Long Lanh


Thứ Năm, 10 tháng 4, 2014

người đẹp showbiz: siêu mẫu Nam PHi

Giải trí
Thứ Năm, 10/04/2014 - 15:55

Siêu mẫu Nam Phi gợi cảm từng centimet

(Dân trí) - Candice Swanepoel - chân dài đình đám của Victoria’s Secret là một trong những siêu mẫu Nam Phi thành danh nhất thế giới. Vẻ đẹp ngọt ngào và nét quyến rũ tự nhiên của người đẹp tóc vàng đã giúp cô kiếm được hàng triệu đô la mỗi năm.





Candice Swanepoel xinh đẹp và trẻ trung trong ảnh quảng cáo mới của Victoria’s Secret

Candice Swanepoel xinh đẹp và trẻ trung trong ảnh quảng cáo mới của Victoria’s Secret

Candice Swanepoel xinh đẹp và trẻ trung trong ảnh quảng cáo mới của Victoria’s Secret

Candice Swanepoel xinh đẹp và trẻ trung trong ảnh quảng cáo mới của Victoria’s Secret

Candice Swanepoel xinh đẹp và trẻ trung trong ảnh quảng cáo mới của Victoria’s Secret

Candice Swanepoel xinh đẹp và trẻ trung trong ảnh quảng cáo mới của Victoria’s Secret

Candice Swanepoel xinh đẹp và trẻ trung trong ảnh quảng cáo mới của Victoria’s Secret

Candice Swanepoel xinh đẹp và trẻ trung trong ảnh quảng cáo mới của Victoria’s Secret
Candice Swanepoel xinh đẹp và trẻ trung trong ảnh quảng cáo mới của Victoria’s Secret

VN

VN

VN

VN

VN

VN
VN
Theo Hot
Xem thêm :nam phi, siêu mẫu, victoria, gợi cảm, secret
Người đăng: Võ Thị Long Lanh vào lúc 05:35 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Hình ảnh

Thứ Hai, 7 tháng 4, 2014

Tự lực Văn đoàn... - L.N.A

03:44-28/02/2014 
Tự Lực văn đoàn - một “nhóm lợi ích” trong đời sống văn nghệ*
Lại Nguyên Ân

Các tác phẩm Tự Lực văn đoàn được dịch
sang tiếng nước ngoài
Khi viết về Tự Lực văn đoàn (TLVĐ), những năm gần đây, số lớn ý kiến thường chỉ thiên về kể công lao, đóng góp của TLVĐ; ít thấy ai đặt hoạt động TLVĐ vào đời sống văn nghệ đương thời để mô tả, nhận định các hoạt động cụ thể của nó; cũng ít thấy ai chú ý tìm hiểu xem TLVĐ được cảm nhận ra sao trong tầm nhìn của những người đương thời, nhất là những đồng nghiệp viết văn làm báo, hoặc công chúng văn nghệ thời ấy.
Thiết nghĩ, đối với TLVĐ, hội đoàn sáng tác có tổ chức chặt chẽ đầu tiên ở Việt Nam thời hiện đại, nếu xem xét hoạt động của nó từ tầm nhìn gần, không lý tưởng hóa, người ta sẽ thấy TLVĐ ra đời và hoạt động như một nhóm lợi ích.

TLVĐ gồm bảy thành viên: Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thế Lữ (Nguyễn Đình Lễ), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Xuân Diệu (Ngô Xuân Diệu); các thành viên này cùng với nhiều người khác trong gia đình Nguyễn Tường và một số người thân khác của các thành viên, hoạt động trên hai tờ tuần báoPhong Hóa (1932-1936), Ngày Nay (1935; 1936-1940), và nhà xuất bản Đời Nay (1934-1945). 

So với nhiều nhóm nhà văn khác, khi tụ khi tán, suốt những năm 1930-1945, thì cơ sở ấn loát kể trên của TLVĐ tỏ ra vững vàng hơn hẳn. Tuy nhiên, các cơ sở báo chí xuất bản này không hoạt động như một cơ sở kinh doanh ấn loát bất kỳ nào đó. 

Người ta biết, chẳng hạn, nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long hoạt động xuất bản sách báo như một tổ chức sản xuất kinh doanh ấn phẩm nhưng không tính đến, thậm chí không chấp nhận sự tập hợp các nhà văn tại đây theo các dấu hiệu đồng thuận về những tư tưởng hay thị hiếu nghệ thuật nhất định. Do vậy, giữa ông chủ Tân Dân và các nhà văn cộng tác với các ấn phẩm của nhà Tân Dân chỉ có các quan hệ lao động (thuê người làm và làm thuê) hoặc thương mại (mua bản thảo, bán bản thảo) mà trong đó sự xung đột lợi ích là khá thường trực (dù không lớn, chủ yếu chỉ xoay quanh vấn đề định mức hoặc cách tính nhuận bút), sự cộng đồng lợi ích tuy vẫn có nhưng là tương đối nhỏ; còn lại, hầu như không có gì gắn bó họ với nhau thành một nhóm lợi ích. 

Trong khi đó, các tờ Phong Hóa, Ngày Nay và nhà xuất bản Đời Nay ưu tiên hoạt động như công cụ, như phương tiện của nhóm tác gia trong TLVĐ. Nó ưu tiên đăng tải tác phẩm của các thành viên trong nhóm, sau đó mới dành chỗ đăng một số tác phẩm của các cộng tác viên, tức là những người ngoài nhóm ấy, chỉ có liên hệ hoặc thân hoặc sơ với hầu hết hoặc một vài thành viên của nhóm. Ngay sau khi sắp hoàn tất việc đăng báo, các tác phẩm của các thành viên sẽ được chuyển sang khâu in thành sách. Chính nhờ được đặt vào quy trình liên tục này về ấn loát nên các tác phẩm của các nhà văn trong TLVĐ đều được công bố trọn vẹn, hầu như không tác phẩm nào bị dở dang, mất mát (trừ những tác phẩm mới chỉ đăng trên Ngày Nay, kỷ nguyên mới, 1945, ví dụ truyện dài Xiềng Xích của Khái Hưng). Trong sự tiếp cận của các giới sự tầm nghiên cứu hậu thế, đây là một lợi thế khá lớn của các nhà văn trong TLVĐ so với phần đông tác giả đương thời, tác phẩm thường đăng tải trên nhiều tờ báo khác nhau, thường bị gián đoạn do các báo bị đóng cửa hoặc có thay đổi thành phần tòa soạn, rốt cuộc là số tác phẩm bị thất lạc, mất mát không ít. 
 
Cùng với việc đảm bảo tốt khâu công bố tác phẩm cho các nhà văn trong nhóm, TLVĐ còn chú trọng tạo dư luận, gây tiếng vang cho các nhà văn thành viên, xây dựng uy tín, giá trị cho sự nghiệp văn chương của họ. Đây là một chiến lược nhiều mặt, được hai tờ báo Phong Hóa, Ngày Nay và các thành viên TLVĐ ráo riết thực hiện theo nhiều cách, nhất là trong dăm bảy năm đầu từ khi nhóm này xuất hiện. 

Chẳng hạn, người ta có thể thấy, từ khi ra đời (1933) đến khoảng 1938, TLVĐ có chiến lược hạ uy tín những tác gia khác, ngoài văn phái mình. 

Trước hết, việc này nhắm vào những người già, những tác gia thuộc thế hệ trước.

Vì sao một trong những thói tật khá phổ biến ở xã hội đương thời là tật nghiện rượu, lại không được các biếm họa trên Phong Hóa gán cho hai gã Lý Toét, Xã Xệ hư cấu, như đối với nhiều thói tật khác, mà lại gán cho một Tản Đà cụ thể? Điều này, vào năm 1937, Vũ Trọng Phụng có lời giải:

“Xưa kia, muốn cho Thế Lữ nổi tiếng về thơ mới, Tự Lực văn đoàn đã phải dùng đến cách làm cho thiên hạ tưởng Nguyễn Khắc Hiếu là một kẻ không có tư cách nhân phẩm gì nữa, khốn nạn vô cùng”. [1] 

Cố nhiên, đến những năm 1938-39, TLVĐ sẽ thay đổi thái độ, trên Ngày Nay sẽ có những bài khen ngợi thơ Tản Đà, rồi nhà Đời Nay đề nghị in thơ Tản Đà thành các tập tuyển, v.v… Nhưng ở thời đầu TLVĐ, việc nhóm này đả kích Tản Đà, là điều thấy rõ; đó cũng là lúc phong trào thơ mới đang khởi lên, việc bài xích thơ cũ, khuếch trương thơ mới được xem là một nhiệm vụ lớn mà TLVĐ muốn giành lấy trọng trách. 

