Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác giả Đỗ Ngọc Thạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tác giả Đỗ Ngọc Thạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2012

Tiểu đội trưởng của tôi; Bố và con và... - Đỗ Ngọc Thạch


TIỂU ĐỘI TRƯỞNG CỦA TÔI
Truyện ngắn của  Đỗ  Ngọc  Thạch 

1. 
Bảo Bối (B.B), tên khai sinh đầy đủ là Trần Bảo Bối, Tiểu đội trưởng (TĐT) của tôi nhập ngũ năm 1964, trước tôi hai năm. Lính 64 còn là lính thời bình, tiêu chuẩn thể lực rất tốt và được huấn luyện kỹ hơn lính thời chiến chúng tôi (Khái niệm “Thời bình” ở miền Bắc được tính từ năm 1954 – năm ký hiệp định Giơ-ne-vơ – đến năm 1964 là chẵn 10 năm). Sau “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, năm 1965  Mỹ đưa quân vào Miền Nam trực tiếp tham chiến (chứ không chỉ là “Cố vấn” như trước nữa) và tăng cường bắn phá Miền Bắc cho nên Miền Bắc đã trở thành chiến trường. Nếu đúng như Luật Nghĩa vụ quân sự (NVQS)  thì hết năm l966 là TĐT hết hạn NVQS, có thể phục viên về nhà…với vợ! 
Nói đến người lính, nhất là người lính ra đi từ nông thôn, thì vấn đề Lấy vợ là số Một! Đối với thanh niên nông thôn, đến tuổi lấy vợ lại trùng với tuổi NVQS! Vì thế sẽ có hai cách: 1/ Đã có nhắm nhe từ trước rồi, nếu trúng tuyển quân NVQS thì cưới ngay trước khi đi lính; 2/ Chưa đủ điều kiện để cưới thì cứ lên đường, ở nhà sẽ lo giải quyết cho xong, nhắn về thì cưới cũng chưa muộn! Tất nhiên có những trường hợp khác và cũng có không ít người chưa thấy cần thiết phải lấy vợ, chờ ra quân về nhà hẳn thì cưới vợ mới chắc ăn, chứ cưới vợ xong lại đi biền biệt thì khổ vì nhớ vợ và lo sợ ở nhà xảy ra chuyện “ngoại xâm” thì làm sao mà bảo vệ!...
Bảo Bối thuộc trường hợp chờ ra quân rồi mới cưới vợ! Nhưng đến ngày B.B hết hạn NVQS (cuối năm 1966) thì cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ ở Miền Bắc ngày càng ác liệt, Bộ đội Phòng Không – Không quân phát triển thêm nhiều Binh chủng phối thuộc, lực lượng Ra-đa của chúng tôi lúc đầu chỉ biên chế cấp Sư đoàn giờ phát triển thành cấp Binh chủng (tương đương Quân đoàn, Quân khu). Vì thế, nhiều đơn vị mới được thành lập và lẽ đương nhiên là cần nhiều quân số! Bảo Bối tình nguyện ở lại vô thời hạn và nhận nhiệm vụ Tiểu đội trưởng. Cũng phải nói qua về cách tổ chức của Bộ đội Ra-đa để bạn đọc hình dung được vị trí của TĐT Bảo Bối ở chỗ nào trong đội hình khổng lồ của Binh chủng Ra-đa. Bộ đội Ra-đa là lực lượng máy móc, khí tài… nên hệ thống tổ chức có khác với Bộ đội các Binh chủng khác. Đại đội là một đơn vị chiến đấu độc lập, cấp trên trực tiếp là Trung đoàn, trên nữa là Binh chủng. Mỗi Đại đội thường có 3 loại máy Ra-đa, biên chế thành 3 Trung đội. Mỗi trung đội có 2 hoặc 3 Tiểu đội, mỗi Tiểu đội có trên dưới mười người. Mỗi Tiểu đội có hai kíp (tổ) chiến đấu, mỗi kíp có năm người. Ngoài ba trung đội có máy Ra-đa, Đại đội còn có một Trung đội Thông tin (Tiêu đồ, Báo vụ, Đường dây - đặt trong Chỉ huy sở Đại đội), một Trung đội xe – máy, một Trung đội Nuôi quân, một Trung đội pháo (chủ yếu là súng 14,5 ly hai nòng, mỗi Trung đội này thường có ba cỗ súng 14,5 – đi kèm để bảo vệ trận địa Ra-đa), v.v…
Khi tôi nhập ngũ (tháng 12-1966), được điều động về Trung đội Ra-đa, cùng hai người nữa, thì Bảo Bối cũng mới nhận chức Tiểu đội trưởng tiểu đội 2. Tiểu đội 1 là tiểu đội lính cũ, đang trực ban chiến đấu. Còn Tiểu đội 2 là tiểu đội lính mới – tiểu đội huấn luyện. Chúng tôi là lính mới, biên chế vào Tiểu đội huấn luyện, tất nhiên. Nhưng sau một thời gian, tôi phát hiện ra rằng , ngoài nhiệm vụ huấn luyện để trở thành người trắc thủ Ra-đa, chúng tôi còn phải làm rất nhiều việc khác, đại loại như lao công, tạp vụ. Như là đoán được tâm trạng của chúng tôi, Bảo Bối thường nói: “Là người lính, ai chẳng muốn được được đứng ở vị trí chiến đấu chính thức, đối với người trắc thủ Ra-đa là được ngồi trước màn hiện sóng!...Nhưng, theo yêu cầu nhiệm vụ thì ở vị trí nào cũng là cần thiết, cũng là quan trọng!” Giọng nói của B.B đều đều và ấm, nhưng tôi cảm nhận được phần sau của câu nói không phải là giọng nói của B.B, mà như là của Chính trị viên Đại đội!...
Giàn lưới phản xạ của máy Ra-đa trung đội chúng tôi là loại to nhất lúc đó, 2 tấm lưới phản xạ to như 2 cái thuyền (loại vừa, giống như đò ngang), mỗi lần cơ động thay đổi địa điểm đóng quân là phải tháo ra lắp vào cả ngày mới xong! Và có một công việc phải làm thường xuyên là ngụy trang lưới phản xạ, tức phải biến chúng thành như một lùm cây! Công việc này nói thì ngắn gọn như thế nhưng làm thì không hề đơn giản chút nào! Và B.B , tôi và hai, ba người nữa , thường xuyên phải đi làm công việc này: vác con dao thật sắc bén, đi chặt về loại cây lá dầy (lâu héo) để cài phủ lên hai cái lưới phản xạ, khi nào lá héo khô (khoảng hai, ba ngày) thì lại thay lá khác! Công việc này có ba công đoạn: 1/ đi tìm xem ở đâu có loại lá dày lâu héo; 2/ chặt lấy và mang về trận địa; và 3/ cài buộc lên hai cái lưới phản xạ. Ba công đoạn này thường chiếm hết trọn một ngày! 
Những ngày không làm việc ngụy trang lưới phản xạ thì ở nhà huấn luyện và chờ “đầu sai”, thậm chí có cả việc kỳ lưng cho Chính trị viên Đại đội lúc ông tắm (ông này trong “Tam sung tứ khoái” có tiết mục gãi lưng và kỳ lưng, còn nghiện hơn cả dân nghiện ma túy). Tôi thừa biết là lính mới chúng tôi bị lính cũ bắt nạt, hành hạ nhưng không chấp!... 
2.  
Trong gian nan, tình cảm con người ta đối với nhau càng sâu nặng nghĩa tình. Có lẽ trong cả Đại đội, chỉ có Tiểu đội 2 của chúng tôi là không có chuyện “mất đoàn kết”, nội bộ lục đục! Một phần , có lẽ vì chúng tôi “không có gì để mất”, còn mỗi hai chữ “Đoàn kết” chẳng lẽ lại để mất nốt! Nhưng cơ bản là do Tiểu đội trưởng thực sự thương yêu những người lính binh nhất binh nhì chúng tôi: đối xử bình đẳng và quan tâm đến chiến sĩ từng chi tiết. Tôi chỉ lấy ví dụ ở hai cách hành xử như sau của TĐT B.B.
Khi ăn cơm tập thể, hầu như ai cũng nhằm vào đĩa thức ăn mặn và nhanh tay gắp cho mình miếng ngon nhất và to nhất, ai chậm chạp thì suốt đời ăn cơm nhạt! Nhưng B.B không để cho tình trạng đó xảy ra bằng cách: Mở đầu bữa ăn, B.B bưng đĩa thức ăn mặn lên (thường là thịt, cá, Đậu hũ, v.v…) chia đều cho tất cả mọi người! Có lần, chia xong cho tất cả thì vừa hết, B.B vui vẻ chan nốt ít nước thịt kho còn sót lại! Ai cũng phải thừa nhận hành động ấy khiến B.B như một người Mẹ, người chị Cả trong gia đình.
Khi làm những công việc nặng nhọc, khó khăn, thường là ai cũng muốn giành cho mình phần việc nhẹ nhàng, dễ dàng. Nhưng B.B lại luôn luôn giành về mình phần việc khó khăn, nặng nhọc. 
Chẳng hạn như khi chúng tôi đi chặt những cây dứa dại về ngụy trang giàn Ăng-ten. Loài cây này gần giống như cây dứa, không có quả, thường mọc ở ven những ao đìa, muốn chặt phải lội xuống nước. B.B Ra lệnh cho chúng tôi đứng ở trên bờ chờ kéo cây lên rồi một mình lội xuống chặt. Hoặc khi buộc những cây dứa dại thành từng bó để vác về, B.B bao giờ cũng giành cho mình bó to nhất… Khi kết thúc ngày “Tiều phu”, chúng tôi ai cũng bị gai đâm tay chân rớm máu nhưng không ai kêu ca gì vì nhìn TĐT B.B thì thấy anh chỉ lau chùi sơ sơ rồi thay quần áo ngay vì không muốn ai nhìn thấy đầy người rớm máu của mình. Có lần tôi bảo B.B: “Để em đi kiếm cồn hoặc thuốc đỏ bôi cho anh, không cẩn thận nó nhiễm trùng thì nguy hiểm đấy!” B.B cười nói: “Cậu đúng là con bác sĩ, nhìn đâu cũng thấy vi trùng! Tớ cầm tinh con Chó, mà “Chó liền da, gà liền xương”, chỉ  ngày mai là lại nhẵn bóng ngay thôi mà!” Quả là như thế thật, những “va quệt” của người Lính chúng tôi với cuộc sống, lại là cuộc sống thời chiến thì “trầy da sứt vẩy” lẻ tẻ không thể  tính là thương tích! Tuy vậy, theo thói quen từ bé, tôi vẫn ngồi bôi cồn và thuốc đỏ lên những chỗ gai đâm xây xát, và kết quả là tôi thành…Thổ dân da đỏ! 
Tiểu đội 2 chúng tôi (chỉ có 7 người), mặc nhiên trở thành “Tiểu đội Cửu vạn” (khi nhà bếp hết gạo, Bếp trưởng cũng đề nghị Tiểu đội 2 cho người đi lấy gạo giúp, mỗi lần di chuyển trận địa – trận địa Ra-đa phải thường xuyên thay đổi để giữ bí mật – chúng tôi lại được Đại đội cho vào làng xin tre nứa về làm lán trại,v.v…) vì ai cũng nghĩ ít được lên xe hiện sóng thì làm sao mà thao tác tốt mọi nhiệm vụ của người trắc thủ trên xe hiện sóng. Nên hầu như nhiệm vụ chính của người trắc thủ Ra-đa đều do Tiểu đội 1 làm hết. Lúc đầu, tôi coi việc này là bình thường, nhưng sau mỗi lần tập trung Đại đội, tôi chỉ thấy Tiểu đội 1 được biểu dương, khen thưởng chứ không hề nhắc đến Tiểu đội 2 của chúng tôi. Những lúc ấy nhìn sang Tiểu đội 1, thấy người nào mặt cũng kên kên tự đắc, nhất là TĐT  Phú. Còn nhìn về TĐT B.B thì thấy anh đang như nhìn về nơi xa xôi nào đó, vẻ mặt không ra buồn cũng không ra vui! Sau khi “điều tra”, thì ra B.B và Phú và Trung đội trưởng Lợi vốn là người cùng làng, cùng một lớp hồi phổ thông Trung học, cùng nhập ngũ một ngày, cùng được đào tạo một lớp Hạ sĩ quan và một khóa huấn luyện ngắn hạn về Ra-đa, cùng được điều về một Đại đội, cùng làm Tiểu đội trưởng của 3 tiểu đội trắc thủ Ra-đa…Có khá nhiều cái cùng, nhưng lại có nhiều cái khác: B.B là thành phần “Trung nông lớp trên”, còn Phú và Lợi là Bần cố nông, khi đi học B.B thuộc nhóm học sinh khá giỏi, còn Phú và Lợi thuộc nhóm yếu kém, khi học trường Hạ sĩ quan cũng vậy, B.B luôn đạt điểm tối đa, còn P. và L. trầy trật mới đạt điểm tối thiểu. Nhưng kết thúc huấn luyện, P. và L. đều được kết nạp Đảng và phong Trung sĩ , còn B.B chỉ được phong Hạ sĩ. Về đơn vị được ba tháng, Phú được phong lên Thượng sĩ, Lợi được phong vượt cấp lên Chuẩn úy, thăng chức lên Trung đội phó, hai tháng sau đó thì thăng chức lên Trung đội trưởng, quân hàm lên Thiếu úy! Trong khi đó, B.B vẫn là Trung sĩ và cứ cái “đà” này thì sẽ là “Trung sĩ i-nốc”! Việc L. và P. liên kết với nhau để “đì” B.B là quá rõ, việc hạn chế B.B lên làm nhiệm vụ trên máy là “Triệt” khả năng lập thành tích, lập công của B.B và nếu B.B có phản ứng thì sẽ bị buộc tội bất mãn, “nằm ì cải tiến”, “đào ngũ cải tiến”,v.v… và lúc đó có thể công khai  trị tội: cho làm lính “Cửu vạn” suốt đời!...  
Đối với tôi, việc kèn cựa, trù ém của P. và L như thế là không thể chấp nhận, và dứt khoát tôi sẽ công khai phản công. Tôi nói ý đó với B.B thì anh nói: “Tránh voi chẳng xấu mặt nào! Người ta thích thăng cấp lên chức nhanh không phải là có tội, là con người bình thường ai chẳng thích lên tướng lên tá!... Còn tớ, tớ chỉ ở trong quân đội vài năm nữa thì xin phục viên về nhà chăm sóc mẹ già, lấy vợ rồi nuôi con, sống cảnh điền viên nơi thôn dã, suốt đời  là anh nông phu là hạnh phúc rồi!...Tớ chỉ lo cho mấy người lính sinh viên các cậu, nếu không được gọi đi học kỹ thuật quân sự sớm thì vừa lãng phí vừa gây nản lòng, thối chí tuổi trẻ! Cho nên cậu phải cẩn thận, đừng để họ đánh mình vì cái tội “không an tâm tư tưởng, dao động, bất mãn…”. Tôi đã hiểu ra thái độ “nhẫn nhịn” của B.B và từ đó cũng học theo cách “Lạnh lùng” trước mọi cách hành xử của cuộc đời đối với người lính!...
3.Khi người trắc thủ Ra-đa thông báo tọa độ mục tiêu: 000.000
Xin nói sơ qua về đội hình chiến đấu của trắc thủ Ra-đa gồm có Đài trưởng (do Trung đội trưởng hoặc Phó hoặc Tiểu đội trưởng đảm nhiệm, Trắc thủ có ba vị trí: Số l thông báo phương vị cự ly, Số 2 thông báo số lượng, kiểu máy bay địch, ta, Số 3 thông báo độ cao từng tốp, từng chiếc…Khi trắc thủ Số 1 thông báo phương vị, cự ly của mục tiêu ở Tọa độ 000. 000 thì có nghĩa là máy bay đang bay ở trên đầu trận địa Ra-đa. Nếu mục tiêu là máy bay do thám không người lái (thường có rất nhiều trước mỗi trận đánh lớn của máy bay Mỹ) thì không có vấn đề gì, nếu là máy bay Tiêm kích thì có khả năng trận địa bị phóng tên lửa Không đối đất , còn nếu là máy bay Cường kích (máy bay ném bom) thì trận địa Ra-đa sẽ bị ném bom. Lần ấy, trận địa Ra-đa của chúng tôi vừa bị bọn Tiêm kích phóng tên lửa vừa bị bọn Cường kích ném bom, đúng là “Mưa bom, bão đạn”!...
Đó là một ngày không thể nào quên. Hôm ấy, là ngày tiểu đội chúng tôi đi chặt lá cây ngụy trang cho giàn Ăng-ten. Tiểu đội trưởng dậy rất sớm, mới hơn bốn giờ sáng. Tôi là người thính ngủ nên thấy B.B lục đục thì tỉnh dậy ngay. Tôi hỏi: “Anh dậy làm gì sớm thế?”. B.B ngập ngừng rồi nói: “Tớ muốn viết thư về nhà cho mẹ … Bà cụ mới viết thư nói cuối tháng về cưới vợ, đã chuẩn bị xong hết rồi! Nhưng tớ có cảm giác không về được!”. Tôi nói: “Làm gì mà không về được? Nếu không được một tuần thì anh chỉ cần xin “tranh thủ” ba ngày là đủ! Bà mẹ anh giục hoài mà anh không sốt ruột à?” B.B thở dài, nói: “Sao không sốt ruột! Nhưng trong lúc mọi người bận rộn với bao công việc mà mình lại về nhà cưới vợ, tớ thấy không được thoải mái đầu óc!”. Tôi nói như cãi lộn: “Nếu cứ nghĩ tới nghĩ lui như anh thì chẳng bao giờ đi được! Anh cứ thử đi chục ngày xem có ảnh hưởng gì đến cả cuộc chiến tranh này không! Anh bị cái bệnh mà Y học gọi là “Bao biện”, còn dân gian thì gọi là “cả nghĩ”!”. B.B lại thở dài, nói chậm rãi: “Cậu còn trẻ tuổi mà nói đúng lắm, quả là tớ hay nghĩ ngợi lung tung, gọi là lo con bò trắng răng, đúng không? Thôi, được rồi,  để tớ báo cáo với Trung đội trưởng xem sao!” Tôi nói ngay: “Anh phải nói với Đại đội trưởng, chứ nếu nói với Trung đội trưởng thì thà đừng nói!”.
“Cậu cứ làm “vượt cấp” như thế thì mang họa vào thân đấy!...Hôm nay chúng ta nên đi sớm về sớm vì tớ linh cảm thấy trưa nay sẽ có đánh lớn! Hôm qua có hai thằng Không người lái bay qua khu vực này!” B.B định gọi cả Tiểu đội dậy thì tất cả đã đồng loạt chui ra khỏi màn, nhanh chóng thu dọn chăn màn rồi ra sân xếp thành một hàng ngang!...
Tiểu đội 2 chúng tôi chuẩn bị “Hành quân xa” thì có tiếng kẻng báo động. Tôi nhìn về hướng chính Đông: trên nền trời phớt hồng, không một gợn mây, có 4 chấm đen bằng đầu que tăm xuất hiện. Theo phản xạ, tôi – trắc thủ số 1 - nói ngay: “001, 090, 100” (có nghĩa là: tốp thứ nhất, hướng chính Đông - vuông góc 90 độ với điểm tôi đứng -, cự ly 100 ki-lô-mét). Tức thì Thành – trắc thủ số 2 - nói ngay: “Một  tốp, bốn chiếc, F4H” (F4H là máy bay Tiêm kích, có biệt danh “Con Ma”, được trang bị tên lửa “Rắn đuôi kêu” rất lợi hại). Tâm – trắc thủ số 3 - định đọc tiếp thông báo về độ cao của tốp máy bay thì TĐT B.B nói như quát: “Không đùa rỡn! Tất cả lấy vũ khí ra trận địa 14 ly 5!” (Khi có báo động máy bay địch, ai không làm nhiệm vụ trực ban trên máy thì dùng súng bộ binh CKC, AK ra trận địa của Trung đội 14,5 mm cùng chiến đấu trực tiếp!) Tôi chạy vọt vào nhà, tới giá súng lấy ngay khẩu AK mới lau chùi ngày hôm qua còn bóng nhoáng, không quên lấy thêm cái bao đựng băng đạn!
Thực ra, tôi được giao bảo quản khẩu CKC nhưng tôi nghĩ bắn bọn “Con Ma” Mỹ phải dùng AK mới đã! B.B thấy tôi lấy khẩu AK thì không nói gì, cầm khẩu CKC chạy ra trận địa 14 ly 5. Trận địa 14 ly 5 chỉ cách nhà ở của chúng tôi chưa tới 50 mét, cách bệ máy Ra-đa hơn 100 mét. Khi chúng tôi triển khai ra hai ụ súng thành hai tổ chiến đấu thì tốp máy bay Mỹ đã hiện ra khá rõ. Tôi lấy đường ngắm, bốn chiếc “Con Ma” đã nằm gọn trên đầu ruồi , chỉ chờ lệnh của TĐT B.B là kéo cò súng! Đến khi tôi nhìn rõ đầu thằng phi công Mỹ lúc lắc trong buồng lái máy bay thì B.B mới phát lệnh “Bắn”! Tôi kéo cò và để yên ngón tay trỏ cho đi hết băng đạn! Khi cả 7 khẩu súng của 7 người Tiểu đội 2 chúng tôi cùng nhả đạn thì gần như tức thời, chỉ sau đó 20 giây, hai chiếc F4H bổ nhào xuống trận địa còn hai chiếc bay lướt qua trận địa, tiếng rít xé tai và kèm theo là hai tiếng nổ rầm rầm, đất đá khói bụi mù mịt rồi rớt xuống ụ súng của chúng tôi rào rào! Khi khói bụi tan, tiếng động cơ máy bay chỉ còn nghe rất nhỏ thì tôi mới nhìn rõ quang cảnh trận địa lúc đó: bọn “Con Ma” đã phóng hai quả tên lửa xuống chỉ cách ụ súng của chúng tôi hơn 10 mét, đó là một ruộng  ngô khoai trồng xen lẫn, khói còn ngoằn nghoèo bay lên, bốc mùi khét lẹt. Nhìn qua ba khẩu 14,5 ly của “Trung đội 14 ly 5”, tôi vô cùng kinh ngạc khi không còn thấy một ai ở bên súng! Và tôi thoáng nghĩ, lúc bọn “Con Ma” bổ nhào ban nãy, không biết họ có kịp bắn hay không? Và không biết bây giờ họ đang nấp ở đâu mà biến nhanh như Tề Thiên Đại Thánh!... 
TĐT B.B như là  cũng đã nhìn rõ cảnh tượng bên “Trung đội 14 ly 5” và anh nhanh chóng ra lệnh: “Triển khai ra ba khẩu 14 ly 5! Kiểm tra ngay tình trạng của súng!” Cũng may là tiểu đội 2 chúng tôi luyện tập với súng bộ binh khá nhiều thời gian nên sờ vào là có thể sử dụng được ngay! Chúng tôi vừa kiểm tra nhanh tình trạng của súng xong thì phát hiện ra rằng chưa có khẩu súng nào nhả đạn! Tôi vừa ngồi vào vị trí xạ thủ số 1 thì TĐT B.B  giơ cao cờ lệnh, nói to:”Bốn chiếc  F4H đã vòng lại, đang bay thẳng tới trận địa từ hướng Đông! Tất cả sẵn sàng chiến đấu!”. Tôi hướng nòng súng về phía mục tiêu, Thành ngồi ở vị trí xạ thủ số 2 quay kính ngắm bắt mục tiêu. Hai khẩu 14,5 ly kia cũng hướng nòng súng về phía mục tiêu. Chúng tôi hồi hộp chờ khẩu lệnh của TĐT. Chỉ hai phút sau, khi tôi nghe đến tiếng …”Bắn!” thì lập tức kéo cò! Khẩu 14,5 ly của tôi rung lên, tiếng ðạn nổ ran nhý pháo Giao thừa! Cả ba khẩu 14,5 ly cùng nhả ðạn! Như là cùng một lúc, tôi nghe thấy tiếng rít của 4 chiếc  F4H  xé không khí bổ nhào và phụt 4 quả tên lửa! Lại là tiếng nổ như sấm rền và đất đá bay rào rào, khói bụi mù mịt, trời đất tối sầm!...
Khi khói đạn đã tan, tiếng rít của máy bay cũng không còn, chúng tôi ôm chầm lấy nhau sung sướng vì tất cả Bảy người còn nguyên vẹn. Tôi bỗng thấy ở lưng của TĐT có một vết thương nhỏ, máu đang rịn ra đã đỏ một mảng lưng. Chúng tôi xúm vào sơ cứu và băng vết thương cho TĐT. Như là có một mảnh kim loại đã chui vào trong lưng TĐT. Tôi nói: “Chúng ta phải đưa ngay TĐT đến Bệnh viện!” Tôi vừa dứt lời thì cậu Khả ở Trung đội Thông tin chạy đến nói: “Có lệnh của Trung đoàn tiếp tục mở máy! Tại sao trên xe hiện sóng không có ai trực?” Tôi nói ngay: “Tiểu đội 1 của Phú đang trực ban cơ mà!” Cậu Khả la to: “Đã nói là không có ai còn Phú Quý cái gì!”. TĐT  B.B nghe Khả nói vậy thì bật đứng dậy, nói to: “Tất cả Tiểu đội 2 theo tôi tới xe hiện sóng!” Khi chúng tôi chạy tới xe hiện sóng thì đúng là không có ai! Phía ngoài ụ đất để xe hiện sóng, một quả tên lửa đã chui xuống chân ụ đất, để lại một cái hố nham nhở! TĐT nói nhanh: “Hai người vào một vị trí trắc thủ! Tất cả lên xe!” TĐT B.B ngồi vào vị trí Đài trưởng, gọi điện thoại về Ban chỉ huy Đại đội hỏi lại lệnh mở máy. Tiếng Đại đội trưởng vang lên trong tổ hợp: “Bối hả! Mở máy ngay! Chú ý mục tiêu ở phương vị 090, cự ly 50 đến 100 ki-lô-mét!” 
TĐT B.B gọi điện thoại cho Tiểu đội Điện công phát lệnh mở máy. Chỉ sau 20 giây, chiếc máy nổ của TĐT Điện công Sự đã nổ rền, nguồn điện lập tức được nối với xe hiện sóng và hệ thống máy phát sóng ở giàn lưới phản xạ. Rất may là hệ thống dây dẫn từ máy phát điện tới xe hiện sóng và lên máy phát trên giàn lưới phản xạ vẫn nguyên vẹn. TĐT B.B hoàn tất các thao tác khởi động thì ngay sau vòng quay đầu tiên của giàn lưới phản xạ, mục tiêu đã xuất hiện, tất cả chúng tôi cùng một lúc đều nhìn thấy mục tiêu. TĐT B.B ra lệnh: “Thông báo mục tiêu, hướng chính Đông, cự ly 80 ki-lô-mét!” Tôi lập tức đọc: “001, 090, 080” (Tốp thứ nhất, phương vị chính Đông, cự ly 80 Km). Thành đọc tiếp liền: “Một tốp, 4 chiếc F4H”. Thành vừa đọc xong thì tôi nhìn thấy tốp thứ hai xuất hiện chỉ cách tốp trước 5 Km, liền đọc ngay: “002, 090, 085”.
Thành đọc tiếp ngay: “Một tốp, 4 chiếc  AD4” (AD4 là máy bay Cường kích của Hải quân Mỹ). Tôi thoáng nghĩ: “Bọn này cũng bay theo đường bay ban sáng, số lượng tăng gấp đôi, muốn đánh cấp tập trận địa Ra-đa của chúng tôi hay sao? Không biết ban nãy chúng tôi có bắn trúng 4 thằng F4H hay không? Nếu 4 thằng ban nãy không trở về đầy đủ, tất chúng sẽ kéo đến để “Báo thù” và tìm Phi công bị bắn rơi! Quả nhiên, tốp thứ ba xuất hiện, tôi đọc một lèo 3 thông báo về 3 tốp: “001, 090, 070; 002, 090, 075; 003, 090, 090” Sau khi Thành thông báo về số lượng kiểu của tốp thứ ba (4 chiếc AD6 – AD6 cũng là Cường kích Hải quân Mỹ) thì Tâm – trắc thủ số ba chuyên đo độ cao nói líu ríu như nói chuyện ở ngoài đời: “Quá nhiều, quá rõ! Bọn này bay thấp quá: Ba tầng, tầng thấp 100 mét, tầng giữa 200 mét, tầng cao 300 mét, mỗi tầng 4 chiếc!” Tâm còn định nói gì nữa thì TĐT B.B nghiêm giọng: “Trắc thủ Số 3 thông báo đúng qui định!”Chờ cho Tâm nói xong phần của mình, tôi định thông báo tiếp thì tiếng Đại đội trưởng vang lên trong tổ hợp: “Các đồng chí làm rất tốt, bám sát mục tiêu, máy bay ta chuẩn bị xuất kích.
Đài trưởng Bối làm nhiệm vụ dẫn đường!” TĐT B.B liền nhấn COT liên lạc với phi công của ta…Khi tôi đọc thông báo: “001, 000, 000; 002, 000, 000; 003, 000, 000” thì có nghĩa là cả ba tốp máy bay đang quần thảo trên không phận của trận địa Ra-đa. Đối với máy Ra-đa, trong phạm vi bán kính 10 km của vị trí đặt máy phát, mục tiêu không thể hiện lên trên màn hiện sóng, gọi là “Góc che khuất” hay là “Tọa độ mù”, con số trong thông báo là phán đoán của trắc thủ! Khi thông báo “Sáu số 0” của tôi phát ra lần thứ nhất thì có tiếng của Đại đội trưởng: “Hiệp đồng tác chiến rất tốt! Hai  MiG 17 của ta đã bắn hạ hai AD6!” Tôi liếc nhìn TĐT B.B, anh đang cười mếu máo! Tôi chưa kịp reo lên thì bỗng có hai tiếng “Bụp! Bụp!” ù tai! Chiếc xe hiện sóng  nảy lên hai cái và điện phụt tắt! TĐT B.B nói: “Bọn AD4 bắn đạn 20 ly trúng đầu xe hiện sóng rồi! Tất cả rời khỏi xe hiện sóng!” Khi cả 6 người  chúng tôi xuống đất hết, TĐT B.B đang đứng ở cửa thùng xe thì “Bụp!” một tiếng nữa rất mạnh, một viên đạn 20 ly trúng giữa nóc thùng xe, có tiếng rơi vỡ loảng xoảng trong thùng xe hiện sóng! Đồng thời, đúng lúc đó, TĐT B.B ngã quỵ  từ cửa thùng xe xuống đất! Chúng tôi nhìn nhau thất kinh, lấy cái võng bạt buộc vào một cây tre thành cái cáng, thay nhau khiêng TĐT B.B chạy như điên tới Bệnh viện, cách trận địa Ra-đa những hai Ki-lô-mét!... 
4. Đoạn kết: Cái chết của một người lính chân chính 
Viết đến đây, tôi đọc lại và chợt nhận thấy cái Truyện ngắn của mình không có một chút “yêu đương” gì cả! Viết truyện về người lính mà thiếu cái chất “Men say” này thì quả là thiếu sót lớn, người đọc sẽ chê là “Truyện khô như ngói”! Ngồi ngẫm nghĩ một lúc thì quả là nhân vật Tiểu đội trưởng B.B của tôi đúng là người bị các cô thôn nữ hơn một lần chê là “Khô như ngói”! Không chê là “khô như ngói” sao được khi thời gian tiếp xúc với các cô thôn nữ khá nhiều, (kể cả sáng, trưa, chiều, tối) mà anh ta luôn giữ chặt nguyên tắc “Nam nữ thụ thụ bất thân”! Có lần, tôi thấy có hai cô thôn nữ đứng hai bên B.B, một cô chốc chốc lại tì cả đôi gò Bồng đảo lên vai, lên mặt B.B, một cô lại còn dạn dĩ hơn, cầm lấy tay B.B đặt lên đùi mình, quyệt qua cả chỗ kín, vậy mà B.B đã  không  biết chớp thời cơ “xốc tới” lại “đi nước cờ lùi”, “khua chiêng thu quân” trước sự lườm nguýt trách cứ của các cô thôn nữ! Phải các anh lính khác thì “cuộc thám hiểm  Bắc Cực sẽ chuyển về cả Nam Cực từ lâu! Đối với tôi cũng vậy, có thời cơ là “thử cho biết” chứ ai lại để “Mỡ treo trước miệng mèo” mà mèo lại không ăn! Đối với người lính thời chiến, nếu nói chưa từng “ân ái” hoặc chưa từng “thám hiểm Gò Bồng Đảo” các cô thôn nữ thì không thể tin, bởi thời chiến, “Tình cá nước” giữa quân với dân càng phong phú, đa dạng hơn bao giờ hết!...
Vì sao Tiểu đội trưởng B.B lại “Khô như ngói” như thế? Lúc đầu, tôi cũng cho là B.B bị bệnh “tê liệt sức chiến đấu”, nhưng theo dõi kỹ thì không phải. “Vũ khí, đạn dược” của B.B rất tốt, thậm chí cực tốt, có thể gọi là “ngoại cỡ”! Nhưng “tinh lực” B.B bị dồn hết cả về quê nhà, nơi đó có người mẹ già và một cô thôn nữ cực kỳ xinh đẹp, đã chạm ngõ, ngày đêm trông ngóng! Nếu như không có chuyện động viên ở lại quân ngũ thì đúng thời gian hết hạn NVQS, tức cuối năm 1966, B.B đã về nhà cưới vợ, và chắc chắn là mẹ anh đã có cháu bồng, anh đã có con bế! Nhưng…
*
…Khi chúng tôi đến Bệnh viện thăm B.B thì Bác sĩ trực la luôn: “Sao các cậu chậm chạp thế! Tối qua tôi mà không cấp cứu kịp thời thì Tiểu đội trưởng của các cậu đã đi rồi! Anh ta gọi tên các cậu hoài mà không nghe thấy à?”. Chúng tôi ào đến bên giường bệnh của B.B. Anh đang như mơ màng bỗng trở nên rất tỉnh táo khi nhìn thấy chúng tôi. Anh kêu tên, cầm tay từng người rồi nói: “Quân số Tiểu đội ta vẫn còn đầy đủ, thế là mừng rồi!...” Tất cả chúng tôi cùng bật khóc! Song B.B nói nhanh, rõ từng tiếng một: “Tôi, Trung sĩ Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2 Trần Bảo Bối ra lệnh không ai được khóc!...” Nhưng B.B vừa dứt lời thì nước mắt  anh trào ra, nhưng miệng anh lại nhoẻn cười! Tôi chưa từng thấy anh khóc bao giờ nên không biết đó có phải là anh khóc hay không? B.B lại từ tốn nói tiếp: “Mọi việc tôi đã ghi cả ra quyển sổ nhỏ trong túi áo! Giao cho Cậu Thạch đưa cuốn sổ này cho người vợ chưa cưới của tớ, nếu cô ấy có nhờ làm việc gì thì phải làm cho tốt!...Tớ phải đi trước đây!”. B.B đột ngột ngừng lời và cũng ngừng thở luôn! Cô Y tá trực bật khóc  hu hu khiến cho chúng tôi òa khóc theo, vang động cả Bệnh viện!... 
Trong cuốn sổ của B.B, đoạn viết cho người vợ chưa cưới có câu: “Anh bạn Th. đây sẽ thay anh thực hiện hôn ước với em!” Trời đất ơi, tôi làm sao mà thay thế anh được vào vị trí ấy!...Tôi không biết làm sao thì ngay ngày hôm sau, có lệnh giải thể đơn vị cũ, sáu người lính Tiểu đội 2 chúng tôi được điều về ba đơn vị: tôi và một người về một đơn vị chuẩn bị vào chiến trường Khu Bốn, hai người về một đơn vị mới đóng quân ở tận Tây Bắc, còn Thành và Tam về một đơn vị đang đóng quân ở  Hà Tây, gần nhà của Tiểu đội trưởng B.B. Tôi nói ngay với Thành: “Đây rõ ràng là có sự sắp xếp của Ông Trời! Cậu thêm chữ “ành” vào sau chữ “Th” rồi về nhà Tiểu đội trưởng, cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Tiểu đội trưởng đã giao cho chúng ta lần cuối cùng!”. Thành nghe tôi nói vậy thì lúng búng định từ chối, nhưng tiếng còi chiếc ô-tô mà tôi sẽ đi nhờ về đơn vị mới đang kêu inh ỏi, tôi ấn cuốn sổ nhỏ của Tiểu đội trưởng vào tay Thành rồi chạy ra chiếc ô-tô, trèo lên thùng xe nhìn lại thì thấy Thành đứng như tượng nhưng nước mắt thì ràn rụa!...
Sài Gòn, 16-17/10/2009
Đỗ Ngọc Thạch
http://diadanh.vn/Image/Account/1514A.jpg
BỐ VÀ CON VÀ…
Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch


1. 
Ông Hữu Thiết tới tuổi Tam thập nhi lập mới lấy vợ, vợ ông đoản mệnh, đẻ cho ông một thằng con trai thì qua đời. Ông Hữu Thiết cảm thương vợ vô cùng nên đã giữ trọn chữ thủy chung với người vợ đã khuất, sống cảnh gà trống nuôi con bằng đồng lương nhà giáo khổ hạnh gần 30 năm trời…Còn hai tháng nữa là tới ngày sinh nhật người con trai Hữu Trí, tròn 30 tuổi, cũng đã là một nhà giáo gần mười năm, ông Hữu Thiết nghĩ đến chuyện mình lấy vợ cũng vào lúc 30 tuổi,  rồi đến cái chết thương tâm của người vợ, nên ông quyết định bắt con phải lấy vợ ngay, khi chưa tới cái tuổi mà chính ông đã gặp chuyện không may! Như vậy là chỉ còn hai tháng nữa!  
Một người bạn thân của ông Hữu Thiết cố vấn cho ông rằng, muốn cho ông con tránh được cái họa vợ sinh con rồi chết như của ông bố thì phải làm khác đi. Sớm về thời gian như thế là tạm được, nhưng chọn vợ thì phải nhất quyết chọn người có tướng vượng phu ích tử. Tôi có đứa cháu gái bên đằng vợ, tên Lụa, năm nay vừa đến tuổi lấy chồng, gái quê trăm phần trăm, tính nết  thùy mị, chịu khó làm lụng, công việc đồng áng làm rất giỏi nên cơ thể khỏe mạnh, có thể gọi là mắn đẻ. Song điều đặc biệt là cô cháu gái này có cái ngọc đới yêu vi, tức da thịt quanh bụng nổi lên như cái đai, gọi là đai ngọc, đó là quý tướng, ngàn người mới có một! Nếu thi tuyển người mẫu thời trang thì bị loại, nhưng để chọn vợ thì đầu bảng! Tôi sẽ nhờ người mối mai đến hỏi, xin cưới ngay, tôi sẽ có thư riêng cho gia chủ, thế nào cũng xong việc! Tuy nhiên, tôi lâu ngày không gặp cô cháu gái này. Vì thế, chúng ta nên làm một chuyến Vi hành tới quê nhà cô gái cho biết rõ thực hư, cũng là một phen đổi gió chẳng phải nhất cử lưỡng tiện hay sao? Nói rồi hai người làm khách bộ hành ngao du sơn thủy, chẳng mấy chốc đã tới miền sơn cước, quê hương cô cháu gái. 
Hai người bạn già, ông Hữu Thiết và người bạn - , đi qua một vùng đồi núi sơn thủy hữu tình, cảnh đẹp như tranh thủy mặc thì gặp một con suối chắn ngang, nước chảy róc rách như một bản nhạc vô tận. Ông bạn Hữu Thiết nói: “Suối này có tên là Thanh Khê, có nghĩa là con suối trong xanh, thanh bình, rất hợp với khí chất thanh cao của cha con nhà ông. Như thế là hợp cách rồi, cứ thong thả mà chờ tin vui! Giờ ta xuống suối tắm cho mát, để tận hưởng hết vẻ đẹp của sơn khê!”. Nói rồi hai người trút bỏ hết y phục bụi đường, nhảy xuống suối bơi lội tung tăng như trẻ nhỏ!...
Hai người vừa lặn ngụp đùa rỡn nhau một hồi thì thấm mệt, đang đứng vừa nghỉ vừa kỳ cọ thì có một cô gái vừa hát xuống suối, chỉ cách chỗ hai người tắm hơn chục mét. Hai người vội đứng nép vào sau một tảng đá cuội lớn. Cô gái tới bờ suối thì trút bỏ hết xiêm y, lộ ra một thân hình có một không hai: Chiều cao hơn l mét 60, thân hình đậm đà trắng hồng khiến hai người bạn già như lạc vào chốn bồng lai tầng tầng mây trắng. Rồi khi được mục kích đôi nhũ hoa căng tròn có núm đỏ màu chu sa và cái đai ngọc quấn quanh lườn như con bạch xà thì cả hai người bạn cùng thốt lên: “Ngọc đới yêu vi!”…Cô gái như là có cảm giác bị nhìn trộm thì khoát nước kỳ cọ thật nhanh rồi biến mất! 
Khi đã nai nịt gọn gàng, ông bạn Hữu Thiết nói: “Như vậy cô gái vừa tắm suối ban nãy đích thị là cô cháu gái “Ngọc đới yêu vi” tên Lụa. Như thế thì ta phải tiến hành ngay, “Cưới vợ phải cưới liền tay / Chớ để lâu ngày có kẻ tranh ăn”! Chúng ta không cần tới nhà cô cháu gái tôi nữa mà chúng ta nên quay về ngay, tôi sẽ đi tìm người mai mối, lo các khâu thủ tục, nghi thức, ông về nhà lo sửa soạn chiến trường!”. 
 Ông Hữu Thiết nghe nói vậy thì mừng lắm, giao hết mọi việc cho ông bạn sắp xếp, ông chỉ lo thuyết phục con trai Hữu Trí và chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho đám cưới. 
Người con trai ông Hữu Thiết, tức Hữu Trí, là người con hiếu thảo, sống chuẩn mực nên bố nói là ưng thuận ngay. Vả lại, từ ngày tốt nghiệp Đại học Sư Phạm, Hữu Trí lại được phân về dạy cùng trường với bố, mải mê với công việc, rồi lại thi lên Cao học, lấy được cái Thạc sĩ, cho nên có lúc nào rảnh tay mà yêu đương, với lại hình như Thần Ái tình chẳng phí hoài Mũi Tên Vàng mà bắn vào những người Mô phạm như Hữu Trí!
Hai bố con ông Hữu Thiết mất hai ngày để Tổng vệ sinh căn hộ (Trong Khu tập thể của nhà trường) và trang trí căn buồng cho đêm Tân hôn. Mọi việc có khó đến mấy rồi cũng xong, tất cả đã sẵn sàng, chỉ chờ đến giờ G… 
Đúng lúc đi đón dâu, nói chính xác là trước lúc khởi hành đi đón dâu chỉ năm phút thì cô giáo Tiểu Lan, cùng Tổ bộ môn Môn Sinh với Hữu Trí, được xếp vào đội hình chính thức của đoàn nhà Trai đi đón dâu, đột ngột đau bụng dữ dội. Là giáo viên môn Sinh vật, lại là người ham hiểu biết, thích mở rộng kiến thức nên Hữu Trí chẩn đoán chính xác cô giáo Tiểu Lan bị đau ruột thừa, cần phải đưa đi bệnh viện mổ cấp cứu. Thế là hai chiếc ô-tô trong đoàn nhà trai đi đón dâu, chỉ có một chiếc đi đón dâu, do ông bố Hữu Thiết chỉ huy, còn một chiếc chở cô giáo Tiểu Lan đến Bệnh viện, do ông con, tức chú rể chỉ huy! 
Ông bạn của ông Hữu Thiết, ngồi trong xe đi đón dâu, xem giờ rồi bấm độn, lẩm nhẩm tính toán một hồi rồi nói: “Tiên sư anh Tào Tháo! Bố của con cháu gái tôi, lấy tên hiệu là Tào Tháo để hành nghề Bói toán, có nói là cái số cô cháu gái tôi phải lấy chồng già, nhưng tôi không tin và đòi cho cưới ngay! Ai ngờ cái anh Tào Tháo này nói đúng, giờ thì tôi tin rồi!”. Ông Hữu Thiết tròn mắt, chưa hiểu sao, hỏi lại: “Ông nói vậy là sao? Cháu gái ông không chịu cưới con trai tôi nữa hả? Thế là sao? Phải hủy đám cưới này à?” Ông bạn ông Hữu Thiết tủm tỉm cười rồi nói: “Chẳng phải hủy bỏ cái gì cả, chỉ có điều ông Tạo Hóa thay đổi chút xíu: Chú rể sẽ là ông Hữu Thiết chứ không phải ông con Hữu Trí! Còn ông con Hữu Trí vẫn cưới nhưng là lùi lại khoảng hai tháng nữa!” Ông Hữu Thiết  chưa kịp phản ứng gì thì xe đón dâu đã tới cổng nhà cô dâu, nhà gái đốt một băng pháo lớn, bất chấp lệnh cấm đốt pháo đã ban bố từ lâu!... 
2. 
Tới giờ động phòng rồi mà ông Hữu Thiết vẫn chưa tin đó là sự thật. Ông muốn vào động phòng ngay, nhưng ông lại nghĩ: “Việc thay đổi vị trí chú rể này Hữu Trí, tức chú rể dự kiến từ đầu, vẫn chưa biết. Nó làm gì ở Bệnh viện mà vẫn chưa chịu về? Đưa bệnh nhân tới Bệnh viện, giao cho Bác sĩ là về được rồi chứ? Hay là nó ở lại Bệnh viện với cái cô giáo Tiểu Lan đó cho tới khi mổ xong? Bây giờ ông mới từ từ nhớ lại thì thấy rõ ràng là cái cô giáo Tiểu Lan rất có cảm tình với thằng Hữu Trí, từ rất lâu chứ không phải mới đây. Chắc là thằng Hữu Trí “gỗ đá” quá cho nên không nhận ra tình cảm đặc biệt mà cô gái Tiểu Lan đã giành cho nó. Nếu điều đó là sự thật thì việc ông nghe lời người bạn cố vấn thay thế vị trí chú rể của Hữu Trí là hoàn toàn hợp lý!...  
Nghĩ đến hai chữ “hợp lý” ông vững tâm bước vào buồng Tân hôn. Cô dâu vẫn đang ngồi yên trên mép giường chờ chú rể vào động phòng, y hệt như trong phim!...Nhớ lời dặn của ông bạn cố vấn, phải bình tĩnh, thong thả như người ăn bánh rợm, bánh gai chứ không vội vã như người ăn bánh đúc, ông Hữu Thiết chờ cho đến khi nhìn lại thật rõ cái “Ngọc đới yêu vi” mới hành sự!... 
Tám giờ sáng hôm sau, ông Hữu Thiết mới bừng tỉnh khi ánh nắng rực rỡ đã tràn ngập căn phòng hạnh phúc. Cô dâu đã dậy từ bao giờ, đã dọn dẹp căn phòng hạnh phúc đâu ra đấy, để sẵn cho ông chậu nước nóng để ông rửa mặt khi ngủ dậy…. 
Ông Hữu Thiết ăn sáng xong, đang ngồi uống trà thì ông con Hữu Trí mới từ Bệnh viện trở về. Thì ra đêm qua, khi đám cưới tàn, ông bạn cố vấn của ông Hữu Thiết đã đến Bệnh viện gặp Hữu Trí và thông báo diễn tiến của đám cưới. Nghe xong, Hữu Trí không những không ngạc nhiên mà còn nắm chặt tay ông cố vấn, nói giọng rất cảm động: “Cháu biết ơn chú vô cùng! Nếu không giải quyết tình thế như cách của chú thì làm sao bố cháu có vợ? Nói thật với chú, điều cháu quan tâm, lo lắng nhiều nhất bao nhiêu năm qua là làm sao lấy được vợ cho bố cháu! Bởi vì sự ra đời của cháu làm cho mẹ cháu chết thì cũng như là cháu đã giết mẹ!... Cháu đã liều mạng làm mối cho bố cháu tới ba lần mà đều không được vì cứ chuẩn bị làm đám cưới thì cái “Bà dì ghẻ” tương lai ấy cứ “tấn công” cháu tối tăm mặt mũi! Lần này thế là ổn rồi!” Ông bạn cố vấn của ông Hữu Thiết lại hỏi: “Có câu này chú phải hỏi ngay, có phải cháu và cô giáo Tiểu Lan đã yêu nhau, đã thề nguyền hẹn ước?”. Hữu Trí nói: “Không những thế mà chúng cháu dự định sẽ cưới nhau, nhưng chưa kịp nói với bố cháu thì bố lại có kế hoạch lấy vợ cho cháu. Cháu nghĩ Ông Tơ Bà Nguyệt đã sắp đặt từ lâu rồi nên không nói gì vội, cứ để xem sao, ai ngờ đúng như thế. Khoảng hai tháng nữa cháu và Tiểu Lan sẽ cưới!” …Vì thế, khi về nhà, sau khi chúc mừng Bố có vợ xong, Hữu Trí liền nói với bố về dự tính của mình với cô giáo Tiểu Lan.  
Nghe ông con nói sẽ cưới Tiểu Lan vào đúng ngày sinh nhật 30 tuổi, ông Hữu Thiết lặng người không nói được gì? Chẳng lẽ lại có sự lặp lại tai họa ở đời con? 
3.  
Sau hai tháng đám cưới của ông Hữu Thiết với cô Lụa, đúng như dự định của Hữu Trí và cô giáo Tiểu Lan, đám cưới của hai người được cử hành rất náo nhiệt. Lâu lắm mới có đám cưới của thầy giáo và cô giáo cùng trường nên khi có đám cưới của thầy giáo Hữu Trí và cô giáo Tiểu Lan, hầu như học sinh cả trường đã tới chúc mừng, có khá đông cả các phụ huynh học sinh lớp hai thầy và cô làm chủ nhiệm cũng tới. Từ tiệc mặn đã phải chuyển sang tiệc ngọt, rồi tiệc ngọt chuyển thành Vũ hội…
Sau đám cưới đúng chín tháng mười ngày, vợ ông Hữu Thiết, tức cô Lụa đã đẻ cho chồng hai đứa con sinh đôi, một nam một nữ, rất kháu khỉnh. Tới khi đầy tháng hai đứa bé sinh đôi, Hữu Trí mới nói với bố: “Cứ như là sự lặp lại của số mệnh, con cũng cưới vợ lúc Tam thập nhi lập như bố. Nhưng con không muốn có cái kết cục của vợ con như của mẹ con, vì thế, chúng con quyết định chưa sinh con vội, chưa biết đến bao giờ mới nên sinh con. Vì thế, vợ chồng con muốn xin một trong hai người con sinh đôi của bố làm con nuôi, rồi tính tiếp. Như thế hi vọng sẽ hóa giải được cái tai họa nghiệt ngã kia!”. Ông Hữu Thiết nghe thấy cũng có lý, liền đồng ý ngay, song ông vẫn thấy chưa ổn. Ông nói với Hữu Trí: “Bố sẽ cho vợ chồng con đứa bé gái làm con nuôi. Nhưng nó đang là em con giờ lại gọi nó là con con, liệu có được không?”. Hữu Trí liền nói: “Con nghĩ rằng danh phận của mỗi con người chỉ là quy ước, có thể thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới. Chẳng hạn như cô Lụa, khi còn ở nhà cô ấy thì ta gọi là cô thôn nữ, nếu như cưới con thì con sẽ gọi là vợ, bố sẽ gọi là con dâu, và cưới bố thì con gọi là Dì ghẻ, bố gọi là vợ!...”. Ông Hữu Thiết nghe xong thì nói: “À ra thế!... Chúng ta không nên quá câu nệ vào những quy ước, và những quy ước này không phải là nhất thành bất biến!”… 
Thế là đứa bé gái của cặp sinh đôi trở thành con của Hữu Trí, từ đó nó phải gọi người anh sinh đôi của mình là chú, tức em bố, và đương nhiên, nó phải gọi bố đẻ - tức ông Hữu Thiết -, là ông Nội, vì nó đã trở thành con của Hữu Trí, mà trước đó nó con gọi Hữu Trí là anh – cùng bố khác mẹ! 
* 
Sau này lớn lên, hai đứa trẻ sinh đôi ngày nào, lúc vui vẻ thì gọi nhau là anh em, lúc giận nhau thì cô gái phải gọi anh con trai là chú !... 

Sài Gòn, 3-11-2009
Đỗ Ngọc Thạch

Chủ Nhật, 19 tháng 2, 2012

Ma Lai; Người được chọn đâm trâu - Đỗ Ngọc Thạch

http://www.kontum.gov.vn/_layouts/LacVietBIO/fckUploadKontum_ThanhPho/%E1%BA%A2nh%20thang%2010/19.10.1919102010_174133.JPGDiễn tấu đàn T'Rưng
Ma Lai
Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
Đoàn sưu tầm văn học dân gian của giáo sư Phát dừng chân ở một làng người Bâhnar có tên K’tung. Theo kế hoạch đã định,  đoàn sẽ đi một vệt qua các làng của những  dân tộc Bâhnar, Giơrai,  Xêđăng, Giẻ Triêng. Khu rừng huyền thoại có con suối Đăk Lây Linh sẽ là điểm điền dã cuối cùng của đoàn.
Khi đoàn đến làng K’tung, dân làng đang chuẩn bị  làm lễ cúng Zang Pơ đa (1) đồng thời tổ chức hành tội ma lai. Không khí trong làng thật là nặng nề, căng thẳng. Trong ánh mắt, dáng đi của mọi người đều lộ rõ sự hãi hùng. Nếu như Thầy Phát không biết tiếng  Bâhnar  và đã từng đến đây hai lần thì các già làng nhất định là không cho đoàn  vào làng . Mấy cô sinh viên mới lên miền núi lần đầu, thấy vậy cũng  phát hoảng . Một  cô nói :
- Thầy Phát ơi ! Em sợ ma lắm ! Em nghe nói ma của người Tây Nguyên dữ hơn ma của người Kinh và cũng thích ăn thịt người Kinh lắm ! Có phải không thầy ?
Thầy Phát nói :
-  Em đừng sợ. Làm gì có ma quỷ !  Ma quỷ chính  là những kẻ xấu,  kẻ ác gây ra bao tội lỗi đối với đồng loại rồi dựng nên cái thế giới ma quỷ để trốn tránh tội lỗi, trốn tránh sự trừng phạt của con người mà thôi !
-  Nhưng thầy Phát ơi, tại sao con bé con bà chủ nhà lại cứ nhìn em chằm chằm rồi nói : “Trước khi đi ngủ, mày phải khấn Zang Pơ đa không thì Zang sẽ cho ma lai nhập vào mày đấy !”  Zang Pơ đa là gì ? Ma lai là gì, hả thầy ?
-  Trước khi đi điền dã, thầy đã nói sơ về các loại thần linh ma quỷ của người Tây Nguyên rồi cơ mà, sao em mau quên vậy ?  - thầy Phát cười nói – Em nào nhớ thì nói lại cho bạn nghe nào ?
Một sinh viên nói :
-  Thưa thầy , người Bahnar tin rằng họ sống giữa một thế giới đầy những thần và các loại hồn ma khác nhau. Thế giới thần linh ở trên cao, trên trời do hai vị thần có quyền phép hơn cả đã sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài, cai quản. Đó là Zang Keidei và Zang Kor Ker, tương đương với thần Dớt của thần thoại Hy Lạp.  Dưới thần Keidei và Kor Ker là các thần chức năng, cai quản từng  việc cụ thể. Thế giới ma quỷ là thế giới của người chết gọi là Mang lung. Người chết đi, hồn sẽ lìa  khỏi xác được gọi là A tâu. Khi thân thể người chết đã được đem chôn ở nghĩa địa thì A tâu vẫn quanh quẩn ở nhà,quanh  plei (làng). Ba hôm sau khi làm đám ma, a tâu mới ra ở hẳn ngoài nghĩa địa. Trong thời gian chưa làm lễ bỏ mả, người Ba-na gọi là Grong Bru hoặc Grong Pơ sát, A tâu vẫn chỉ quanh quẩn ở khu nhà mồ. Người ta vẫn cư xử với A tâu như với một sinh thể tồn tại vô hình. Khi không được vừa lòng, A tâu thường làm cho người thân đau ốm hoặc gặp phải những chuyện rủi ro, tai nạn…Hàng ngày, người nhà phải đưa cơm, nước, thuốc hút cho A tâu dùng và đốt lửa cho ấm mộ. Tất cả họ hàng xa gần hàng tháng phải đến cúng, khóc để tỏ lòng thương tiếc. Sau một thời gian dài, thường là ba năm, gia đình người chết làm lễ bỏ mả để chia của và tiễn đưa A tâu về thế giới mang lung. Với những người chết bất đắc kỳ tử, hồn của họ gọi là Pơ đa, còn gọi là những A tâu tàn ác. Những Pơ đa vô cùng nguy hiểm đối với những người còn sống. Nếu như những A tâu, khi không được vừa lòng, chỉ làm cho người thân bị ốm, hoặc gặp chuyện không vui thì những Pơ đa có thể gây ốm đau nặng, chết chóc bất ngờ và không chỉ đối với người thân mà đối với bất cứ ai, không cần lý do gì cả!...Khi Pơ đa muốn hại ai, hắn nhập vào người đó và người đó trở thành ma lai, cũng như Pơ đa, gây chết chóc, bệnh dịch cho mọi người. Pơ đa thương bay lơ lửng trên không trung do thần Đăm Djong cai quản. Người ta sợ Pơ đa nên mỗi khi có nhiều người ốm đau, chết hàng loạt, người ta phải cúng Pơ đa, cầu xin Pơ đa tha cho. Nhưng nếu biết người nào là ma lai, người ta sẽ bắt và diệt trừ thẳng tay. Chỉ những Pơ zâu (2), tức là những người thầy bói, thầy cúng mới có thể nhận biết ai là ma lai và chính những Pơ zâu sẽ làm lễ cúng Pơ đa và trừng phạt, tiêu diệt những người bị gọi là ma lai, nặng thì hành  hình bằng nhiều cách, nhẹ thì đuổi ra khỏi làng…
Thầy Phát gật gù, nói:
- Khá lắm! Em đã trình bày rất đúng. Rồi thầy sẽ hướng dẫn em làm luận văn tốt nghiệp về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và nghệ thuật dân gian Tây Nguyên. Vấn đề này chưa được chú ý nghiên cứu kỹ lưỡng. Ngay cả việc sưu tầm, khảo sát tổng thể về văn hóa dân gian của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, chúng ta cũng chưa làm được mấy. Nhân lần này, thầy muốn các em cùng với thầy cứu một người con gái bị vu oan là ma lai và vạch mặt bọn thầy cúng, thầy bói, những Pơ zâu tàn ác. Bọn này đã lợi dụng danh nghĩa là sứ giả của thần linh để trị ma quỷ nhưng thực chất chúng đã gây nên nỗi bất hạnh cho những người thật thà, chất phác!...Các em có biết lần này lão Pơ zâu ở đây sẽ trừng phạt ma lai như thế nào không?
Cả mấy sinh viên đều hỏi dồn:”Thưa thầy như thế nào ạ?”
Thầy Phát nói:
-Thầy và Cúc đã tranh thủ gặp già làng Đinh Kông và đã nắm khá rõ sự việc. Cúc đã ở Tây Nguyên ba năm rồi, đã chứng kiến hành hình ma lai, Cúc hãy nói cho các em nghe đi !
Từ nãy đến giờ, Cúc đang mải suy nghĩ gì đó mà cứ ngồi trầm tư như già làng. Nghe thầy Phát nhắc đến mình, Cúc bừng tỉnh rồi chậm rãi nói  :
- Các bạn ạ, Pơ zâu sẽ cho làm một cái chòi nhỏ, xung quanh bịt kín mít rồi nhốt người con gái là ma lai vào đó. Sau đấy, lão ta sẽ chất một đống củi xung quanh chòi và đốt lửa. Nếu sau khi đống củi tắt lửa, người con gái còn sống thì có nghĩa là ma lai đã bị thiêu chết và người con gái được sống bình thường !...
- Trời đất !  Đốt lửa vây quanh chòi thì cháy luôn cả cái chòi chứ còn gì nữa ! Người con gái cũng chết cháy luôn chứ còn sống  sao nữa ! – mấy sinh viên kêu lên .
Cúc rơm rớm nước mắt nói tiếp :
- Một lần, tôi đã được chứng kiến cảnh trừng trị ma lai  ở làng Krông  Pông của người Gia Rai. Người con gái bị ghép tội là ma lai đã bị người ta đổ chì nung chảy vào lòng bàn tay. Cô gái đau quá rú lên khiếp đảm rồi ngất xỉu đi ! Hai ngày sau mới tỉnh lại, cô gái trở thành điên, cứ gào thét và chạy khắp làng. Lão Pơ zâu bảo con ma lai trong người cô gái chưa bị diệt, cô gái vẫn là ma lai.
Thế là cô gái bị người ta lôi vào tận rừng sâu, bỏ mặc ở đó !...
- Trời đất !... – mọi người đều thốt lên, lặng đi ...
Cúc chậm rãi nói tiếp :
- Chúng ta phải tìm cách cứu cô gái đang bị khép là ma lai ở đây . Cô ta tên là H’Ban, em gái của H’Lan. Trước đây , H’Lan cũng  bị khép là ma lai, nhưng H’Lan đã bỏ trốn lên thị xã và được lấy vào đội văn nghệ - thông tin của Sở văn hóa. H’Lan xinh đẹp và hát hay. H’Ban còn xinh đẹp hơn người chị, hát hay hơn người chị !...
- Sao ta không nói với H’Ban bỏ trốn đi như H’Lan ? – một sinh viên vội nói .
- H’Ban cũng muốn trốn đi,  nhưng lão Pơ zâu cho người kèm rất chặt ! Hơn nữa , mẹ H’Ban đang bị bệnh, H’Ban phải thường xuyên chăm sóc, không nỡ bỏ mẹ đấy mà  đi !...
- Nhưng tại sao H’Ban lại bị gọi là ma lai ? – một người hỏi.
-Theo tôi, -Cúc nói- chỉ vì H’Ban rất xinh đẹp như nàng Bia Răk trong Hơ Amon (3)  Đăm Noi ấy :
Môi  nàng đỏ như hoa Pơ lang
Chân nàng mềm trắng như cúi bông
Ngực mới nhú bằng quả cây sắn
Nàng đẹp như con trời
Nhìn đằng trước thấy xinh
Nhìn đằng sau thấy đẹp
Váy ba mươi lớp vẫn thấy bắp vế trắng bên trong
Nàng bước đi uyển chuyển
Gió thổi, lộ bắp vế như có ánh chớp
Gió bay, thấy đầu gối như có tiếng sấm ầm ì
Gió thổi, thoáng bắp đùi bỗng như chói lòa tiếng sét đánh ngang tai !...
H’Ban yêu anh chàng Đinh Sanh,một thanh niên khỏe mạnh, trung thực. Một lần, trên đường đến chỗ hẹn với Đinh Sanh, H’Ban gặp lão thầy cúng khật khưỡng  đi cúng về.Thấy H’Ban bước đi uyển chuyển, một làn gió thổi, lộ bắp vế như có ánh chớp, máu dê của lão Pơ zâu bốc lên, lão nhào tới ôm chặt lấy bắp vế của H’Ban,  muốn cưỡng hiếp H’Ban. H’Ban hoảng sợ, cuống cuồng  chống cự mà không được. Cô thét lên hoảng hốt. Tiếng thét của H’Ban đã đến tai Đinh Sanh. Đinh Sanh  tức thì lao đến, tóm gáy lão Pơ zâu nhấc lên rồi quật vào thân cây. Lão ta chết ngay. Đúng lúc đó, con trai lão Pơ zâu, cũng hành nghề thầy cúng, cũng là Pơ zâu, cũng vừa đi cúng về, nhìn thấy liền chạy về làng loan báo rằng H’Ban là ma lai, H’Ban đã làm cho mẹ mình  bị bệnh , giờ lại xúi Đinh Sanh giết chết Pơ zâu !...Sau đó, Đinh Sanh sợ quá, bỏ trốn lên núi Lơng Khơng theo Phun-rô, còn H’Ban sẽ bị hành hình !...
Sở dĩ H’Ban chưa bị hành hình ngay vì lão Pơ zâu con ấy, cũng đã gần bốn mươi tuổi rồi, không hiểu sao bỗng thích lấy H’Ban làm vợ bé ! Lão nói với H’Ban rằng, nếu H’Ban đồng ý lấy lão, lão sẽ dùng phép thuật gọi con ma lai trong người H’Ban ra mà giết đi, sau đó H’Ban sẽ không còn là ma lai nữa ! Nhưng H’Ban không chịu . Lão Pơ zâu năn nỉ, dọa dẫm, cưỡng ép H’Ban mãi không được, lão liền quyết định sẽ chọn ngày hành hình H’Ban !...
Cúc ngừng nói, mọi người lặng đi giây lát rồi xôn xao như làn gió đột ngột lướt qua khu rừng đang yên tĩnh. Mọi người bàn bạc mãi mà vẫn không  nghĩ ra được cách gì để cứu H’Ban. Bóng đêm đã chùm lên vạn vật từ bao giờ. Làng K’tung như đang chìm dần vào những điều bí ẩn, huyền ảo …
Sáng hôm sau, mấy thầy trò đi lang thang ngược dòng con suối K’tung vãn cảnh vì dân làng đang chuẩn bị hành hình ma lai, chẳng ai còn bụng dạ nào mà làm việc với đoàn sưu tầm cả. Chỉ còn hai ngày nữa, lão thầy cúng sẽ làm lễ, H’Ban sẽ bị thiêu cháy ! Điều đó khiến cho thầy trò lòng dạ nôn nao. Nhìn dòng suối đang róc rách chảy như muốn nói điều gì, Cúc bỗng reo lên :
- A !  Thầy Phát ơi ! Các bạn ơi ! Em đã nghĩ  ra rồi !...
Mọi người  xúm lại vây quanh Cúc,  rối rít hỏi. Cúc nói :
-Ôi! Tại sao chúng ta không nghĩ đến cái kế “dẫn thủy nhập thành” của các vị tướng thời xưa? Ở trên khúc suối này một đoạn là ngã ba suối. Suối mẹ là suối Kơ Nơng chảy thành hai nhánh là K’ning và K’tung. Suối K’ning còn lớn hơn suối K’tung này. Lão Pơ zâu đang làm chòi thiêu H’Ban ở bãi đất rộng bên bờ suối K’tung. Vậy ta có thể làm cho dòng suối K’tung dâng cao lên, chảy mạnh hơn bằng cách  ngăn suối K’ning lại. Nước của suối mẹ K’nơng sẽ chảy dồn về suối K’tung, đám cháy sẽ bị chìm trong nước!
Mọi người cùng reo lên:
- Hay lắm! Đó gọi là dùng thủy diệt hỏa! Đám cháy sẽ bị dập tắt và biết đâu nước sẽ cuốn phăng lão Pơ zâu đi!
Một người nói:
- Nhưng nước sẽ cuốn cả H’Ban đi thì sao? Còn bao nhiêu người khác nữa, cũng bị nước cuốn đi thì sao?
Thầy Phát nói:
- Chúng ta sẽ làm một số bè chuối để cứu H’Ban và những người bị nạn. Nào, phải bắt tay vào công việc ngay!...
Nói rồi mọi người đi như bay về nhà tìm kiếm dụng cụ và phân công nhiệm vụ cho từng người…
*
Ngay tại ngã ba đường, một đường rẽ vào làng, một đường rẽ sang làng khác, một đường đi ra suối K’tung, một cái chòi nhỏ đã được dựng lên từ bao giờ. Xung quanh chòi, người ta chất củi khô cao tới mái chòi. Đó là chỗ hành hình con ma lai H’Ban…
…Khi ngọn lửa đã bắt đầu liếm vào đống củi xung quanh cái chòi nhỏ nhốt H’Ban, lão Pơ zâu lầm rầm khấn:
Ơ!...Zang Pơ đa linh thiêng!...
Ngài thích ăn thịt gà
Chúng tôi xin dâng ngài một con gà béo đấy!
Ngài hãy thương chúng tôi
Đem tai vạ ra khỏi làng
Đem con ma lai này ra khỏi làng!...
Những người đứng xung quanh khu hành lễ bắt đầu lao xao khi nhìn thấy ngọn lửa  dữ tợn sắp phủ kín đống củi thì từ trên thượng nguồn suối K’tung, đột ngột vang lên những tiếng động khác thường, gầm vang kéo dài. Phút chốc, một dòng nước lớn cuồn cuộn ào ào đổ về  khu vực làng K’tung. Lòng suối vốn đang nhỏ hẹp bỗng dềnh lên, tràn sang cả con đường rẽ vào làng. Con nước như không muốn trôi theo dòng suối mà réo lên một cách hối hả, xoáy tròn, xoáy tròn òa vào đống lửa…Đám đông nhốn nháo, hỗn độn nhưng người ta vẫn nghe thấy những tiếng nói lớn, vang vang : “Zang Đăk (*) nổi giận !...Zang Đăk bảo H’Ban không phải là ma lai ! Ma lai chính là Pơ zâu Đinh Păc Sia ! Đinh Păc Sia chính là ma lai !...”. Lão thầy cúng Đinh Păc Sia đang ngơ ngác vì con nước bất ngờ ngập tràn thì bàng hoàng  thất kinh vì những tiếng nói ấy ! Lão tái mặt, run lập cập rồi quỳ xuống để cầu xin Zăng Đăk tha tội chết nhưng không kịp nữa rồi, một cái bè nứa lớn đã lướt tới đè lên lão, không cho lão nghe thấy câu nói cuối cùng của thằng con lão : “Pơ zâu Păc Sia ! Nước dâng đến bụng rồi kìa !...”. Cái bè nứa khi đã đè lên lão Pơ zâu thì lại lướt theo dòng suối băng băng như không muốn cho ai bám níu lấy nó !...
Đỗ Ngọc Thạch
----
Chú thích:
(*) Zang Đăk: Thần Nước
(1) Zang Pơ đa: Thần Chết
(2) Pơ zâu: Thầy cúng
(3)Hơ Amon: Truyện kể dân gian, trước đây thường dịch là Trường ca. Hơ Amon được trình diễn dưới hình thức Hát-kể , gọi là Diễn xướng hát-kể.
http://world.vietnammls.net/Upload/News/w355_large.jpgLễ đâm trâu
NGƯỜI  ĐƯỢC  CHỌN  ĐÂM  TRÂU 
Truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch 
1. 
Đinh Nhân là một chàng trai người Ba-na khỏe mạnh, cao gần một mét tám, nước da nâu bóng, mái tóc đen rậm trở thành cái phông nền tuyệt vời cho khuôn mặt cháy nắng nhưng đẹp một cách rất…”Cao nguyên”: đôi mắt luôn mở to như không muốn che đậy đi ánh mắt rực sáng, cái miệng luôn cười ra ánh sáng bởi hàm răng đều tăm tắp trắng bóng!...Muốn nói gì thì nói, Đinh Nhân là một thanh niên Ba-na “đạt chuẩn” tuyệt đối! Chính vì thế mà khi còn đang học ở trường Nội trú dành cho học sinh các dân tộc, cậu đã nhiều phen không được yên: Không chỉ một đoàn quay phim mà có tới ba đoàn, nhìn thấy cậu là mê liền và lôi đi quay phim, quay tới quay lui, lúc bắt trèo lên núi, lúc bảo đứng bên thác nước, lúc lại nói chèo thuyền…Mấy người quay phim nói đây là phim tài liệu về đất nước – con người Tây Nguyên, sẽ đem chiếu ở khắp thế giới, cho nên cậu sẽ được cả thế giới chiêm ngưỡng! Đinh Nhân không biết được cả thế giới chiêm ngưỡng có sướng hay không nhưng trước mắt cậu bị mất nhiều buổi học quá, khi đoàn quay phim trả cậu về trường, cậu bị điểm kém liên tục, chẳng thể gọi là sướng được! 
Mấy đoàn quay phim thì chỉ mượn Đinh Nhân một tuần, nhưng Đoàn Xiếc Trung ương thì dụ cậu đi học làm diễn viên xiếc. Không biết họ đã nói với các thầy giáo thế nào mà ai cũng bảo Đinh Nhân nên đi học làm diễn viên xiếc, vì chọn được người để huấn luyện thành diễn viên xiếc khó lắm, ngàn người mới chọn được một, hai. Làm diễn viên xiếc oai lắm, luôn luôn được hoan hô. Có thầy giáo còn nói: cậu học văn hóa hơi bị kém, có cái chuyện giải phương trình bậc nhất  (một ẩn số) mà làm mãi không được thì tới phương trình hai, ba, bốn ẩn số thì làm sao? Chi bằng đi học làm diễn viên xiếc, chẳng phải giải phương trình nhức đầu, mà tiêu chuẩn ăn của diễn viên xiếc cao lắm, không bao giờ lo bị đói như ở trường nội trú dân tộc! Lời khuyên này đã củng cố quyết tâm bỏ trường học đi theo Đoàn xiếc của Đinh Nhân! 
Lý do để Đoàn xiếc chọn Đinh Nhân chính là cái hình thể như người mẫu của cậu: Với cơ thể khỏe mạnh, đồ sộ như khổng lồ của Đinh Nhân, cậu được chọn để huấn luyện làm chân trụ, có nghĩa là cậu chỉ cần đứng cho vững và làm sao để một cây cột dài tới bốn, năm mét đứng yên trên một vai, và điều quan trọng là trên cây cột đó sẽ có một, hai nghệ sĩ uốn dẻo biểu diễn những động tác hình thể rất đẹp mắt! Nói thì ngắn gọn như thế nhưng tới khi làm thì không hề đơn giản. Để cho cây cột đứng yên trên vai, Đinh Nhân phải tập đúng một tháng. Tới khi có người đu bám trên cột thì cậu tập hoài không được! Lý do không giữ được thăng bằng cho cây cột khi có người bám vào biểu diễn không phải là sức nặng đè xuống vai (cậu thấy còn quá nhẹ, có thể ba bốn người bám vào cột cậu cũng chịu được) mà là cái mùi hương từ người con gái đang bám vào cột, cứ tăng dần “nồng độ” tấn công vào khứu giác của cậu, cho đến lúc cậu như bị trúng thuốc mê, không làm chủ được nữa, tất nhiên làm sao còn “giữ” được cây cột trên vai!...
2. 
 Đinh Nhân không hoàn thành được tiết mục, cậu được chuyển tới một lớp học đặc biệt, gọi là huấn luyện chiến sĩ đặc nhiệm. Nhưng mới dự huấn luyện được một tuần, Đinh Nhân nói với viên sĩ quan chỉ huy: “Ở đây toàn dạy đánh nhau, mà cháu thì không thích đánh nhau, cho cháu về nhà với mẹ! Cháu giúp mẹ làm nương rẫy tốt lắm, chẳng cần phải mất công huấn luyện như thế này! Mà nhà cháu cần có thêm người làm việc, nếu không cả nhà sẽ bị đói!”. Viên sĩ quan nói: “Được chọn vào đây là khó lắm, đó là vinh dự không phải ai cũng được. Với lại, huấn luyện xong, được bổ nhiệm sẽ có lương cao, nhiều tiền gửi về cho mẹ nuôi các em, không tốt hơn sao?”. Đinh Nhân lúng túng một lúc rồi nói giọng cương quyết: “Nhưng cháu nhớ mẹ, nhớ buôn làng, nhớ núi rừng!...Cháu không thể sống xa buôn làng, xa mẹ!”. Cuối cùng thì viên sĩ quan chỉ huy đành phải cho Đinh Nhân về với Tây Nguyên của cậu, mặc dù không hề muốn như thế vì tiếc một tay đấm có sức mạnh kinh hoàng!
Trở về buôn làng, ai cũng vui mừng vì thấy Đinh Nhân đã lớn lên rất nhiều, không chỉ về thể xác mà cả về tình cảm. Mẹ nói với cậu: “Bây giờ mẹ sẽ cưới vợ cho con. Khi vợ nó đẻ con thì con muốn đi đâu thì đi, làm gì thì làm!” Đinh Nhân nói: “Cưới vợ thì cưới Hơ Lan cho con. Hôm con mới về, chúng con đã dắt nhau lên thác Ya Li thề yêu nhau suốt đời rồi!” Bà mẹ Đinh Nhân vui lắm, làm đám cưới ngay. Chỉ sau chín tháng, Hơ Lan đã đẻ cho cậu hai thằng con trai (sinh đôi) rất khỏe, đẹp. Suốt một năm được chứng kiến vợ và mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng hai đứa con, Đinh Nhân mới nhận ra rằng vợ và mẹ biết rất nhiều những bài hát dân gian của dân tộc Ba-na và hai người phụ nữ ấy đã hát ru hàng ngày, hàng đêm cho hai đứa bé và dường như là chúng lớn lên là nhờ những bài ca dân gian đó. Và khi hai đứa bé lớn lên thì cha của Đinh Nhân lại kể cho chúng nghe những câu chuyện rất dài nhưng rất hay, mà ông gọi là Hơ ri, còn những người ở Sở Văn hóa gọi là Diễn xướng hát kể, thỉnh thoảng họ cũng đến ghi âm lời kể chuyện của ông… 
Một hôm, cha Đinh Nhân nói với cậu: “Con là người có sức mạnh hơn những người khác, nếu là thời chiến thì phải ra trận, còn thời bình thì con hãy làm việc gì đó theo khả năng của mình, giống như cây cà phê thì cho ta hạt cà phê, cây cao su thì cho mủ cao su, cây mít thì cho quả mít, chuối thì cho quả chuối!...” Đinh Nhân suy nghĩ rất nhanh và nói luôn: “Con đã đi học làm xiếc, học võ thuật nhưng đều không được, nhưng con học nhưng bài hát của mẹ, những câu chuyện kể của cha thì rất nhanh. Hiện nay con đã thuộc rất nhiều bài dân ca của mẹ và những chuyện kể của cha. Vậy thì con sẽ đi hát dân ca và kể chuyện dân gian!” Cha Đinh Nhân nói: “Mấy người ở Sở Văn hóa - Thông tin đã đến ghi âm cha kể chuyện có nói ở Sở Văn hóa – Thông tin rất cần những người có khả năng như thế tập hợp lại thành Đội Thông tin – tuyên truyền lưu động, đi khắp nơi để hát cho đồng bào các dân tộc nghe và tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước. Con có thể đến đó, cha nghĩ là sẽ thích hợp với con!’. Quả nhiên, khi Đinh Nhân đến Đội Thông tin – tuyên truyền lưu động của Sở VH-TT thì cả đội đều hoan nghênh, riêng mấy cô gái thì rất vui và ai cũng nuôi hi vọng!... Sau một tháng dự lớp tập huấn, Đinh Nhân cũng ngạc nhiên vì khả năng đa dạng của mình: sờ vào các loại nhạc cụ nào, cậu cũng có thể tấu thành một bản nhạc quen thuộc và sau một tháng mải mê luyện tập, cậu đã có thể đàn Ghi-ta không thua kém một nhạc công ghi-ta chuyên nghiệp!... 
3. 
Cứ vào những dịp có lễ hội ở buôn làng nào đó, dù xa xôi, Đội TT-TT của Đinh Nhân lại có mặt. Đinh Nhân đặc biệt thăng hoa với lễ Sa-mơk – Lễ ăn cốm mới (Lễ mừng lúa mới). Đây là một lễ hội rất quan trọng và rất đẹp. Lễ Sa-mơk được tiến hành trong ba ngày vào khoảng cuối tháng Tám lịch dân tộc, khi những vạt lúa sớm trên nương rẫy bắt đầu chín tới. Tại nhà Rông, mọi người giết lợn, gà để hiến tế các thần Zang Kông (1), Zang Đăk (2) đừng làm cho hồn lúa kinh sợ để hồn lúa (cùng với hồn lúa là sự no đủ) về với dân làng. Sau phần nghi lễ cúng tế Thần linh, dân làng múa hát, uống rượu Cần ăn mừng một vụ thu hoạch mới. Trong Lễ Sa-mơk này, ai cũng vui vẻ, múa, hát những bài ca tình yêu…
Có hai Lễ hội nữa cũng lớn như Lễ Sa-mơk là Lễ Grong Kơpô (3) và Lễ Grong Pơ-sát (4). Với Lễ Grong Pơsát, cũng như với Lễ Sa-mơk, Đinh Nhân có thể múa hát, đánh đàn suốt đêm nhưng với lễ Grong Kơpô, Đinh Nhân luôn có cảm giác là chính trái tim mình bị đâm chứ không phải con trâu bị đâm!...
Đinh Nhân đem cảm giác đó hỏi cha, ông Đinh Răc trầm ngâm như một gốc thông già hồi lâu mới chậm rãi nói: “Lễ Grong Kơpô có từ rất xa xưa, khi các bộ tộc thường có chiến tranh vì tranh giành địa bàn cư trú hoặc một quyền lợi gì đó. Lẽ đương nhiên, những bộ tộc mạnh sẽ chiến thắng và người ta tổ chức Lễ Grong Kơpô tức Lễ Đâm trâu mừng chiến thắng. Con trâu được dùng làm vật hiến tế. Trước khi giết con trâu để lấy cái đầu con trâu dâng lên Thần linh, người ta buộc con trâu vào gốc cây Nêu chôn ở sân rộng trước nhà Rông, rồi chọn lấy một hoặc hai thanh niên trai tráng, chính là những chiến binh có nhiều chiến công nhất trong những trận đánh thắng lợi đó, tay cầm khiên, tay cầm giáo, múa những bài võ chiến đấu, những mũi giáo đâm phải trúng vào con trâu, đến khi con trâu kiệt sức, không chạy quanh cây nêu nữa thì thôi. Trong khi người chiến binh múa khiên, đâm trâu thì đội cồng chiêng tấu nhạc, ông thầy cúng đọc những lời Sơ-măh (5):
          Hãy dậy đi hỡi Thần Đăm Đoa
          Từ núi Hàm Rồng nóng bỏng
           Xông cho trái tim sôi lên đầy dũng khí
           Hun lên cho con người đầy dũng cảm
           Như tiếng hổ gầm trong bãi tranh
           Như tiếng beo gầm trong bụi rậm
           Như sấm chớp
           Như sét đánh!... 
Sau này, Lễ Grong Kơpô được tổ chức không còn như ý nghĩa ban đầu nhưng về cơ bản các bước tiến hành không khác trước mấy!...Không riêng gì con mà cũng có không ít người không muốn nhìn thấy cảnh con trâu bị đâm liên tục cho đến chết! Chính cha cũng đã nói nên bỏ các bước trong việc đâm chết con trâu mà thay vào đó là diễn tả lại cảnh chiến trận thời xưa, rồi tổ chức đấu võ, múa khiên cũng là biểu dương sức mạnh cộng đồng… Nhưng chỉ có già làng Đinh Rin là tán đồng mà thôi!” Nghe cha nói vậy, Đinh Nhân thầm nghĩ: “Thế thì ta còn biết nói gì nữa đây?”…
4. 
Đinh Nhân không bao giờ quên cái lần ấy: có một đoàn nghiên cứu Văn hóa dân gian của Trung ương tổ chức phục dựng Lễ Đâm trâu để quay phim, có rất nhiều khách nước ngoài cũng tới dự. Và nhà nghiên cứu Văn hóa dân gian kiêm đạo diễn Lễ Đâm trâu đã chọn đích danh Đinh Nhân là nhân vật chính trong nghi thức đâm trâu. Ông này đã tìm gặp Đinh Nhân và nói: “Lễ đâm trâu này đã được chuẩn bị cả năm nay, sẽ diễn ra đúng như khởi thủy của nó và sẽ rất hoành tráng, sẽ được quay phim kỹ lưỡng và sẽ là một nội dung quan trọng trong Luận văn Tiến sĩ của tôi trình bày trước Hội đồng Khoa học có cả các chuyên gia Folklore nước ngoài tham dự. Chính vì thế, tôi muốn nhờ cậu vào vai dũng sĩ múa khiên và đâm trâu và tôi tin cậu sẽ làm rất tốt!”. Đinh Nhân nghe nói thì tai như có gió thổi ù ù, trong đầu như có sấm rền, anh nói ngay: “Không! Tôi không thể làm người đâm chết con trâu! Con trâu nó là người bạn tốt nhất của tôi! Tôi không thể!”. Ông kia thoáng ngạc nhiên rồi lấy trong ví ra hai trăm ngàn đưa cho Đinh Nhân: “Cậu nhận lời đi, đây là tiền thù lao tôi ứng trước cho cậu!”.
Lập tức Đinh Nhân la to: “Tôi không lấy tiền của ông để đâm chết con trâu vô tội! Ông đi đi!” Và Đinh Nhân đã bỏ đi trước sự ngạc nhiên của ông kia. Đinh Nhân còn nghe rõ tiếng ông ta nói theo: “Chê tiền à? Đúng là thằng mọi ngu ngốc!...”. Đinh Nhân tính quay lại tóm cổ ông ta ném vào vườn cà phê, nhưng anh vội kìm lại và thoáng nghĩ: Việc cấp bách bây giờ là phải giải thoát con trâu đang bị cột ở sau nhà Rông! Và Đinh Nhân đã chạy như bay đến bên con trâu tội nghiệp, nó không biết gì về việc ngày mai người ta sẽ đem nó cột vào gốc cây Nêu trước sân nhà Rông rồi đâm nó cho đến chết! Nó vẫn đứng yên, cái đuôi chốc chốc lại quật qua quật lại đuổi lũ muỗi cứ bu bám vào mông nó mà hút máu, còn hai cái tai thì phe phẩy nhẹ như hai cái quạt, mồm thì nhai nhai hoài!... 
Đinh Nhân đã dẫn con trâu tới cửa rừng và vỗ vào mông nó mà nói: “Mày hãy đi vào đại ngàn, ở đó sẽ có cỏ non cho mày ăn, có nước suối mát cho mày uống!”. Con trâu như là ngần ngừ không muốn đi một mình, nó quay đầu lại nhìn Đinh Nhân và từ trong mắt nó lăn ra những hạt lệ to tròn như những hạt ngọc!...Đinh Nhân dụi mắt và thoáng nghĩ, không biết là con trâu nó rơi lệ hay là mình rơi lệ? 
----------
Chú thích:  
(1) Zang Kông: Thần Núi
(2) Zang Đăk: Thần Sông, Thần Nước
(3) Grong Kơpô: Lễ đâm trâu
(4) Grong Pơ-sát: còn gọi là lễ  P’Thi: Lễ bỏ mả, lễ bỏ nhà mồ
(5) Sơ-măh: lời khấn trong Lễ Grong Kơpô.
Sài Gòn, 10-12/11/2009
Đỗ Ngọc Thạch

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Ký ức Hà Nội - Đỗ Ngọc Thạch (NVTPHCM)

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch


Đỗ Ngọc Thạch - Ký ức Hà Nội
Ảnh riêng

Đỗ Ngọc Thạch - Ký ức Hà Nội
12.02.2012-13:53

@ Thư viện Đỗ Ngọc Thạch
Ký ức Hà Nội
TRUYỆN NGẮN CỦA ĐỖ NGỌC THẠCH
 
       Tuổi thơ đi rồi mãi mãi lìa xa
       Chẳng còn bao giờ mong trở lại
       Tim vẫn hát điệu vần  khôn cưỡng lại
       Tình yêu như sao trời mọc trên đầu ta!...

Ngay sau ngày giải phóng Thủ đô, gia đình tôi chuyển về Hà Nội, từ chiến khu. Bố tôi  làm việc ở Bệnh viện quân đội 108 (còn gọi là bệnh viện Đồn Thủy) nuôi cả nhà, gồm mẹ tôi và năm chị em. Lúc đó, tôi chưa tới mười tuổi nên không thể nhớ lại  được  bố mẹ tôi đã xoay trở ra sao để nuôi  một đàn con chúng tôi ăn học giữa chốn thị thành này. Tôi  cũng không có ý thức gì về sự giàu nghèo vì cho tới lúc này, tôi vẫn chưa biết mặt mũi đồng tiền nó như thế nào!
Gia đình tôi ở nhờ trong nhà một người bạn học cũ của bố tôi, ở phố Nguyễn Lai Thạch. Chủ nhà nhường toàn bộ phần lầu một , thoáng mát , rộng rãi. Tuy nhiên, chính vì ở trên lầu mà cái cầu thang  đã trở thành mối nguy hiểm thường trực đối với  tôi: vì không quen đi cầu thang mà mỗi ngày phải lên xuống cái cầu thang ấy hàng chục lần, nên tôi thường bị té ngã đủ kiểu! Ấy là chưa kể tôi còn thường bị bố tôi đánh lăn từ đầu cầu thang xuống tới chân cầu thang! (Sau này, tôi không còn oán bố tôi về chuyện này nữa vì tôi  biết rằng bố tôi  là người  tính nóng, mà tôi thì hay làm hỏng việc và thường là không thực hiện đúng những quy định do bố tôi  đặt ra, chẳng hạn như làm vỡ phích nước, khi bố tôi đi làm về mà vẫn chưa nấu cơm xong…).  Nhưng tôi lại phải cảm ơn cái chuyện ngã cầu thang này vì nhờ tôi bị ngã gãy tay mà tôi  đã có một người bạn đặc biệt.
Năm đó (1955), tôi đang học lớp Một. Vào năm học được một tháng thì tôi bị ngã cầu thang và phải nghỉ học gần mười ngày. Tới ngày nghỉ thứ ba thì Nhung – lớp trưởng, được cô giáo giao nhiệm vụ đến giúp tôi chép bài và hướng dẫn tôi học, để khỏi bị đứt đoạn. Nhưng cả Nhung và cô giáo đều không biết rằng hồi còn ở chiến khu, tôi đã học xong toàn bộ chương trình lớp Một, vì khi đó, mẹ tôi là cô giáo tiểu học và đã cho tôi học  “dự thính” !  Khi về Hà Nội tôi mới đủ tuổi vào lớp Một nên phải xin vào học lại từ lớp Một. Thật là sự trùng hợp ngẫu nhiên, Nhung cũng đã tự học xong chương trình lớp Một, nhưng là do chị Nhung dạy tại nhà. Thế là việc học bài chuyển thành những buổi đọc truyện thật là thú vị đối với tôi. Nhung nói nhà Nhung có một tủ sách rất lớn được truyền lại từ ông nội Nhung (đã đỗ tiến sĩ dưới triều Nguyễn), đến bố Nhung, một bác sĩ đã tốt nghiệp khóa đầu của trường đại học Y – Dược Hà Nội. Chính là nhờ Nhung tôi đã biết thế giới kỳ ảo của truyện Cổ tích, Thần thoại từ Việt Nam, Trung Quốc cho đến An-đec-xen, Grim…
Việc Nhung dắt tôi vào thế giới kỳ ảo của Cổ tích, Thần thoại thật là thú vị đối với tôi, nhưng còn thú vị, tuyệt vời hơn là việc Nhung đã tình nguyện là hướng đạo dẫn tôi đi khắp Hà Nội 36 phố phường!
Lần đầu tiên, Nhung dẫn tôi đến hồ Hoàn Kiếm và kể cho tôi  nghe chuyện vua Lê Thái Tổ trả gươm cho Thần Rùa. Trong khi tôi đang mải suy nghĩ xem Thần Rùa đã để thanh gươm ấy ở đâu thì Nhung nói:
- Giá như khi giặc Pháp sang xâm lược nước ta, Thần Rùa cũng cho mượn Gươm ấy thì nước ta đã không bị chúng đô hộ gần  một thế kỷ!...
Tôi nói ngay:
- Giặc Pháp có nhiều súng đạn, gươm thì làm sao đánh lại?
- Ừ nhỉ!... – Nhung nói khẽ và buông một hơi thở nhẹ.    
Tôi thấy mình như bị một lực vô hình nhấc bổng lên cao rồi ném mạnh xuống hồ. Tôi lặn hụp một hồi thì cảm thấy như là bị chuột rút. Tôi  vẫn còn tỉnh táo để nhận ra một bàn tay nhỏ đã túm tóc tôi kéo vào bờ!
Nhung hỏi, sau khi tôi đã trở lại bình thường:
- Sao bạn lại nhảy xuống hồ?
- Tôi định lặn xuống tìm thanh gươm của Thần Rùa! – Đúng là trong đầu tôi có ý nghĩ như vậy!
- Trời ơi! - Nhung tròn mắt nhìn tôi - bạn không biết bơi mà sao lại liều như vậy?
- Tôi bơi giỏi ấy chứ! - Tôi cười to và nói liền một mạch - Ở quê tôi có sông Thao, tôi đã bơi qua sông rồi bơi trở lại. Đó là chuyện bình thường. Bạn có biết câu “Sông Thao nước đục người đen - Ai lên Vũ Ẻn thì quên đường về” không? Quê tôi đẹp và nên thơ lắm. Nhưng khi được biết câu “Mịt mù khói tỏa ngàn sương - Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ” tôi lại thấy Hà Nội của bạn chắc là đẹp hơn?   
Không phải đợi lâu, Nhung dẫn tôi đến Hồ Tây. Đứng trước mặt hồ, một cảm giác kỳ lạ dâng trào trong tôi và tôi đã nhảy ào xuống hồ từ lúc nào. Sau khi lặn một hơi, tôi nổi lên và sải tay bơi ra giữa hồ. Được một lát, tôi ngoảnh lại thì thấy Nhung đang đứng yên lặng bên bờ hồ, mắt dõi theo tôi. Bơi được khoảng gần một trăm mét, tôi dừng lại và chợt nghĩ: “Thử lặn xuống xem có báu vật gì không?”. Thế là tôi lặn một hơi dài. Quả nhiên, không lâu la gì, tôi đã tìm thấy một cái đồng hồ bỏ túi và một miếng ngọc bội. Tôi tặng Nhung miếng ngọc bội và giữ lại cái đồng hồ (Nhưng ngay ngày hôm sau, cái đồng hồ đã bị bố tôi tịch thu!). Chúng tôi còn trở lại hồ Tây hai lần nữa, cũng có nhiều chuyện đáng nhớ mãi nhưng chưa thể kể hết ra đây được!
Tôi ở Hà Nội chưa được một năm, chưa kịp đi xem hết những kỳ quan của Hà Nội thì gia đình tôi chuyển về  Hà Đông (bố tôi được điều động về làm việc ở quân y viện 103). Ở Hà Đông được một năm thì bố tôi lại được điều động  về quân y viện 109 ở Vĩnh Yên. Ở Vĩnh Yên cũng chưa được một năm thì gia đình tôi lại chuyển về Hà Nội (bố tôi đã  chuyển ngành và đang chờ Bộ y tế sắp xếp công tác). Lần này, gia đình tôi ở nhờ một trại chăn nuôi bò sữa vùng ngoại ô, có cái tên rất hay: Lương Yên. Đây là khu lao động, hầu hết là dân nghèo. Vì thế, phòng mạch của bố tuy đông bệnh nhân nhưng thu nhập chỉ vừa đủ sống (đa phần chữa bệnh không lấy tiền). Công việc ở phòng mạch rất nhiều (có đủ các loại bệnh, riêng công việc giải phẫu – chỉ có tiểu phẫu – thì nhiều không ngờ: ngày nào cũng ngót nghét chục ca)  nhưng người làm chỉ có ba : bố tôi, mẹ tôi (đã là y tá) và tôi. Vì tôi bận làm việc như thế cho nên thời gian để gặp Nhung thật là hiếm hoi. Chỉ đến khi Nhung xin chuyển về trường Lương Yên học cùng lớp với tôi (lớp 4), thì chúng tôi mới được gặp nhau thường xuyên – dĩ nhiên! Những giờ kiểm tra một tiết hoặc cả buổi, chúng tôi chỉ làm bài trong mười phút là xong và nộp bài cho thầy giáo rồi dắt nhau tung tăng khắp phố phường! Những ngày tháng đó thật là đẹp và có thật nhiều kỷ niệm nhớ đời. Tôi chỉ xin kể ra đây một kỷ niệm “đòn đau nhớ đời”! 
Lần ấy, khi tôi và Nhung đang đứng xem giới thiệu chương trình kịch mục trước cửa Nhà hát Lớn thì thật bất ngờ, chiếc mô-bi-lét của bố tôi đỗ xịch ngay sát người tôi mới biết! Kết quả là tôi bi một trận đòn “thập tử nhất sinh” cùng với bao lời kết tội của bố tôi, trong những tội đó có một từ mà lần đầu tiên tôi được nghe: luyến ái bất chính! Khi nghe bố tôi nói như thế, tôi nghĩ: đúng là tôi và Nhung rất thân nhau, rất thích gần nhau, nhưng yêu thì chắc là từ đây tôi sẽ yêu Nhung!
Tôi chưa kịp nói với Nhung về những suy nghĩ của mình thì gia đình tôi chuyển lên Thái Nguyên – bố tôi được giao nhiệm vụ làm giám đốc bệnh viện Khu Gang thép Thái Nguyên. Tính lại, chúng tôi chỉ cùng được học bên nhau học kỳ 1 của lớp 4, nhưng bù vào đó, Nhung đã dