi các phủ Thái Bình, Kiến Xương, Thiên Trường hẹn cùng hội quân đánh Chỉnh. Trong khoảng mười ngày, người theo về có đến vài vạn. Họ định ngày cùng tiến quân, thuyền bè kín mặt sông, thanh thế lừng lẫy. Nhiều người tin rằng, nghiệp chúa có thể tính từng ngày mà khôi phục. Con em nhà quan lúc trước, như bọn Đoàn Nguyễn Tuấn, Phạm Giáp, Nhữ Công Liêu, Đào Nhữ Toản cũng đều chiêu mộ người làng đến họp. Các xứ đông tây cùng nổi dậy trong một lúc.
Bấy giờ Trương Đăng Quỹ vâng mệnh đi đón chúa, đến huyện Tiên Hưng, đường bị nghẽn, phải trở lại.
*
Chợt có người từ kinh thành tới yết kiến chúa, nói rõ việc Chỉnh chuyên quyền kiêu ngạo, lòng người không phục, vua cũng nghi ngờ Chỉnh làm phản, và khuyên chúa nên nhân lúc lòng người hướng theo mà gấp rút tiến binh đánh Chỉnh.
Chúa Trịnh Bồng nói: “ Ta có viên tướng cũ là Bùi Nhuận, hiện ở kinh thành, coi quân Kim-ngô, lĩnh chức tứ thành đề lĩnh, có thể bảo y làm nội ứng. Chức trách của Nhuận là việc tuần phòng, chắc không ai nghi ngờ”.
Rồi chúa bèn sai người đưa mật chỉ cho Nhuận, bảo làm nội ứng.

Tiếp chỉ, Nhuận liền bàn với người thân tín, đổi hết các quân canh giữ cửa ô. Con Hữu Chỉnh là
Bái Xuyên hầu dò biết việc đó, lập tức bắt Nhuận; rồi sai tướng của Chỉnh là Nguyễn Viết Tuyển hiện làm chức trấn thủ Sơn Nam đem quân bản bộ đánh chúa Trịnh Bồng.
Quân thuỷ của Tuyển tới sông Ngô Đồng (thuộc huyện Giao Thuỷ , Nam Định ) mà lính bộ chưa đến cửa Đại Hoàng (thuộc huyện Yên Mô, Ninh Bình), có người dò biết về báo với chúa. Nhưỡng đem hai chục thuyền biển lớn nhất, dàn ngang sông thành trận chữ "nhất", trên đầu thuyền bày đặt các thứ súng, trông như bức thành. Quân Tuyển đến đánh, vì thuyền nhỏ không thể chống cự, nhiều chiếc bị súng Bảo long bắn chìm xuống sông. Tuyển sợ, định lui giữ mạn sông Hoàng Giang (thuộc phủ Lý Nhân, Hà Nam ) để cùng bộ binh nương tựa lẫn nhau.
Thình lình có gió đông nam nổi lên, Nhưỡng liền sai các hải thuyền tản ra, ghé sát vào hai bờ, rồi buộc thuyền lại mà lên bộ. Tiếp đó Nhưỡng chỉ huy quân lính từ trên bờ theo chiều gió bắn xuống thuyền quân của Tuyển. Nhưng quân của Nhưỡng toàn là quân ô hợp, đứng, ngồi, tiến, lui chưa quen hiệu lệnh, lại hờ hững không có chí chiến đấu; nên sau khi lên bộ, hàng ngũ lộn xộn, chẳng ra sao. Tuyển ở dưới sông trông thấy vậy, liền hô to: “Quân Nhưỡng thua rồi!”.
Thế là quân của Nhưỡng đâm nghi hoặc, rồi hoảng sợ, tan vỡ, đua nhau cướp đường mà chạy, giày xéo lẫn nhau, không sao ngăn cấm được nữa. Thuyền bè bỏ bừa ven sông, đều bị quân Tuyển bắt được.
Quân Lân ở sau, trông thấy quân của Nhưỡng thua chạy tan tác, lại nghe nói Nhưỡng đã bị giặc giết rồi, nên đều kinh sợ. Lân cũng không thể điều khiển được quân lính nữa, thế là cùng
lúc ấy, đám quân tan vỡ luôn. Lân bèn hộ vệ chúa, lên một chiếc thuyền, xuôi dòng chạy sang phủ Thái Bình. Chừng nửa đêm, đến huyện Đông Quan, chợt nghe tiếng súng đùng đùng, giống như hiệu lệnh hành quân. Có người bảo quân Tuyển đuổi theo. Có người ngờ là bọn kẻ cướp. Sau Lân sai người đi dò, mới biết đó là quân của Trần Mạnh Khuông.
Trần Mạnh Khuông là một hào mục ở huyện Đông Quan, gia tư giàu có, lại có nghĩa khí. Khi mới tiếp được tờ hịch, lập tức tụ tập quân lính trong huyện để hưởng ứng việc nghĩa, hẹn ngày hôm ấy xuất quân ra đi. Lúc này quân Khuông đóng ở Bái Hạ, cách đấy không xa.
Nghe nói, chúa bèn vội vàng sai người đến gọi Khuông. Khuông theo sứ giả tới yết kiến, chúa nói: “Quả nhân tài hèn, đức kém, không biết tự lượng sức mình, hễ hành động gì liền bị vấp ngã. Bây giờ nên làm thế nào?”. Khuông nói: “Thắng bại là sự thường tình của nhà binh, dù là đạo quân thắng trận luôn, cũng phải có một lúc thua trận. Cho nên tướng giỏi đời xưa trước hết phải xem hình thế, đắp doanh luỹ, chứa lương thực, phòng bị sẵn những khi xảy ra việc cần kíp, làm cho khi tiến có thể đánh, khi lui có thể giữ. Đó chính là cái kế vẹn toàn, không làm gì đến nỗi thua một trận mà đã đầu hàng. Ở huyện tôi có làng Bái Hạ, bốn mặt đều là đồng lầy, phía trước có sông lớn chặn ngang, chỉ có một lối ra vào, lại có khe nhỏ quanh co thông với con sông, có thể dùng để chuyển vận quân lương. Cuộc loạn lạc năm trước, địa phương đây ở vào chỗ xung yếu của hai vùng đông và nam, nên tôi đã cho sửa sang lại, nay hào thành đều đã bền vững. Chỉ hiềm luôn mấy năm mất mùa, thóc lúa tích trữ chưa được đầy đủ mà thôi. Xin chúa hãy tạm dời xa giá về đó, rồi thong thả sẽ tính chuyện sau”.
Chúa Trịnh nghe theo, bèn phong cho Lân làm quân phủ trưởng sử. Khuông làm chức hành doanh sứ, dẫn quân vào đóng ở ấp Bái Hạ.
*
Ở Bái Hạ mới được vài ngày, Khuông sai người đi trưng thu lương thực chưa về, thì Chỉnh đã lại sai Nguyễn Như Thái đem lính bộ đến, hợp với quân của Tuyển, hai đường thuỷ bộ tiếp nhau, hai mặt trước sau đánh dồn lại. Trong đồn dựa vào tình thế hiểm yếu mà giữ, quân Chỉnh đánh luôn mười ngày không hạ được. Tuyển bèn đắp luỹ dài để tuyệt đường lương thực của quân chúa. Quân chúa hết lương đến nỗi phải đào cả củ chuối mà ăn, tình thế rất là nguy khốn.
Lân và Khuông liền nói vơi các thủ hạ rằng:
- Ngồi đây để làm con ma chết đói của làng Bái Hạ, sao bằng quyết một trận tử chiến, giết lấy vài trăm tên giặc cho sướng tay? Các ngươi ai là người có thể chung lòng góp sức với ta, để ta khỏi mang tiếng phụ chúa mà các ngươi cũng không mang tiếng phụ ta. Dẫu có chết còn được làm con ma trung nghĩa. May mà không chết, rồi đây công lao sự nghiệp sẽ không biết đến đâu mà lường!
Mọi người nghe nói đều cảm động, có hơn trăm người xin theo. Đêm đến, bốn bề đã vắng lặng, họ bèn cưỡi thuyền nan, theo đường khe mà đi ra. Nhân lúc Tuyển và Thái sơ ý, họ liền phóng hoả đốt doanh trại. Hai người hoang mang không kịp chống cự. Lân và Khuông tức thì phá vỡ vòng vây, đem chúa ra, cướp mấy chiếc thuyền, rồi theo cửa biển chạy thẳng về phía đông. Tuyển đem quân đuổi theo, nhưng không kịp. Thái thả quân vào làng Bái Hạ, chém giết lung tung, trai, gái, già, trẻ, không sót lại một người. Từ khi dấy cuộc binh đao tới lúc này, không chỗ nào không có nạn chém giết, nhưng chưa có đâu bị chém giết thảm hại như ở đây.
Lại nói, sau trận thua ở sông Ngô Đồng, Nhưỡng một mình chạy về phía đông, thuyền bè và đồ quân dụng bỏ mất gần hết.
Đến khi đồn Bái Hạ bị vỡ, chúa chạy về Hải Dương, lại cùng bọn Lân vượt biển tới đất Quảng Yên, giả làm khách buôn, chia nhau ở trọ trong các nhà dân ở châu Vạn Ninh (nay là đất Móng Cái). Chẳng bao lâu, Lân vì có việc nhà, cáo từ xin về, người theo hầu chúa chỉ còn lại Mạnh Khuông mà thôi. Sau đó hơn một tháng, Khuông lại mắc bệnh, rồi chết. Lúc bấy giờ, bên cạnh chúa không còn có ai, chúa một mình sống ẩn khuất ở vùng ven biển, tình cảnh rất là thương tâm mà không ai hay biết.
Chúa nghĩ bụng: "Giầu sang ở kiếp phù sinh, đều là cảnh mộng. Bởi vậy, ngày xưa đã có người xin thề đời đời đừng sinh vào nhà đế vương... Phật thương hết thảy chúng sinh bị chìm đắm trong biển khổ. Óc Người thông suốt, ý kiến Người thông suốt, thật như gương sáng muôn đời. Từ lúc ta ở trọ đất Chương Đức đã có ý nghĩ như thế. Bây giờ nên quay đầu lại là hơn".
Thế rồi chúa Trịnh Bồng gột sạch ma chướng ở đời, tự xưng là Hải đạt thiền sư, dạo khắp các chùa ở vùng Lạng Sơn, Cao Bằng.
*
Bấy giờ có người học trò đất Kinh Bắc tên là Vũ Kiền, chạy loạn lên ở Lạng Sơn. Một hôm Kiền gặp Hải đạt thiền sư ở chùa Tam Giáo, nhân trong lúc đàm kinh thuyết pháp, Kiền ngầm biết đó là chúa, bèn báo với bọn phiên thần ở đó là Hà Quốc Ký, và Nguyễn Khắc Trần .
Hai người bèn vờ nói là có việc làm cơm chay, đón Hải đạt thiền sư về nhà, rồi đuổi hết người nhà ra mà bảo với nhà sư rằng:
- Chúng tôi nối đời làm bề tôi ở chốn biên cương, ở xa vẫn mến oai đức của triều đình, thường chỉ nghe người ta nói vua Lê chúa Trịnh như tiếng sấm ở trên trời. Nếu như thiên hạ vô sự, bọn chúng tôi làm sao được nhìn thấy chúa. Gặp lúc nhà nước có nạn, xe chúa phải tới nơi biên ải, thần dân ai cũng đau lòng. Đây chính là dịp cho kẻ trung thần nghĩa sĩ trổ tài kinh luân. Vậy chúng tôi xin rước chúa về ở Đoàn Thành (tức thành trấn Lạng Sơn), xướng nghĩa cả, để lo việc chấn hưng oai linh xưa, phục dựng lại sơn hà xã tắc. Nhờ vào hồng phúc của chúa, thành được việc lớn thì lũ tù trưởng nhỏ mọn ở xứ mọi rợ này mới có cơ may được dự vào hàng cuối ở vân đài (*) , ấy là ý nguyện của chúng tôi.
Nhà sư nhắm mắt chắp tay, khoan thai trả lời:
- Bần tăng xuất gia theo Phật, không can dự gì đến việc đời đã lâu. Các ông chớ có nhận lầm, khiến cho đương lúc yên lặng, lại sinh ra bao nhiêu nỗi phiền não. Trong thiên hạ, ai là vua, ai là chúa, đã có mệnh trời; bần tăng chỉ biết một lọ một bát, tu hành ở cửa thiền, làm môn đồ đức Phật Như lai mà thôi.
Vũ Kiền lúc ấy cũng thưa rằng:
- Thần tuy chưa được vào chầu phủ chúa, nhưng khi du học ở kinh sư cũng đã từng nhìn trộm dung nhan của chúa. Người trong nước còn có lòng ấy, chúa cũng không nên từ chối. Thần nghe nói, nghiệp vương phải khó nhọc, không thể ngồi yên mà có được. Bởi vậy, Quang Võ đã phải bạc cả tóc đầu, Tiên chúa (Quang Võ là vua đầu nhà Đông Hán. Tiên chúa tức Lưu Bị, là vua nhà Thục thời Tam quốc) thì phải mòn hết thịt vế. Những cơn nguy hiểm ở Quế ổ và Bái Hạ gần đây, cũng giống việc Tuy Thuỷ, Hô Đà đời Hán (**), chỉ vì không nản chí, không ngã lòng, rốt cuộc họ đã làm nên nghiệp lớn. Thần chưa từng bao giờ thấy ai đường đường là một vị vương giả mà lại lui về làm nhà sư nhàn hạ. Xin chúa hãy nghĩ lại!
Nhà sư khóc và nói:
- Cái cảnh "Thử ly","Mạch tú" (***) ở đâu cũng đều cảm động. Ta không phải là gỗ đá, sao có thể làm ngơ. Nhưng đã biết sức của ta, mà vẫn không thể dành được với trời, nên đành phải nín nhịn để giữ lấy mình, đâu còn dám làm càn để lại lầm lẫn lần nữa?
Chúa đã nói lộ bản tướng, liền bị mọi người vin lấy mà bắt buộc phải truyền sắc lệnh ra để điểm quân, thu lương.
Bọn Ký và Trần đều là kẻ tầm thường, không nghiêm cấm nổi thủ hạ, để chúng làm bừa những việc phi pháp. Nhân dân không thể chịu đựng được, họ bèn nổi lên làm loạn, giết bọn Ký và Trần, rồi đuổi chúa đi. Chúa chạy về đất Hữu Lũng (nay thuộc Lạng Sơn) rồi từ đó ẩn khuất trong chốn thâm sơn cùng cốc, không ai còn thấy mặt chúa ở đâu nữa.
Họ Trịnh từ Thái vương là Trịnh Kiểm thụ phong, truyền đến Thịnh vương là Trịnh Sâm, vừa được tám đời thì xảy ra biến loạn. Rồi đến Đoan nam vương là Trịnh Khải, Án Đô vương là Trịnh Bồng thì nghiệp chúa hết (****).
Xét trong địa ký chép về đất phát tích của tổ tiên họ Trịnh có lời tiên đoán rằng:
"Chẳng đế chẳng bá, quyền nghiêng thiên hạ, truyền được tám đời, trong nhà dấy vạ".
Quả nhiên, sự hưng thịnh rồi suy vong của Chúa Trịnh đúng là như vậy! ./.
Sài Gòn, tháng 7-2010
-----
(*) Vân đài: Vân Đài có nghĩa “Đài cao chạm mây”, nơi vua Minh đế nhà Hán sai vẽ hình 28 vị công thần có công gây dựng Nhà Hán.
(**) Tuy Thủy, Hô Đà: Theo Hán thư, sau khi Hán vương là Lưu Bang vào chiếm Bành Thành, Sở vương là Hạng Võ đem quân trở về, phá tan quân Hán trên sông Tuy Thuỷ và vây Hán vương ba vòng, may gặp có gió lớn nổi lên, thổi tan quân Sở, Hán vương mới chạy thoát. Cũng theo Hán thư: Khi vua Quang Võ đi đến trạm Khúc Dương, phía sau có quân Lương Vang theo đuổi, mọi người đều kinh sợ. Quang Võ cho người đi dò đường thì họ nói, trước mặt có sông Hô Đà nước chảy mạnh lắm, không thể qua được. Quang Võ lại bảo Vương Bá đi xem lại. Vương Bá e quân lính hoảng sợ, bèn nói dối là ở sông băng giá đóng rất chắc, có thể đi qua được. Quang Võ bèn bảo Bá hộ vệ mình qua sông, nhưng mới qua được mấy người thì băng đã tan. Ở đây, mượn hai điển tích này để nói làm nên nghiệp lớn thế nào cũng phải trải qua nhiều gian nan, nguy hiểm thì mới đi tới thành công.
(***) Thử ly, Mạch tú: Thử ly là một bài thơ trong Kinh Thi nói về cảnh cung điện nhà Chu bị tan hoang thành ra ruộng lúa. Mạch tú là bài hát của Cơ tử nói về việc nhà Thương mất nước, cung điện thành ruộng cấy lúa mạch: ở đây chỉ cảnh tang thương của họ Trịnh.
(****) Chúa Trịnh: Chúa Trịnh (1545 - 1787) là tập đoàn phong kiến kiểm soát quyền lực nhà nước Đại Việt thời nhà Hậu Lê, khi nhà vua không có thực quyền vẫn được duy trì ngôi vị. Bộ máy triều đình lúc này hoạt động theo thể chế lưỡng đầu. Các đời chúa Trịnh tồn tại trong 243 năm (1545-1787), trải qua 12 đời chúa.
Người mở đầu sự nghiệp của họ Trịnh là Trịnh Kiểm, người huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Tương truyền thuở nhỏ nhà Trịnh Kiểm nghèo, mẹ thích ăn gà nên ông thường bắt trộm gà của hàng xóm cho mẹ ăn. Hàng xóm rất ghét, nhân khi Trịnh Kiểm đi vắng bèn bắt mẹ ông ném xuống vực. Trịnh Kiểm về không thấy mẹ đâu bèn đi tìm, đến vực tìm ra xác mẹ thì mối đã xông đầy lên rồi. Sau có ông thày tướng đi qua chỉ vào ngôi mộ mẹ Trịnh Kiểm đọc rằng:
Phi đế phi bá /Quyền khuynh thiên hạ
Truyền tộ bát đại/ Tiêu tường khởi vạ
(Chẳng đế chẳng bá / Quyền nghiêng thiên hạ / Truyền được tám đời/Trong nhà dấy vạ)
Mẹ mất, nghe tin Nguyễn Kim nổi dậy dựng lại nhà Lê, Trịnh Kiểm bèn đến xin gia nhập. Nhờ tài năng, ông được Nguyễn Kim tin cậy và gả con gái là Ngọc Bảo cho. Nǎm 1539 ông được phong làm Đại tướng quân, tước Dực quận công. Năm 1545, Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm lên thay cầm quyền, được phong làm thái sư nắm toàn thể quân đội.

“Phi đế phi bá, quyền khuynh thiên hạ”:

Nắm quyền trong triều đình Nam triều nhà Lê, trước hết Trịnh Kiểm lo đối phó với các con của Nguyễn Kim để củng cố quyền lực: đầu độc giết con cả của Kim là Nguyễn Uông. Người con thứ là Nguyễn Hoàng sợ hãi xin xuống trấn giữ vùng Thuận Hóa – Quảng Nam ở phía Nam . Trịnh Kiểm cho rằng giết cả hai anh em Hoàng sẽ mang tiếng, mà Thuận - Quảng là nơi xa xôi, “ô châu ác địa” nên bằng lòng cho Hoàng vào đó để mượn tay nhà Mạc giết Hoàng. Từ đó Trịnh Kiểm nắm toàn bộ quyền hành của nhà Lê, xây dựng sự nghiệp cho họ Trịnh.
Năm 1556, vua Lê Trung Tông mất sớm không có con nối, Trịnh Kiểm định thay ngôi nhà Lê, nhưng còn do dự sợ dư luận, bèn sai người tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bấy giờ đang ẩn dật. Nghe theo lời khuyên của Trạng Trình (“Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”), Trịnh Kiểm bèn đi tìm được người trong tôn thất nhà Lê là Lê Duy Bang, cháu 5 đời của Lê Trừ (anh Lê Thái Tổ), lập làm vua, tức là Lê Anh Tông. Từ đó họ Trịnh nối đời cầm quyền nhưng danh nghĩa vẫn tôn phò, làm bề tôi cho nhà Lê, hai họ sống chung trong cơ chế lưỡng đầu. Bởi vậy người đời truyền lại câu: “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong.
Năm 1570, Trịnh Kiểm mất, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh quyền. Hai anh em dàn quân đánh nhau. Cùng lúc đó quân Mạc từ bắc kéo vào. Trịnh Cối bị kẹp giữa hai đường không thể cự nổi bèn đầu hàng nhà Mạc, được nhà Mạc thu nhận và phong chức.
Bản ý của vua Lê Anh Tông là ủng hộ ngôi con trưởng của Trịnh Cối, do đó mâu thuẫn với Trịnh Tùng. Vua Anh Tông mang 4 người con lánh đi nơi khác. Trịnh Tùng lập người con út của vua là Đàm lên ngôi, tức là Lê Thế Tông. Sau đó, Trịnh Tùng lùng bắt được cha con vua Anh Tông mang về lập mưu giám sát, rồi bức chết. Từ đó vua Lê hoàn toàn nép trong cung, Trịnh Tùng tự mình xử trí mọi việc trong triều. Các vua Lê sau có ý định chống lại đều bị xử tử và thay thế bằng một hoàng đế nhỏ tuổi hoặc dễ bảo hơn.
.Tháng 11 năm 1592, Trịnh Tùng lại tiến đánh Thăng Long. Mạc Mậu Hợp thua chạy về Kim Thành (Hải Dương). Thấy thế nguy cấp, Mậu Hợp lập con là Toàn lên ngôi, tự mình làm tướng thống suất quân đội. Sau các cuộc chiến ác liệt tại khu vực các phủ Nam Sách, Hạ Hồng, Kinh Môn trong tháng 11 và 12 thì quân Mạc thua to. Mạc Mậu Hợp phải bỏ trốn đến huyện Phượng Nhãn, bị bắt sống sau đó ít ngày và bị hành hình.
Sau vài cuộc chiến khác chống lại các thế lực tàn dư nhà Mạc, Trịnh Tùng rước vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long năm 1593. Họ Trịnh đánh dấu quyền lực bằng cách tiến hành xây Phủ Chúa ở Thăng Long.

“Truyền tộ bát đại, tiêu tường khởi vạ”:

Họ Trịnh từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Sâm là truyền được 8 đời chúa. Năm 1782, Trịnh Sâm qua đời. Ngay từ khi Sâm còn sống đã diễn ra cuộc tranh giành ngôi thế tử giữa con trưởng Trịnh Tông và con thứ Trịnh Cán. Cán còn nhỏ nên thực chất đó là phe Tuyên phi Đặng Thị Huệ. Tuyên phi lôi kéo quận Huy là Hoàng Đình Bảo (cháu Hoàng Ngũ Phúc). Vì Tuyên phi được sủng ái nên Trịnh Cán được lập làm thế tử. Khi Sâm mất, Trịnh Cán lên thay, quận Huy phụ chính. Quân kiêu binh giúp Trịnh Tông làm binh biến giết chết quận Huy, phế bỏ Trịnh Cán và đưa Tông lên ngôi chúa, đổi tên là Khải.
Trịnh Khải và Trịnh Bồng dù không đủ năng lực nhưng cũng là những người biết cách rút lui. Trịnh Khải tự vẫn không để mình lọt vào tay Tây Sơn, Trịnh Bồng bỏ đi mai danh ẩn tích khi biết dòng họ mình không còn đủ uy tín để giữ ngôi cai trị. Không ai trong họ Trịnh đi cầu viện nước ngoài như những người đứng đầu các tập đoàn song song tồn tại khi đó là Nguyễn Phúc Thuần (định cầu viện nhà Thanh), Nguyễn Ánh (cầu Xiêm, Pháp, Bồ), Lê Chiêu Thống (cầu viện Thanh). Các tập đoàn phong kiến Lê và Trịnh gần như cùng mất một thời điểm nhưng cách rời bỏ vũ đài chính trị của họ Trịnh không giống với họ Lê.
(***) Vân Đài: Vân Đài có nghĩa “Đài cao chạm mây”, nơi vua Minh đế nhà Hán sai vẽ hình 28 vị công thần có công gây dựng Nhà Hán.
 (1) Trịnh Bồng là con Trịnh Giang, bác họ của Trịnh Tông. Lúc đầu Bồng được phong làm Côn quận công. Trịnh Tông thua, Trịnh Bồng lánh nạn ở huyện Văn Giang (Hải Dương) chiêu tập binh mã đợi thời cơ. Khi Nguyễn Huệ cùng anh là Thái Ðức Nguyễn Nhạc rút về Nam, Trịnh Lệ liền đem quân qua đò Thanh Trì kéo về chiếm lại phủ chúa. Ðang đêm, Trịnh Lệ cho nổi trống triệu tập triều quan đến bàn việc lập Lệ lên ngôi chúa. Việc hấp tấp vội vàng đã không thành. Vua Lê, sau khi gắn bó với Tây Sơn không muốn chia quyền cho họ Trịnh như trước nữa, quan hệ giữa Vua Lê và Trịnh Lệ rất căng thẳng, Trịnh Lệ định mưu thoán nghịch.
Giữa lúc ấy, một số người thân cận xui Trịnh Bồng viết biểu xin về chầu vua. Trịnh Bồng bấy giờ đã 40 tuổi, tính nết hiền từ, khoan hậu được nhiều người mến mộ. Cuối đời, Trịnh Sâm, vì việc lập con trưởng, con thứ khó quyết, có lúc Sâm định lập Trịnh Bồng để trả lại ngôi chúa cho anh con nhà bác. Vì thế Sâm cho Thị Huệ nuôi Trịnh Bồng đề phòng thay Cán nếu Cán mệnh mệt. Trịnh Tông lên ngôi, kiêu binh mấy lần muốn phò Côn Quận Công Trịnh Bồng, đã vào tận nhà để thúc ép và đón rước, Bồng đã một mực từ chối. Lúc quân Tây Sơn kéo ra, Bồng chỉ đem theo một đứa ở, một tên lính lánh vào huyện Chương Ðức, có tính chuyện đi tu. Biết Trịnh Lệ làm nhiều điều ngang ngược, trái phép, một số quan tìm gặp, khuyên Trịnh Bồng về triều giúp vua. Thấy Trịnh Bồng vào triều, triều thần theo giúp, thanh thế Trịnh Bồng ngày càng lớn. Bồng chưa có ý lấn quyền vua Lê nhưng do bộ hạ thúc giục nên đã nghe theo.
Bồng đến chầu, vua muốn Bồng trở về nhà cũ, phong làm Tiết chế thuỷ bộ chủ quân, Bình chương quân quốc trọng sự, Thái uý Côn quận công, cấp 3000 tên lính, 5000 mẫu ruộng và 200 xã dân tộc để phụng thờ họ Trịnh. Bọn Ðinh Tích Nhưỡng lại muốn Trịnh Bồng làm vương tại
phủ chúa đời chúa trước kia nên đã nhiều lần gan lì sang xin vua phong vương cho Trịnh Bồng. Ngược lại, vua Lê kiên quyết từ chối. Cuối cùng do sức ép của Ðinh Tích Nhưỡng kẻ nắm binh
quyền, bất đắc dĩ, vua phải y theo, phong Bồng làm Nguyên soái, tổng quốc chính, Án Ðô vương.

Trịnh Bồng nhu nhược, lười biếng, không điều khiển được công việc, do đó chính sự lại lọt vào tay Ðinh Tích Nhưỡng. Chúng khuyên Bồng lập lại phủ chúa như xưa, phủ chúa thành một triều đình riêng. Từ đó, vua và chúa ngày càng mâu thuẫn. Vua Lê định cầu viện quân ngoài trấn vào kinh dẹp Trịnh, Trịnh Bồng biết, doạ giết, lập vua khác. Tình thế hết sức nguy khốn. Vua Lê buộc phải cho vời Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An cho quân về giúp. Quân Chỉnh vào Thăng Long một cách dễ dàng. Tướng lính Trịnh bỏ chạy. Họ Trịnh từ Thái vương Trịnh Kiểm truyền đến Trịnh Sâm vừa được 8 đời thì xảy ra biến loạn, đúng với lời phán đoán về đất phát tích của tổ tiên họ Trịnh. Ðến án Ðô vương Trịnh Bồng thì nghiệp chúa hết.

Trịnh Bồng chạy thoát, dâng biểu về cho Lê Chiêu Thống viết:
"Kiếp này sinh ra lỗi thời, gặp lúc nước nhà lắm nạn, rất lo cho việc tôn miếu xã tắc. Dâng biểu trần tình, rất mong được hoàng thượng cho triều kiến..."
Vua Chiêu Thống ngậm ngùi:
Tấm lòng thật thà của Bồng, trẫm đã lường biết, chỉ vì không khéo xử sự trong lúc gặp biến cố nên mới ra nỗi như thế. Nếu đã nghĩ lại và biết hối, trẫm sẽ có cách đối đãi, chẳng những giữ được dòng dõi mà cũng không mất địa vị giàu sang.
Nguyên lúc đó vua Chiêu Thống bị Hữu Chỉnh lộng quyền, không làm gì được nên lại có ý hợp tác với Trịnh Bồng. Tuy nhiên, khi Chiêu Thống sai người đi đón ông, Nguyễn Hữu Chỉnh hay tin, mang quân đánh tan quân của Đinh Tích Nhưỡng. Nhưỡng thua nặng, không còn thủ hạ, binh khí, bỏ chúa mà chạy. Trịnh Bồng phải sống lẩn lút ở ven biển và cuối cùng ông bỏ đi tu, tự xưng là Hải Đạt thiền sư, đi khắp vùng Lạng Sơn, Cao Bằng…
(2) Đinh Tích Nhưỡng: quê làng Hàm Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
Ông là tướng cuối đời Hậu Lê, giỏi về thủy chiến. Được vua Lê và chúa Trịnh ưu đãi, ông phục vụ tận tâm, được phong tước Liễn Trung Hầu, rồi thăng Liễn Quận công. Khi Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lần thứ nhất, ông đem thủy quân ra phía cửa Luộc. Nhưng trước sức tấn công của nghĩa quân Tây Sơn, phải bỏ thuyền mà chạy. Về sau ông trở mặt làm phản vua Lê Chiêu Thống, góp phần làm cho cơ nghiệp nhà Lê đổ nát.
 Đinh Văn Tả (1602-1685) là tướng nhà Hậu Lê, người làng Hàm Giang, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, lập nhiều công trạng từ thời Trịnh Tạc tới Trịnh Căn.
Năm 1645, hai con thứ của Trịnh Tráng là Trịnh Lịch đang trấn thủ Sơn Tây và Trịnh Sầm đang trấn thủ Hải Dương , muốn tranh ngôi thế tử với Trịnh Tạc, nhân lúc cha bị ốm bèn dấy quân khởi loạn. Thế tử Trịnh Tạc bèn cầm quân đi đánh. Đinh Văn Tả được cử làm tiên phong. Trịnh Lịch và Trịnh Sầm chia quân cắt quân Trịnh Tạc làm đôi. Trịnh Tạc phá được vây ra trước. Đinh Văn Tả bị hãm trong trận, hai người con bị tử trận. Tả liều chết chém 18 quân địch khiến quân địch phải dãn ra. Trịnh Tạc thấy Văn Tả còn sống bèn mang quân quay lại cứu, đánh tan quân địch, bắt được Trịnh Lịch, còn Trịnh Sầm trốn vào Ninh Giang, sau cũng bị bắt nốt. Cả hai đều bị xử chém.
Năm 1647, có quân thổ phỉ ở Đông Hải quấy phá. Đinh Văn Tả được làm Đô tổng binh, giữ việc trấn thủ Yên Quảng, dẹp được quân thổ phỉ.
Năm 1667, chúa Trịnh mang quân đánh Mạc Kính Vũ ở Cao Bằng, Đinh Văn Tả làm đốc suất. Quân Mạc thua chạy vào vùng Miên Khâu, Châu Lăng hiểm trở. Đinh Văn Tả mang quân truy kích đến nơi, bắt được 800 quân Mạc. Mạc Kính Vũ bỏ chạy sang Trung Quốc.
Đinh Văn Tả nhờ công đó được phong làm quận công. Tháng 2 năm 1668, chúa Trịnh cử ông làm kiêm trấn thủ mấy trấn vùng biên là Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên. Đến tháng 6 năm đó, liền được gia phong làm đô đốc.
Năm 1677, khi đã 75 tuổi, Đinh Văn Tả tiến quân đánh tan Kính Vũ một lần nữa ở Cao Bằng. Ông thân đốc các tướng 4 mặt đánh thành, phá vỡ quân địch, chém được mấy trăm quân Mạc. Mạc Kính Vũ bị thua trận, thủ hạ đều tan vỡ, chạy sang Long Châu (Trung Quốc). Từ đó Mạc Kính Vũ không trở về Cao Bằng được nữa, đất này trở về với nhà Hậu Lê.
Chúa Trịnh thấy Đinh Văn Tả tuổi cao, liền triệu ông về kinh, giao cho Đặng Công Chất thay ông trấn thủ Cao Bằng.
Vì có nhiều công lao, Đinh Văn Tả được gia phong làm thượng tể, ban cho ruộng 300 mẫu.
Ngày 4 tháng 5 âm lịch năm 1685, Đinh Văn Tả mất ở kinh đô Thăng Long, hưởng thọ 84 tuổi.
Đinh Văn Tả có hai bà vợ, là hai cô cháu trong một nhà họ Phạm. Bà vợ cả là con gái nhỏ của vị quan họ Phạm, bà vợ thứ là cháu gái vị đó, cả hai cô cháu cùng cưới một ngày. Bà vợ cả sinh được 3 trai 1 gái; bà vợ thứ sinh được 1 trai 1 gái. Hai người con rể ông đều làm quận công.
Con cháu Đinh Văn Tả đều làm quan cho nhà Hậu Lê:
(3) Nguyễn Hữu Chỉnh:  (?-1787) là tướng nhà Hậu Lê. Người huyện Chân Phúc, phủ Đức Quang, Trấn Nghệ An, nay là xã Phúc Thọ, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Khi Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ nhất, Chỉnh đã bày mưu cho Nguyễn Huệ “phò Lê diệt Trịnh” thành công, còn làm mai mối cho Nguyễn Huệ cưới Ngọc Hân Công chúa…
 Vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) không muốn Nguyễn Huệ đánh ra Bắc Hà nên thân hành ra Bắc gọi em về. Nguyễn Huệ biết Nguyễn Hữu Chỉnh là người dễ thay lòng đổi dạ nên không muốn dung nạp, lập kế đột ngột rút quân về nam. Nguyễn Hữu Chỉnh biết người ở Bắc Hà ghét mình (vì dẫn đường cho quân Tây Sơn), sợ bị họ giết nên khi phát hiện quân Tây Sơn rút đi, Chỉnh vội vã chạy theo. Nguyễn Huệ thấy vậy liền sai Chỉnh trấn thủ Nghệ An là đất giáp ranh giữa Tây Sơn và đất nhà Lê.
Ở Bắc Hà sau khi Tây Sơn rút, các tướng ủng hộ họ Trịnh như Ðinh Tích Nhưỡng Hoàng Phùng Cơ, Dương Trọng Tế nổi dậy, dựng Trịnh Bồng làm chúa mới, tức là Án Ðô Vương, lại lấn át vua Lê mới là Chiêu Thống (cháu nội Hiển Tông).
Vua Lê nghe theo lời các văn thần, liền sai người vào Nghệ An mời Nguyễn Hữu Chỉnh dẹp họ Trịnh. Được danh chính là lời gọi của vua Lê, Chỉnh chiêu tập hơn 1 vạn quân,Bắc tiến như chẻ tre. Quân Trịnh do Phan Huy Ích chỉ huy nhưng bị Chỉnh đánh bại, Ích bị Chỉnh bắt sống. Sau đó quân Chỉnh tiến thẳng ra Thăng Long, các tướng Trịnh thua trận bỏ chạy, Án Ðô Vương  Trịnh Bồng bỏ đi mất tích. Chiêu Thống sai đốt phủ chúa. Họ Trịnh từ đó không quay lại ngôi vị được nữa.
Dẹp xong chúa Trịnh, Nguyễn Hữu Chỉnh được vua Chiêu Thống phong là Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự, Ðại Tư Ðồ, Bằng Trung công.
Các tướng họ Trịnh cũ vẫn hoạt động chống lại nhà Lê. Nguyễn Hữu Chỉnh một tay lần lượt đánh bại và giết cả Đinh Tích Nhưỡng, Dương Trọng Tế và Hoàng Phùng Cơ. Cả Bắc Hà khi đó không còn đối thủ, Nguyễn Hữu Chỉnh cậy quyền thế lại coi thường lấn át vua Lê...
(4) Mạnh Thường Quân: Mạnh Thường quân tên thật là Điền Văn (田文), người nước Tề, làm Tướng quốc nước Tề thời Chiến Quốc, và là một trong Tứ Công tử Chiến Quốc. Điền Văn là con Tướng Quốc Điền Anh. Ông là một người giàu có, lại có lòng nghĩa hiệp, thích chiêu hiễn đãi sĩ, văn cũng như võ trong nhà lúc nào cũng tiếp đãi đến vài nghìn tân khách. Tiếng tốt đồn vang khắp các nước chư Hầu thời bấy giờ.
Hiện nay, trong tiếng Việt, danh từ Mạnh Thường Quân dùng để chỉ những vị giàu có, đầy lòng nghĩa hiệp, thường đóng góp nhiều cho các hoạt động từ thiện.
Đỗ Ngọc Thạch
Ngày đăng: 19.07.2010








Cùng thể loại
Ô Đống Mác - Đỗ Ngọc Thạch
http://bee.net.vn/dataimages/201001/original/images256203_T4___Chua_Trinh_Kiem.jpg
Thế tổ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm - vị Chúa tiên khởi của nhà Trịnh.