Có thể nói, TLVĐ, thông qua các biếm họa, hý họa, các mục vui cười trên Phong Hóa, đã tỏ rõ một ý hướng liên tục bôi nhọ thể diện khá nhiều nhân vật uy tín đương thời. Trong số ấy, Tản Đà chỉ là một, và hẳn chưa phải là đối tượng hàng đầu. Bởi, ngay từ đầu, được nhắm đến thường xuyên ở các trang châm biếm, hý hước của Phong Hóa là bộ đôi Vĩnh - Quỳnh. 

Nước Nam có hai người tài 
Thứ nhất sừ Ĩnh thứ hai sừ Uỳnh 
Một sừ béo múp rung rinh 
Một sừ lểu đểu như hình cò hương 
Không vốn liếng chẳng ruộng nương 
Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu 
Bây giờ đang xỉa xói nhau 
Người cầu lập hiến, kẻ câu trực quyền
“Thưa các ngài, thực vi tiên,
Muốn xem chiến đấu, quẳng tiền vào đây” [2] 

Bài thơ châm biếm này phải chăng là “hiền lành”, “vô hại”, theo như lời bình của không ít phê bình gia hậu thế? Thưa không! Bởi sự lược quy nghề làm báo vào nghề “buôn bán dư luận”, – xưa cũng như nay, dù là câu đùa cũng vẫn cứ nhuốm màu xuyên tạc độc ác; vả chăng, tại sao văn phái Tự Lực lại loại trừ mình khỏi nghề “buôn bán dư luận” trong khi chính mình cũng làm báo? Ở đây, tư tưởng chính trị của Phạm Quỳnh về một nền “quân chủ lập hiến”, của Nguyễn Văn Vĩnh về thiết chế “cai trị trực tiếp” của chính quyền Pháp, – vốn là hai đề xuất có trọng lượng trong những thảo luận đương thời về tương lai chính trị Đông Dương, – đã bị nhóm Tự Lực đả kích phủ định. Vậy nên, có thể nói, nếu từ thời ấy cho đến tận cuối thế kỷ XX, một bộ phận lớn của công chúng người Việt vẫn còn giữ những định kiến bất công đối với hai nhân vật hàng đầu này của văn hóa Việt Nam thời hiện đại (Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh), thì, góp vào việc xây dựng những định kiến ấy, phổ cập định kiến ấy vào công chúng, không thể không có phần công sức đáng kể của Phong Hóa, Ngày Nay, hai cơ quan của TLVĐ! 

Ngay Phan Khôi, cùng thế hệ Tản Đà, người đã rất sớm nhận ra và lên tiếng khen giọng điệu báo chí mới mẻ của Phong Hóa, [3] nhưng đáp lại, Phong Hóa luôn dùng lối giễu cợt để giữ khoảng cách, để dứt khoát gạt Phan Khôi về phái già. Bỏ qua rất nhiều trò chọc ghẹo vốn là đương nhiên khó tránh khỏi của thể tài hài báo, ít ra vẫn có một sai lạc không thể biện hộ, ấy là việc Phong Hóa và TLVĐ tạo ra thành ngữ “lý luận Phan Khôi” với hàm ý chế nhạo. 

Trong khi tư duy lô-gích là cái thiếu nhất ở người Việt, trong khi Phan Khôi là nhà báo thể hiện sự cố gắng nhiều hơn hết để nghĩ mới về mọi sự mọi việc, trong khi chính TLVĐ cũng hướng tới cái mới, duy lý, tiến bộ cho văn hóa xã hội Việt, thì chính họ lại dựng lên thành ngữ này, hùa theo luồng định kiến thông tục cũ kỹ trong giới cầm bút vốn đặc trưng cho xu thế thù ghét lý tính, bài xích lý luận của số đông với tâm thế gia trưởng thủ cựu; ở phương diện này, Nhất Linh (nếu ông là tác giả chính của thành ngữ này) chỉ đứng ngang với những cây bút tầm thường, và tỏ ra thấp hơn Phan Khôi rõ rệt.

Nhưng khi đó Nhất Linh và các thành viên TLVĐ đã hành động theo lợi ích nhóm, mà chiến lược là hạ uy tín của những “đàn anh” trong báo giới văn giới, bất kể là ai. 

Một trong những cách nữa để TLVĐ tạo sự chú ý đến sáng tác của các nhà văn trong nhóm là gây ra những sự cố. Tố cáo cây bút nào đó, càng có tên tuổi càng tốt, dường như đã “ăn cắp” tác phẩm của nhà văn nhóm mình, là một thủ đoạn đắc sách. Theo cách này, đầu năm 1936, Phong Hóa phao lên rằng Nguyễn Công Hoan đã “chịu khó sưu tầm để viết Lá Ngọc Cành Vàng giống Nửa Chừng Xuân, và  Cô Giáo Minh giống hệt Đoạn Tuyệt”. [4] 

Cách tạo dư luận ở đây là tận dụng, lạm dụng văn trào lộng, hý hước, để khi bị chất vấn theo lối nghiêm chỉnh thì trả lời: đấy chỉ là một câu khôi hài. Nhưng họ biết, lời nói đùa có thể được công chúng tin chắc hoặc ngờ ngợ tin là thật, vì thế dù sao Nguyễn Công Hoan cũng phải lên tiếng, tuy ông chỉ nhấn mạnh rằng ý tứ truyện Cô Giáo Minh trái hẳn với Đoạn Tuyệt. [5] Đến lượt Khái Hưng đáp lại, khăng khăng giữ nhận định riêng: hai cuốn Cô Giáo Minh và  Đoạn Tuyệt “giống nhau lắm”, rồi đánh trống lảng, chuyển câu chuyện sang trò chơi phán đoán về giá trị: cuốn nào hay hơn sẽ còn lại, tất nhiên là lộ rõ cái ý: sách của tác giả TLVĐ nhất định phải hay hơn! [6] 

Đặt trong tình trạng khá đa dạng về văn phái, về báo chí văn học đương thời, giọng điệu khẳng định tác phẩm của văn phái mình hay hơn các văn phái khác, báo mình xử sự tốt đẹp hơn báo khác, hầu như là một kỹ thuật phòng ngự-phản công rất mực phổ cập. Các báo Phong Hóa, Ngày Nay của TLVĐ không nằm ngoài ứng xử ấy. Khác với thái độ công bằng của Phan Khôi trong vai trò “Ngự sử đàn văn”, các trang Phong Hóa trên đó Hàn Đãi Đậu nhặt nhạnh “những hạt đậu dọn” trong vườn văn thiên hạ, thường lưu ý bắt bẻ những sai sót, lầm lạc trong thơ văn các tác giả khác, chứ gần như không khi nào động đến tác phẩm các thành viên TLVĐ. 

Sự hoạt động liên tục của các trang này – bên cạnh tác dụng cảnh báo giới viết văn viết báo đương thời về nhiệm vụ làm sáng sủa câu văn tiếng Việt – còn mang lại những kết quả chỉ có lợi riêng cho TLVĐ, tạo cho văn đoàn này và các thành viên của nó một thế đứng trên, thế đứng đàn anh, áp đảo đối với các cá nhân nhà văn cũng như các văn phái khác, đương thời. Các tờ báo của TLVĐ có mặt liên tục trong gần 10 năm, cho nên áp lực mà họ tạo ra trong đời sống văn nghệ đương thời là rất mạnh, khiến họ mặc nhiên được xem như nhóm văn nghệ chi phối diện mạo văn học những năm 1930-40. Chỉ cần đọc hồi ức Nguyên Hồng về lần đầu tiên được gặp Thế Lữ, khoảng 1934-35 ở Hải Phòng, cảm nhận cảnh người anh họ sang trọng, tài cao, học cao, hỏi han ban phát và khích lệ người em họ nghèo khó ham học ham viết, [7] là có thể hiểu vì sao, khi nói tới Vũ Trọng Phụng, báoNgày Nay lại sẵn sàng miệt thị ông là “nhà văn xã hội kỳ quặc” chuyên “lòe độc giả bằng cái học vấn sơ học của mình”. [8] 

Giới nghiên cứu hậu thế hiện nay thường hướng cái nhìn ngưỡng mộ về di sản của TLVĐ, song cũng nên biết một phần dư luận đương thời đối với văn đoàn này ra sao. Người ta không khó để thấy được tìm được những ví dụ loại này ở báo chí Hà Nội đương thời.

Xin dẫn một số ý kiến độc giả gửi tới Hà Nội Báo, biểu đồng tình với việc báo này phê phán TLVĐ, nhân những tranh luận giữa tuần báo này với Phong Hóa, từ đầu năm 1936 cho tới khi Phong Hóa bị đóng cửa.

 Các độc giả này kể ra ba cái tội của báo Phong Hóa, trong đó bên cạnh tội chế giễu cái ngu dốt của dân quê và chế giễu những người tàn tật còn có tội dìm đồng nghiệp: “Không có một cách cạnh tranh bất chính nào là  Phong Hóa không dùng tới, để dìm đồng nghiệp xuống. Bất kỳ một tờ báo nào mới ra cũng bị Phong Hóa nói xỏ nói xiên, nói châm nói chọc, có khi kéo cả đại đội ra để công kích. Họ công kích như vậy để làm gì? Cốt cho đồng nghiệp lùi đi, để trên bãi cỏ xanh, chỉ còn một mình họ ăn…” (ý kiến ông Đặng Thế Xương).[9] 

Như vậy, có thể nói, trong tầm nhìn của công chúng đương thời, tiếng nói của TLVĐ không phải chỉ có một chiều được hưởng ứng, đồng tình, mà còn gây không ít những phản cảm, phản kháng. 

Nhìn chung, thái độ thường là kẻ cả, trịch thượng của các thành viên TLVĐ đối với các nhà văn và các nhóm văn nghệ khác đương thời, một mặt tạo cho họ uy thế, sự thán phục, sự lắng nghe, sự bắt chước, học theo làm theo, từ phía những cây bút khác, nhất là số người đang tập tành nghề viết; nhưng mặt khác cũng tạo khoảng cách giữa các nhà văn trong TLVĐ đối với các nhà văn khác. Khoảng cách này có thể đã khiến hầu hết các nhà văn trong TLVĐ xem thường, không tính đến, không xem xét, không tiếp nhận kinh nghiệm từ các nhà văn ngoài TLVĐ; đây là điều không hay, thậm chí có hại cho con đường sáng tác của họ. 

Các nhà văn trong TLVĐ từng khiến giới viết truyện đương thời cảm phục và gắng sức đua theo, vì kiểu tiểu thuyết luận đề là do họ đề xướng và cho ra mắt những sản phẩm đầu tiên. Tuy vậy, điều đáng nói là, nếu như các cây bút văn xuôi trong TLVĐ đã in dấu vào mô hình thể tài tự sự này ở điểm khởi đầu, thì chính họ lại không có sản phẩm nào nằm trong sự kết tinh của cả quá trình phát triển ấy. Quả thật, không có tác phẩm nào đáng gọi là kiệt tác trong số các tiểu thuyết TLVĐ. Bởi nếu nói đến kiệt tác ở văn xuôi tự sự hư cấu giai đoạn ấy, người ta chỉ kể được Số Đỏ (của Vũ Trọng Phụng) và  Chí Phèo (của Nam Cao), hai tác phẩm của hai nhà văn ngoài văn đoàn Tự Lực. 

Lý giải điều này là việc không dễ. 

Tuy vậy, có thể nghĩ tới một trong những lý do là sự quá tự tín của các nhà văn trong TLVĐ. Họ đã nghĩ một cách nghiêm chỉnh đến việc tiếp nhận kinh nghiệm sáng tác của các nhà văn Âu Tây, nhưng họ lại hầu như hoàn toàn xem thường kinh nghiệm sáng tác của giới viết văn người Việt cùng thời với mình.

Chẳng hạn, về ngôn ngữ, họ chủ trương và thực hành việc viết bằng một thứ tiếng Việt trong sáng, giản dị, dễ hiểu, song họ hầu như không để ý đến việc những người viết văn đương thời thể nghiệm hoặc xử lý ra sao đối với chất liệu đời sống Việt Nam hoặc chất liệu ngôn ngữ tiếng Việt. Hoặc, họ có hầu như ngay từ đầu những ý tưởng về nhu cầu thoát khỏi chế độ đại gia đình để tìm đến kiểu gia đình hạt nhân, vốn phù hợp với sự phát triển con người cá nhân của một lớp thanh niên mới xuất hiện trong xã hội thuộc địa Âu hóa những năm 1920-30; song họ có khá ít sự hiểu biết về các tầng lớp dưới, ở cả thôn quê lẫn đô thị cũng đương thời ấy. Thế nhưng họ lại xem thường những khảo sát về những lớp người ấy do các nhà văn nhà báo bên ngoài văn phái họ thực hiện. Các tiểu thuyết của họ có văn phong sáng sủa, mực thước, nhưng cả tác giả, người kể chuyện lẫn các nhân vật trong truyện đều nói cùng một giọng, mọi nhân vật đều nói như nhau, hầu như không cho thấy các sắc thái giọng nói.
 
Đấy chỉ là một trong số những dấu hiệu về sự khác biệt, song lại là khác biệt về “bí kíp” của sự nhạt nhẽo ngày càng lộ rõ trong ngôn ngữ của các tác gia văn xuôi TLVĐ, so với những sắc giọng đậm và mặn, có khi thô lỗ, có khi tục tằn, in dấu khẩu ngữ, biệt ngữ, phương ngữ trong mạch văn của không ít tác gia ngoài TLVĐ. 

Mà đấy chỉ là một trong những ví dụ về hệ quả của thế đứng cách bức, trịch thượng và xa lạ, của TLVĐ so với những nhà văn đương thời ngoài nhóm ấy. 

Điều đó gây thiệt hại cho họ, cho văn chương, chứ không phải cái gì khác. 

Ngày Tự Lực văn đoàn công bố 10 tôn chỉ của mình, 2-3-1934, được coi là ngày thành lập hội đoàn sáng tác này. 10 tôn chỉ đó là:

 1. Tự sức mình làm ra những sách có giá trị về văn chương chứ không phiên dịch sách nước ngoài nếu những sách này chỉ có tính cách văn chương thôi: mục đích là để làm giàu thêm văn sản trong nước.

 2. Soạn hay dịch những cuốn sách có tư tưởng xã hội. Chú ý làm cho người và xã hội ngày một hay hơn.

 3. Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân.

 4. Dùng một lối văn giản dị, dễ hiểu, ít chữ nho, một lối văn thật có tính cách An Nam.

 5. Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có trí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ.

 6. Ca tụng những nết hay vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân, khiến cho người khác đem lòng yêu nước một cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quý phái.

 7. Trọng tự do cá nhân.

 8. Làm cho người ta biết rằng đạo Khổng không hợp thời nữa.

 9. Đem phương pháp khoa học thái tây [gọi chung những nước Âu Tây] ứng dụng vào văn chương Việt Nam.

 10. Theo một trong 9 điều này cũng được miễn là đừng trái ngược với những điều khác.

(Theo wikipedia)


---

* Bài viết là bản rút gọn của bài đã đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn học, Hà Nội, số 12 (tháng 12/2013), tr. 112-121.

 [1] Vũ Trọng Phụng: Để đáp lời báo “Ngày Nay”: Dâm hay là không dâm // Tương Lai, Hà Nội, s. 9 (25.3.1937)

[2] Phong dao mới // Phong Hóa, Hà Nội, s. 14 (22 Septembre 1932), tr. 2.

[3] Bài có lẽ sớm nhất của Phan Khôi về Phong Hóa là bài “Vẽ hình” trong mục “Những điều nghe thấy” ký Thông Reo (Trung Lập, Sài Gòn, ngày 5 và 6 Février 1933). 

[4] Xem: Xuân thủ đâm ân // Phong Hóa, Hà Nội, s. 172 (31 Janvier 1936), tr. 3 (Lưu ý: đây là nhại mấy từ “Xuân thủ đàm ân” /= đầu xuân nói việc ơn ích/ mà các báo đương thời thường đặt làm tên mục thông tin những việc thăng thưởng cho quan lại, viên chức; tòa soạn Phong Hóa ghi chú từ “đâm” là “nẩy ra đâm ra”; đây là một trong rất nhiều mục châm biếm, hài hước thường xuyên trên báo Phong Hóa). 

[5] Nguyễn Công Hoan: Từ “Đoạn Tuyệt” đến “Cô Giáo Minh” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 9 (4 Mars 1936), tr. 8-9.

[6] Khái Hưng: Cùng ông Nguyễn Công Hoan // Phong Hóa, Hà Nội, s. 177 (6 Mars 1936), tr. 4 (đăng lại trên Hà Nội Báo, s. 11, ngày 18 Mars 1936, tr. 9-11)

[7] Nguyên Hồng: Nhà thơ ở Ngõ Nghè (trích hồi ký “Bước đường viết văn”, 1970) trong sách: Thế Lữ, Cuộc đời trong nghệ thuật, Hà Nội: Nxb. Hội Nhà Văn, 1991, tr. 57-68. 

[8] Nhất Chi Mai: Ý kiến một người đọc: Dâm hay không dâm? // Ngày Nay, Hà Nội, s. 51 (14 Mars 1937), tr. 137 [báo đánh số trang theo thứ tự trong bộ báo cả năm] 

 [9] Tội trạng báo “Phong Hóa” // Hà Nội Báo, Hà Nội, s. 15 (15 April 1936), tr. 21.
Người đăng: Võ Thị Long Lanh vào lúc 04:51 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: tiểu luận

Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014

người đẹp showbiz: Irina Shayk

Irina Shayk đẹp như tượng trên sàn catwalk
Irina Shayk đẹp như tượng trên sàn catwalk
 Vẻ đẹp nóng bỏng của người mẫu “nội y” Trung Hoa
 Hoa hậu thế giới được in hình lên tem


 
VN
Hiện tại cô cũng là người mẫu của nhãn hiệu áo tắm Beach Bunny
Người đăng: Võ Thị Long Lanh vào lúc 09:42 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Hình ảnh

Thứ Hai, 31 tháng 3, 2014

giải mã sự lập trình của tạo hóa


Khoa học và Công nghệ
11:38-24/01/2014 
Giải mã sự lập trình của tạo hóa
Trần Xuân Hoài

Mohamet
Đã từng có khẳng định rằng, ở đâu mà khoa học còn vắng bóng ở đó có đức tin (tín ngưỡng). Cũng chưa hẳn thế, ngay ở những  nơi, những lúc mà khoa học là chủ đạo thì ở đó vẫn có đức tin, có bí ẩn tâm linh song song tồn tại. Mở đầu một năm mới, cũng là lúc thử luận bàn về khoa học và sự huyền bí tâm linh.

Đức Tin 


Với gần một nửa nhân loại đức tin được dành cho một đấng duy nhất, Chúa Trời (God, Alla), đó gọi là tín ngưỡng Đơn Thần. Những nhà tiên tri, đều là người trần, được tôn thờ như là sứ giả của Chúa Trời, mang thông điệp và lời răn của Chúa Trời đến cho con dân của chúa. Từ thuở hồng hoang đến nay, tổng cộng có 25 nhà tiên tri và sứ giả, trong đó 23 của đạo Do Thái, từ Adam là người đầu tiên  đến Yahva (John) là thứ 23, sứ giả thứ 24 là Jesu của Kito giáo và sứ giả thứ 25 là Mohamet của đạo Islam (Hồi) và theo khẳng định của đạo Islam, thì Mohamet cũng là người cuối cùng, từ nay Chúa Trời không gửi sứ giả nào đến nữa. Những lời của Chúa giao cho họ mang đến được  ghi lại trong các Sách mặc khải (revealation Book), ví như Cựu ước của Do Thái, Phúc âm (Gospel) của Jesu hay Q’uran của Mohamet. Với một phần nhân loại còn lại thì đức tin dành cho nhiều thần linh –Đa thần giáo, như Đạo Hindu, Bàlamôn, Bái vật giáo... hoặc dành cho một triết thuyết với người đứng đầu mà họ tôn sùng - Nhân thánh giáo, như Phật giáo, Khổng giáo, Đạo giáo, Thần giáo v.v. Và nhóm cuối cùng, không dành đức tin cho Chúa, Thần hay Thánh nào cả, chỉ tin vào nhân loại và vũ trụ, họ tự nhận là người Vô thần. Vì là đức tin, đơn giản “tôi tin như vậy” cho nên dù bài xích lẫn nhau, thậm chí đánh giết nhau, nhưng vẫn song song tồn tại. Tất nhiên lại càng không thể bàn đến chuyện luận cứ khoa học của Đức tin. Tuy đã có đầy đủ các hình thức của Đức tin, được giáo huấn đầy đủ về con người và cuộc đời rồi, nhưng con người vẫn liên tục tìm cách khám phá bí mật của đời người. Dù thuộc nhóm đức tin nào, dù muốn hay không, thì với nhân loại, việc tìm cách tiên tri hay tiên đoán mà dân gian gọi là Bói toán, là hoạt động đã tồn tại hàng ngàn năm qua cho mãi đến nay, và có lẽ là một trong những môn cổ nhất lịch sử văn minh nhân loại. Nói theo ngôn ngữ khoa học, đó là việc cố mò mẫm để giải đoán lập trình của tạo hóa.

Chiêm tinh học

Ba ngàn năm trước Công nguyên (CN), người Lưỡng Hà (Vùng Irac-Syria ngày nay) bắt đầu mày mò nhìn đoán sao trên trời-Chiêm tinh (Astrology). Họ đã quan sát bầu trời và phát hiện ra chuyển động biểu kiến của  Mặt trời tương ứng với vị trí các chòm sao nhất định, có tính chu kỳ hằng năm. Và sau đó người Babylon tạo ra 12 ký hiệu Hoàng đạo. Người Ai Cập cải tiến nó và đến lượt người Hy Lạp thì hệ Hoàng đạo (Zodiac) đã hoàn chỉnh. Họ đã chia một chu kỳ Mặt trời ra được 12 cung (độ dài khoảng 30 ngày) định vị với các chòm sao tương ứng trong một năm. Họ cho rằng một người sinh ra trong cung nào thì mang đặc tính của cung đó. Đến đây thì người xưa có lý và có thể coi đó là một phát kiến có luận cứ khoa học. Vấn đề trở nên phi khoa học là việc gán cho mỗi cung Hoàng đạo những thuộc tính của con người cùng với những tương tác của các cung Hoàng đạo với nhau, là hoàn toàn nhân tạo. Và khi lấy đó làm cơ sở tiên đoán thời mệnh của con người thì đó là việc hoàn toàn tùy tiện, không thể lý giải. Nhưng đó lại chính là mảnh đất làm ăn của các nhà Chiêm tinh học cổ đại và hiện đại. Dù biết là vô lý như vậy nhưng loài người ngày nay, nhất là giới trẻ vẫn gửi niềm tin vô vọng vào đó. Người ta còn kể rằng phu nhân Tổng thống Mỹ thứ 40 Ronald Reagan từng tham khảo thường xuyên ý kiến của một nhà chiêm tinh về những vấn đề quan trọng liên quan đến chồng bà. Trong thị trường chứng khoán Wall Street, nhà tài chính J.P. Morgan lúc nào cũng thuê một chiêm tinh gia trong ban bệ mình. Một chiêm tinh gia chuyên làm ăn ở Wall Street có lần khoe rằng ông có đến 15.000 khách hàng!.

Tử vi


Ở Phương Đông thì cũng thịnh hành một kiểu gần giống thuật chiêm tinh nói trên, gọi là Tử vi. Khởi nguồn muộn hơn, có thể là thế kỷ 10 sau CN, và được quy cho Trần Đoàn, hiệu là Hi Di, đời Tống sáng tạo ra. Cũng giống như thuật Chiêm tinh Tây phương, Tử vi cũng coi số mệnh con người được an bài từ lúc chào đời. Lấy ngôi sao ứng với thời điểm chào đời làm sao chiếu mệnh. Thời điểm chào đời tính theo lịch Mặt trăng, mà tên gọi của năm là tổ hợp của 10 can và 12 chi –tức 12 con giáp. Từ các thông số đó và giới tính, theo một quy trình do con người không dựa trên bất kỳ cơ sở nào để xếp các sao thành một lá số. Đó là điều thứ nhất mang tính áp đặt buộc phải thừa nhận mà không lý giải được vì sao. Cái thứ hai không thể lý giải được là hệ thống sao của Tử vi đã không theo một quan sát thiên văn nào cả mà hoàn toàn do con người tự đặt ra (Ban đầu theo Hi Di thì có 93 sao, hậu thế thì lại an đến 118 sao). Điều vô lý thứ ba, Tử vi cũng gán cho mỗi sao mỗi thuộc tính và quy luật tương tác không dựa trên một cơ sở nào cả. Điều này cũng hoàn toàn giống như điều phi lý của Chiêm tinh học khi quy cho mỗi cung Hoàng đạo một thuộc tính. Thực tế là do người xưa truyền thế nào thì theo, hoặc nếu không theo người xưa mà theo ngày nay cũng được! Vô lý chưa, vậy nhưng tin thì cứ tin, và sự thực thì bói Tử vi vẫn tồn tại mãi mãi. Con người mà!
  
Kinh dịch

Phương Đông từ rất sớm, quan niệm vạn vật từ vũ trụ đến con người là sự kết hợp của âm dương và từ hơn năm ngàn năm trước CN đã xây dựng được một hệ thống biểu diễn toán học của quan niệm tổng quát đó bằng các quẻ của Kinh Dịch. Cổ nhân dùng một nét gạch liền gọi là Dương và một nét đứt đoạn gọi là Âm. Đó chính là Lưỡng nghi, theo toán học ngày nay đó là cơ số 2. Khi chồng hai gạch đó lên nhau, thì thu được 4 tổ hợp, gọi là Tứ tượng, tương ứng 22.Chồng thêm một gạch (liền hoặc đứt) nữa thì thu được tám tổ hợp, gọi là bát quái, tương ứng 23. Chồng hai tổ hợp của bát quái lên nhau, thu được tất cả 64 tổ hợp, gọi là Trùng quái, tương ứng 26. Cái vĩ đại của Dịch là ở chỗ đã sơ khởi cho Số học nhị phân (Binary Arithmetic) hiện đại. Cha đẻ của số học nhị phân hiện đại là nhà Toán học thiên tài người Đức, Gottfried Leibnitz (1646-1716). Nhà truyền giáo người Pháp, đã từng ở Trung Hoa vào năm 1685, Joachim Bouvet, đã hướng dẫn cho Leibnitz tìm hiểu về đồ họa 64 quẻ Kinh Dịch. Người ta cho rằng những học hỏi về Quẻ Dịch đã có ảnh hưởng không nhỏ đến phát kiến về Số học Nhị phân công bố năm 1703 trong công trình Explication de l’Arithmétique Binaire (Giải thích về số học nhị phân). Trên cơ sở số học nhị phân đó, nhà toán học người Anh George Boole năm 1854 đã dựng nên môn Đại số Logic hay còn gọi là Đại số Boole (Boolian Algebra), làm nền tảng cho kỹ thuật Số (Digital) và kỷ nguyên Máy tính và công nghệ tin học, Internet ngày nay. Đáng tiếc là cổ nhân Trung Hoa (hay Việt, vì có người cho rằng Kinh Dịch có gốc từ tộc Việt!) hơn 4000 năm trước chỉ dừng lại ở 64 quẻ Dịch, coi chúng như biểu trưng cho sự bí ẩn huyền diệu. Tương truyền rằng do hiểu được thâm ý của Phục Hy (năm ngàn năm trước CN) khi chế ra 64 quẻ Dịch, các bậc thánh hiền hậu sinh, mỗi người mỗi cách gửi gắm minh triết của mình vào mỗi quẻ Dịch một bài thuyết giảng, bắt đầu từ Chu Văn Vương viết lời Soán, con là Chu Công viết Hào từ, rồi Khổng Tử giải nghĩa thêm gọi là Thập Dực, thế là bộ Kinh Dịch hoàn thành, người đời sau cứ thế mà suy luận thoải mái, gọi là giải Dịch.

Vì dựa trên hệ nhị phân, giống như đồng tiền có hai mặt quy ước Âm-Dương, nên khi gán một quẻ Dịch cho đối tượng nào thì làm thủ thuật xin quẻ, đơn giản nhất là tung đồng tiền, theo sáu mặt ngửa (Âm hoặc Dương) của đồng tiền thu được sau sáu lần gieo, ta được một quẻ Dịch cho đối tượng đó. Thế là các nhà bói dịch dựa vào các lời thánh hiền viết cho mỗi quẻ mà giải thuyết, không khác gì dân Việt ta bói Kiều, đối tượng tin sái cổ!

Theo nhiều người, các lời viết trong Kinh Dịch là minh triết kỳ diệu của Đông phương, chứa đựng nhân sinh quan và vũ trụ quan sâu sắc. Điều này thì không dám lạm bàn ở đây, chỉ có thể bàn rằng việc gán cho mỗi quẻ dịch chứa một phần triết thuyết nào đó là không có cơ sở và việc giải đoán nó lại càng mơ hồ. Sau nữa, thủ thuật  xin quẻ cho đối tượng dưa trên sự xin quẻ ngẫu nhiên, rõ ràng là thua xa việc dựa trên thời điểm ra đời của đối tượng như thủ thuật Chiêm tinh học hoặc Tử vi sử dụng. Tuy nhiên, con người mà, cứ tin được là tin, càng mơ hồ, bí hiểm, đa dạng, đa nghĩa càng dễ tin...

Khám phá sự lập trình của Tạo hóa

Gần đây, nhiều nhà khoa học các ngành khác nhau ở cả Đông lẫn Tây đưa ra giả thuyết rằng giữa các quẻ Dịch, các sự sắp xếp đồ hình trong Kinh Dịch với Mã Di truyền học DNA có một sự trùng hợp kỳ lạ. Xu hướng này khởi xướng năm 1973 bởi M. Schönberger: The I Ching & The Genetic Code– The Hidden Key to Life.( Kinh dịch và mật mã di truyền ), và hiện nay nhiều nhà khoa học vẫn còn đang tiếp tục nghiên cứu phát triển. Tuy rất hấp dẫn, nhưng hiện tại kết quả còn đơn sơ.

Vào đầu thế kỷ 21, nhà Vật lý lừng danh Stephen Wolfram (Mỹ), người tạo ra bộ công cụ MATHEMATICA nổi tiếng mà các nhà KHCN ngày nay đều sử dụng, đã viết một quyển sách dày nghìn trang, A New Kind Of Science- Một Loại Hình Khoa Học Mới, làm chấn động giới khoa học. Stephen Wolfram muốn phát hiện những viên gạch đầu tiên mà Chúa đã đặt xuống để xây dựng vũ trụ (bằng) Tế bào automat cơ bản (CA-Cellular Automaton) 

Tế bào automat là đơn vị nằm trong một ô mạng gián đoạn sử dụng cho tính toán. CA cơ bản có một chiều (dimension), mỗi tế bào có 2 trạng thái: 1 và 0 hay đen và trắng, mỗi tế bào có 2 tế bào lân cận nằm hai bên. Như vậy với các CA cơ bản ta có một tập gồm 3 tế bào vậy có 23 = 8 cấu hình cho một tập như thế. Không khó để nhận ra rằng Tập tế bào Automat này mang hơi hướng của Bát Quái trong Kinh dịch (so sánh hai hàng trên cùng của  hình 1). Nên nhớ rằng nội dung cốt lõi của Dịch là sự biến hóa. Điều này cũng là ý tưởng chính của Wolfram. Sở dĩ các tế bào này được gọi là automat vì chúng tự động phát triển trong thời gian theo những quy tắc nhất định. Các quy tắc này rất đơn giản, logic và chứng minh được. Dễ dàng để xác định rằng, tổng cộng chỉ có 256 quy tắc biến thiên. Bằng những chương trình tính toán đồ sộ, Wolfram đã cho thấy sự ứng dụng CA bao trùm nhiều lĩnh vực: phép tính song song, sự sống nhân tạo (artificial life), xử lý và tạo hình ảnh, mô hình các hệ sinh học, mô phỏng trong hóa học, trong vật lý, chảy cuộn xoáy (turbulence), đồ họa và nghệ thuật… Đó cũng là cơ sở để hy vọng  rằng  sử dụng 256 quy tắc cho sự phát triển của CA, chúng ta có thể tái tạo mọi  sự phức hợp (complexity) trong vạn vật (Hình 1).  


Hình 1

Từ những năm 80, Robin Gandy một nhà toán học và logic học Anh đã đề xuất ý tưởng rằng Vũ trụ có thể mô hình hóa bằng một máy tính cổ điển với bộ nhớ lớn vô cùng. Điều này là  dễ lý giải, vì nếu phân không gian thành những khối lập phương nhỏ thì trạng thái của mỗi hình lập phương ở thời điểm  t+1 sẽ là hàm số của trạng thái các hình lập phương lân cận ở thời điểm t. Các nhà lý thuyết thông tin gọi đây là quy tắc định xứ (local rule). Và như thế trạng thái của vũ trụ ở thời điểm t+1 có thể tính được từ trạng thái của vũ trụ ở thời điểm t bằng cách sử dụng quy tắc định xứ. Tiến hành như vậy Gandy đi đến kết luận Vũ trụ là một máy tính khổng lồ song song hay nói cách khác là tập lớn tế bào automat (CA).

Thể xác và Linh hồn


Đơn vị thông tin cổ điển là bit có khả năng lấy hai trị số 0 và 1. Để mô tả vật chất ở mức tận cùng vi mô, thì phải dùng đến thuyết lượng tử. Bởi vì thế giới khách quan vốn phải tuân theo lý thuyết lượng tử , cho nên vấn đề là cần phải lượng tử hóa CA thành Tế bào Automat lượng tử (QCA-Quantum Cellular Automaton). Trong lý thuyết lượng tử đơn vị thông tin là Qubit (Quantum bit-bit lượng tử). Về mặt vật lý một Qubit được biểu diễn bởi một hệ lượng tử có hai trạng thái. Ví dụ photon (với phân cực thẳng đứng và nằm ngang), electron hoặc các hạt spin ½ (với spin ngược-up và xuôi-down) hoặc một hệ lượng tử như nguyên tử hoặc ion với hai mức năng lượng. Các nhà Vật lý đã phát hiện ra rằng, nếu ta có hai Qubit tương tác thì xuất hiện hiện tượng gọi là liên đới lượng tử (quantum entanglement). Khi hai hạt liên đới lượng tử thì chúng tiếp tục tương tác với nhau mặc dầu khoảng cách giữa chúng trở nên vô cùng. Những ai giàu trí tưởng tượng mà nghe qua điều nay thì sẽ liên tưởng ngay đến vẻ huyền bí như linh hồn có thần giao cách cảm (teleparty) vậy.

Trên cơ sở Qubit có thể xây dựng nên những máy tính lượng tử bao gồm các QCA và  Cổng lượng tử QuG (Quantum Gate). Ý tưởng về một máy tính lượng tử như vậy đã được đề xuất bởi nhà Vật lý R.Feynman (Nobel 1965) từ những năm 1982, đến nay đã tìm được nhiều hướng giải quyết và đã có nhiều kết quả. Các nhà Vật lý trên khắp thế giới đang hợp tác với các nhà Toán-Tin học để thực hiện ý tưởng khoa học lớn này với giấc mơ hiểu được sự lập trình của tạo hóa. Lúc đó, hy vọng sẽ có câu trả lời cho nhiều câu hỏi không thể có đáp án, ví dụ như:

Bạn có tin rằng Con người và Vạn vật chỉ là tập hợp của hơn 130 nguyên tố trong bảng tuần hoàn không? Nếu bạn trả lời là có tin, vậy thì bạn có tin có linh hồn không? Nếu bạn lại cũng tin là có linh hồn thì phải chăng Linh hồn cũng là vật chất, và được tạo bởi hơn 130 nguyên tố trong bảng tuần hoàn Mendeleev? Xem ra có vẻ vô lý quá!.

Coi vũ trụ là một hệ máy tính lượng tử song song  khổng lồ như nói ở trên là một quan điểm nhằm tiến đến một lý thuyết thống nhất tối hậu của vật lý. Quan điểm này dẫn đến một hình hệ (paradigm) mới dựa trên thực thể cơ bản rằng không phải chỉ có  vật chất là cấu thành các thực thể của vũ trụ mà thông tin lượng tử cũng là một cấu phần của chính các thực thể đó. Như vậy là vạn vật được cấu thành bởi hai phần: Vật chất và Thông tin lượng tử. Vậy thì câu hỏi về linh hồn có vẻ cũng có hướng giải quyết rồi!

Chúng ta hãy chờ xem bao giờ loài người xây dựng được máy tính lượng tử khổng lồ để giải mã sự lập trình của tạo hóa. Nhưng chờ đến lúc đó thì lâu quá, còn bây giờ thì nhiều người đang lo lắng hỏi nhau những điều cụ thể, gần hơn, ví dụ như:

Tại sao 53 là hạn trung niên;  61, 69  là tuổi đáng ngại cho người cao niên ?

Để giải bài toán (câu hỏi) này chúng ta thống nhất dựa trên những luận cứ khoa học cổ, kim đã được công nhận là đúng đắn sau đây:

Chân lý chỉ có thể tiệm cận. Mọi lời giải chỉ là gần đúng. Chúng ta ở đây tạm thời chỉ sử dụng phép gần đúng bậc một là phép gần đúng kém nhất. (theo Triết học và Khoa học hiện đại).

Con người là một thực thể của vũ trụ. Sự hình thành và phát triển của con người là do trạng thái của vũ trụ quyết định. (Như quan điểm của Chiêm tinh và Tử vi).

Trạng thái của vũ trụ khi một con người sinh ra là khởi điểm cho sự hình thành và từ đó mà biến đổi và phát triển lên (quan điểm của Kinh Dịch , CA và QCA). Trong quá trình phát triển, nếu có các trạng thái vũ trụ như nhau hoặc gần như nhau thì dạng phát triển ở lần sau là đồng dạng hoặc gần đồng dạng về bản chất với lần trước.

Trong phép gần đúng bậc 1 thì đối với con người trạng thái của Vũ trụ là vị trí đối với nhau của tâm Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất. Quỹ đạo là phẳng. Bài toán là 2D (hai chiều, hình 2). Những tác động của các thiên thể, ngân hà, thiên hà khác là có nhưng ở phép gần đúng này thì bỏ qua
Mặt trời là có ảnh hưởng lớn nhất, vì vậy đơn vị tính thời gian là lấy năm Mặt trời, tức một vòng quay biểu kiến của quả đất quanh Mặt trời. Mặt trăng tuy nhỏ hơn nhiều sao khác nhưng gần Trái đất nhất, nên quỹ đạo Mặt trăng (tháng Mặt trăng) cũng là thông số chính yếu.

Năm số không gần đúng là 9 tháng trong bụng mẹ cộng 3 tháng sau khi chào đời. Đó chính là tuổi tiên thiên trời định. Những trạng thái của vũ trụ lặp lại của tuổi tiên thiên tạo nên sự biến dịch của người đó (dù xấu hay tốt) được xem là bình thường như tạo hóa đã ban tặng. Nói đơn giản đó là tuổi những thay đổi đã theo một khuôn mẫu như khi tạo hóa sinh ra, không biến đổi đột xuất.

Ngày nay với khoa học kỹ thuật hiện đại và máy tính khổng lồ, con người có thể đo đạc và tính toán chính xác đến từng giây, từng mét từng radian tọa độ vũ trụ của của Mặt trời, Mặt trăng và Trái đất. Nhưng chưa cần phải sử dụng đến độ chính xác này ở phép gần đúng thứ nhất. Chỉ cần dùng đến các quy luật thiên văn chính xác đến ngày Mặt trời (Solar day) hoặc ngày thiên văn (sidereal day) là đủ. Vị trí của Trái đất so với Mặt trời được đặc trưng bởi quỹ đạo Trái đất quanh Mặt trời, là năm Mặt trời. Một năm Mặt trời có 365,2425 ngày. Vị trí của Trái đất và Mặt trăng quay quanh Trái đất so với Mặt trời được xác định bởi quỹ đạo của Mặt trăng quanh Trái đất (có tính đến sự dịch chuyển của Trái đất quanh mặt trời), tức là tháng Mặt trăng. Một tháng Mặt trăng có 29,53059 ngày. Trạng thái  vũ trụ của một thời điểm, ví dụ tại điểm bắt đầu của năm hình thành nên con người (tuổi số không) được xác định bởi 3 điểm: Tâm Mặt trời (S) , Tâm Trái đất trên Hoàng đạo (E) và Tâm Mặt trăng trên quỹ đạo tháng (L). Hết một năm Mặt trời, Trái đất trở về điểm E còn Mặt trăng trở lại điểm nào đó, L’ chẳng hạn (Xem hình 2).


Hình 2

Có hai khả năng xảy ra:

Điểm L’ khác L. Trạng thái vũ trụ của năm tiếp đó dĩ nhiên là khác với trạng thái năm số không, tất sẽ có những biến đổi và dịch chuyển mới, khác so với khi tạo hóa ban tặng cho ta lúc ra đời, cho nên  gọi là tuổi Biến dịch.

Cũng có thể sau một (hay nhiều năm) điểm L’ trùng hoặc gần trùng với L, năm tiếp đó có trạng thái lặp lại của năm số không. Con người phát triển là đồng dạng, tức cùng một khuôn mẫu, với năm số không, như là tạo hóa đã ban cho, ta gọi là năm tuổi Bình yên

Quan sát bầu trời, đo đạc ngày tháng, các nhà thiên văn đã khám phá ra:
Chu kỳ 19: 19 năm Mặt trời =235 tháng Mặt trăng, sai số chỉ 0.003. Nói một cách gần đúng dễ hiểu là trạng thái của bộ ba Mặt trăng-Trái đất-Mặt trời cứ 19 năm lặp lại như cũ. Chu kỳ này khá chính xác , hơn 4 trăm năm mới lệch một ngày, cho nên trong cõi trăm năm người đời có thể coi là trùng lặp tuyệt đối. (Vì lý do này mà trong lịch pháp , cứ 19 năm dương lịch thì trong 19 năm âm lịch phải có 7 năm gồm 13 tháng, tức là 7 năm nhuận). Chu kỳ này có tên là Chu kỳ Meton, đặt theo tên người Hy lạp đã khám phá ra (Meton of Athen ,năm 440 trước CN). Chu kỳ Meton  là do  hai tiểu chu kỳ (chu kỳ con) gần đúng cộng lại:

Tiểu Chu kỳ 8 (octaeteris):  8 năm Mặt trời = 99 tháng Mặt trăng, sai số 1,5 ngày, có nghĩa là cứ 5 năm thì lệch 1 ngày. Tiểu Chu kỳ này ta đặt tên là chu kỳ ÂM.

Tiểu chu kỳ 11: 11 năm Mặt trời =136 tháng Mặt trăng, sai số 1,5 ngày, tức là cứ 7,3 năm lêch 1 ngày. Ta đặt tên tiểu chu kỳ này là Chu kỳ DƯƠNG.

Vậy là con người sinh ra (năm số không) tiếp theo bảy năm biến dịch thì đến tuổi (hầu như)bình yên đầu tiên, 8 tuổi, cũng là hết một chu kỳ Âm. Hai năm Biến dịch nữa (9,10) sang năm 11 tuổi lại (hầu như) Bình yên, hết một chu kỳ Dương. Quan sát thống kê cho thấy rằng ở đứa trẻ gái, 8 tuổi là tuổi bắt đầu giới tính Nữ hình thành, cho nên tiểu chu kỳ 8 gọi là chu kỳ ÂM. Còn 11 tuổi là tuổi bé trai bắt đầu hình thành giới tính Nam, nên gọi là chu kỳ DƯƠNG. Giới tính của con người hoàn chỉnh ở chu kỳ thứ 2, Nữ là 16 tuổi (2x8) và Nam là 22 (2x11). Năm 19 tuổi là hoàn thành chu kỳ Meton = ÂM+DƯƠNG, là tuổi (tuyệt đối) Bình yên, âm dương hài hòa. Có thể  xác định Tuổi Bình yên (tính chất  chung cho các tuổi “hầu như” hoặc “tuyệt đối” Bình yên) của đời người theo công thức:

TUỔI BÌNH YÊN= A x 8 + D x 11, trong đó A và D là những số nguyên dương.

Những tuổi còn lại, không thể khai triển được như trên là tuổi Biến dịch (Hình 3)


Hình 3

Theo công thức đó mà tính, trong trăm năm đời người tuổi biến dịch tập trung nhiều ở tuổi trẻ và đến 69 là tuổi Biến dịch cuối cùng, còn Bình yên thì có đến 66 năm, đó là các tuổi: 8, 11, 16, 19, 22, 24, 27, 30, 32, 33, 35, 38, 40, 41, 43, 44, 46, 48, 49, 51, 52, 54, 55, 56, 57, 59, 60, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 70, 71, 72, 73,74, 75, 76,77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84, 85, 86, 87, 88, 88, 89, 90, 91, 92,93, 94, 95, 96, 97, 98, 99, 100…

Tuổi Bình yên phân thành tuổi Âm thịnh, tuổi Dương thịnh và tuổi Hài hòa (Hình 4): D-A >0: tuổi Dương thịnh; D-A < 0: tuổi ÂM thịnh;  D-A=0: tuổi Hài hòa

Trong các tuổi Biến dịch cũng có thể định lượng được sự Biến dịch bằng một số đo gọi là mức biến dị. Theo quy luật Vật lý, với cùng một mức độ thay đổi, nếu chuỗi biến dịch liên tục càng dài thì độ biến dị càng thấp, nếu có xảy ra ở một điểm thì sự biến dịch sau có thể tự sửa chữa. Vậy độ dài của chuỗi tuổi biến dịch liền nhau đặc trưng cho mức biến dị. Chuỗi càng ngắn thì mức biên dị càng lớn. Để dễ phân biệt, ta quy ước sử dụng các mức biến dị tương ứng với chiều dài chuỗi năm biến dịch như sau: Mức 1 là liên kết chuỗi lớn hơn 3 năm, khó xảy ra đột biến. Mức 2 là ứng với chuỗi 3 năm; mức 3 là chuỗi 2 năm và mức 4 là năm biến dị đơn độc, không có liên kết. Năm đơn độc này (23, 31, 34, 39, 42, 45, 47, 50, 53, 58, 61, 69) nói chung là dễ có những đột xuất đáng ngại của đời người, vì một khi có biến dị xảy ra thì không có chu trình kế tiếp để điều chỉnh mà phải chờ đến năm biến dịch gần nhất mới có cơ hội điều chỉnh.


Hình 4

Rõ ràng là mức độ đáng ngại của năm đơn độc càng tăng lên khi mà khoảng cách tính đến năm biến dị gần nhất (gọi là khoảng cô đơn) càng dài. Mức biến dị quy ước sẽ tăng thêm 1 nếu khoảng cô đơn là 2, và tăng thêm 1 giá trị nữa khi khoảng cô đơn lớn hơn 3 (Hình 5).


Hình 5

Dễ dàng thấy rõ các tuổi 53, 61 và 69 là có Mức Biến dị lớn nhất, đó là lý do vì sao những tuổi này là rất đáng quan ngại. Do mức biến dị lớn nên 53 là năm Hạn vì là năm có thay đổi đột biến mạnh nhất ở tuổi trung niên. Tuổi 61 và đặc biệt 69 là nguy hiểm cho người già, vì là tuổi cuối cùng của đời người có đột biến. Từ sau tuổi 69 là chuỗi tuổi bình yên liên tục, mọi thứ mà tạo hóa đã ban tặng sẽ suy giảm (già đi) đều đều theo khuôn mẫu trời định lúc chào đời mà không đột biến. Đến mốc 88 tuổi là đạt điểm đặc biệt, đó là điểm thuận ÂM (tổ hợp 11 chu kỳ Âm) hoặc thuần Dương (tổ hợp 8 chu kỳ Dương), giống như khi mầm sống nảy sinh, người già trở thành như con trẻ. Các mốc 76 và 95 cũng đáng chú ý, đó là điểm Âm-Dương hài hòa. Ở ba mốc dị thường này có thể rất tốt cũng có thể rất xấu.

Luận thuyết trình bày trên đây là dựa trên cơ sở tính toán khoa học, không mang chút nào tâm linh, huyền bí cả. Ít nhất nó đã được kiểm chứng bởi thực tế với 3 tuổi trong khoảng 53, 61, 69 (có tính đến sai số)  thì người ta nhận thấy có nhiều người từ trần, ốm đau, bệnh tật nhất. Các tiên đoán ở các tuổi Biến dị, Cô đơn, hoặc Bình yên khác có lẽ cần được kiểm chứng bằng các số liệu thống kê khoa học, xem có đúng không. Đây chỉ là những kết quả ở cấp  gần đúng thấp nhất. Khi nâng cao cấp gần đúng và độ phân giải, lưu ý cả không thời gian sinh ra của từng người, ta có thể dự đoán đến chi tiết hằng tháng, hằng ngày... của từng cá thể riêng biệt. Nhiều điều bất ngờ dự đoán quy luật tương lai từng người trên cơ sở khoa học đang được chờ đợi.

Ai đó đã nói rằng, bí ẩn của tương lai chính là động lực huyền diệu của tình yêu cuộc sống. Nhưng nếu biết được hết tương lai rồi thì… còn gì hấp dẫn để sống tiếp nữa! Vậy mà tại sao con người cứ tìm cách giải đoán tương lai?
-------------
Tài liệu tham khảo
1-Der Koran (Kinh Qu’ran), Wilhelm Heyne Verlag GmbH, Munchen 1992
2- Phan Bội Châu: Chu Dịch, NXB Văn Hóa Thông tin 1996
3-Stephen Wolfram, A new kind of Science: NKS | ON LINE, 2007
4-http://tiasang.com.vn/Default. aspx?tabid=111&News=1039&CategoryID=32
5-http://scienceworld.wolfram.com/astronomy/
Người đăng: Võ Thị Long Lanh vào lúc 09:47 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: khoa học

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

tìm đỗ ngọc thạch với Google

  1. ĐỖ NGỌC THẠCH - Việt Văn Mới

    newvietart.com/DONGOCTHACH_saigon.html‎
    Sinh ngày 19-5-1948, tại Phú Thọ. Năm l966 vào học tại Khoa Toán, trường Đại học Tổng hợp HàNội. Từ 12-1966 đến l0-1970 nhập ngũ trong bộ đội Ra-đa.
  2. ĐỖ NGỌC THẠCH - NHÀ VĂN - Thư viện - Nhavantphcm.com.vn

    nhavantphcm.com.vn/dỗ-ngoc-thach-nha-van-thu-vien.html‎
    Nhà văn Đỗ Ngọc Thạch sinh ngày 19 tháng 5 năm 1948, quê quán ở Phú Thọ. Ông đã tham gia quân đội từ 1966 đến 1970. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường ...
  3. Đỗ Ngọc Thạch - văn học & nghệ thuật

    www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacgia&action=detail...‎
    Sinh ngày l9-5-1948, tại Phú Thọ. Tốt nghiệp ĐH Tổng.. hợp (Khoa Ngữ Văn) năm l976;. Làm việc tại các cơ quan:Trường Dự bị ĐH DTTƯ, Viện Văn học, Tạp .
  4. Tìm kiếm: Đỗ Ngọc Thạch - 4phuong.net

    4phuong.net/index.php?action=search...Đỗ%20%20Ngọc%20Thạch‎
    Tìm kiếm: Đỗ Ngọc Thạch. Tìm được 0 kết quả. Gợi ý: Gõ Tiếng Việt không dấu để có kết quả tốt hơn. . [Lên đầu trang]. ©2013 - 4phuong.net | Liên hệ | Email: ...
  5. Đỗ Ngọc Thạch | Facebook

    https://vi-vn.facebook.com/thach.dongoc.3‎
    Tham gia Facebook để kết nối với Đỗ Ngọc Thạch và những người khác mà có thể bạn biết. Facebook trao cho mọi người quyền chia sẻ và mở rộng và kết nối ...
  6. Trang Văn Nghệ Chủ Nhật - Đỗ Ngọc Thạch

    www.vannghechunhat.net/truyen/do-ngoc-thach.html‎
    Chuyên mục: Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch Lượt xem: 389. In bài này · Gửi Email bài này. Hóa Thạch 1. Hóa thạch. Có nhà khảo cổ học nọ sau khi làm xong ...

  7. Hình ảnh cho đỗ ngọc thạchBáo cáo hình ảnh
    Hình ảnh khác cho đỗ ngọc thạch

  8. Đỗ Ngọc Thạch | viettruyen.vn

    viettruyen.vn/dongocthach18‎
    Tác giả Đỗ Ngọc Thạch CHÙM TRUYỆN MINI Truyện mini của Đỗ Ngọc Thạch 1. NGÔN NGỮ CỦA TÌNH CẢM Trong các lễ hội lớn của đồng bào các dân tộc ...
  9. Đỗ Ngọc Thạch - trieuxuan.info

    www.trieuxuan.info/?pg=tgdetail&id=495‎
    Đỗ Ngọc Thạch. Sinh ngày l9-5-1948, tại Phú Thọ. Tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn Đại họcTổng hợp Hà Nội năm l976; đã tham gia quân đội 4 năm và làm việc tại ...
  10. Đỗ Ngọc Thạch - YuMe.vn

    yume.vn/dongocthach18‎
    YuMe.vn - Trang cá nhân của Đỗ Ngọc Thạch. Trang profile cho phép bạn thiết kế theo phong cách riêng của mình, viết lên wall và chia sẻ với bạn bè: photo, ...



12345678910Tiếp
Người đăng: Võ Thị Long Lanh vào lúc 04:57 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: truyện ngắn
Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Bài đăng (Atom)

Tìm kiếm Blog này

Người theo dõi

Lưu trữ Blog

  • ▼  2015 (2)
    • ▼  tháng 3 (2)
      • người mẫu Jessica
      • người mẫu sexy
  • ►  2014 (24)
    • ►  tháng 6 (1)
    • ►  tháng 5 (4)
    • ►  tháng 4 (8)
    • ►  tháng 3 (6)
    • ►  tháng 2 (2)
    • ►  tháng 1 (3)
  • ►  2013 (482)
    • ►  tháng 12 (6)
    • ►  tháng 11 (21)
    • ►  tháng 10 (56)
    • ►  tháng 9 (66)
    • ►  tháng 8 (65)
    • ►  tháng 7 (52)
    • ►  tháng 6 (18)
    • ►  tháng 5 (14)
    • ►  tháng 4 (28)
    • ►  tháng 3 (51)
    • ►  tháng 2 (29)
    • ►  tháng 1 (76)
  • ►  2012 (138)
    • ►  tháng 12 (72)
    • ►  tháng 11 (1)
    • ►  tháng 10 (1)
    • ►  tháng 9 (1)
    • ►  tháng 6 (6)
    • ►  tháng 5 (8)
    • ►  tháng 4 (12)
    • ►  tháng 3 (14)
    • ►  tháng 2 (14)
    • ►  tháng 1 (9)
  • ►  2011 (78)
    • ►  tháng 12 (8)
    • ►  tháng 11 (17)
    • ►  tháng 10 (53)

Giới thiệu về tôi

Ảnh của tôi
Võ Thị Long Lanh
Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi

Tổng số lượt xem trang

Bài đăng phổ biến

  • Bài thơ "Người đẹp phương Bắc" của Lý Diên Niên
    Về bài thơ "Người đẹp phương Bắc" của Lý Diên Niên Lý phu nhân ( chữ Hán : 李夫人), người ở Trung Sơn (nay là huyện Định tỉnh Hà ...
  • Masaoka Shiki và haiku cận đại - N.V. Quỳnh Như
    Masaoka Shiki và haiku cận đại ThS. Nguyễn Vũ Quỳnh Như Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại TP. Hồ Chí Minh Masaoka Shiki (1867 - 190...
  • 10 truyện ngắn về Ngành Y- Trích: Đứa bé tật nguyền...
    10 truyện ngắn của THẠCH về Ngành Y ...
  • hoa hậu VN 2012...
    Hoa hậu Việt Nam 2012 liệu có hoàn hảo? Bởi  2sao.vn  |  2Sao  –  11:26 ICT Thứ bảy, ngày 25 tháng tám năm 2012 Email In ...
  • Trương Tửu là ai? - Đỗ Ngọc Thạch
    Trương Tửu là ai? - Đỗ Ngọc Thạch     Nhà văn Trương Tửu  Phê Bình, Tiểu Luận của Đỗ Ngọc Thạch - Trích: Trương Tửu l...
  • Tôi đã nghe Tổ quốc gọi tên mình - Đỗ Ngọc Thạch
    Tôi đã nghe Tổ quốc gọi tên mình Tiếng gọi thiết tha từ mẹ Âu Cơ và 50 người con gái theo mẹ ra biển Tôi đã nghe Tổ quốc gọi tên mình ...
  • tìm đỗ ngọc thạch trên Google - trích:
    ĐỖ NGỌC THẠCH   Tìm Đỗ Ngọc Thạch trên Google - Trích: Viên kim cương vàng có tên Sun Drop. Đỗ Honza +  Đỗ Ngọc Thạch  | Flickr ...
  • Bàn về Truyện ngắn - Đỗ Ngọc Thạch
    Truyện ngắn - Đặc trưng thể loại Truyện ngắn - Đặc Trưng Thể Loại - Đỗ Ngọc Thạch ... nhân...
  • người mẫu sexy
    Yujaeka bán nuy đẹp điên đảo khêu gợi với ánh nhìn đầy quyến rũ Người mẫu  Yujaeka  đang làm điên đảo  thế giới  ảo của đàn ông, ...
  • "tỷ lệ vàng" của khuôn mặt mỹ nhân
    Thứ tư, ngày 25 tháng chín năm 2013 Tỷ lệ vàng của khuôn mặt mỹ nhân Sao ...

Trang

  • Trang chủ
Chủ đề Đơn giản. Được tạo bởi Blogger.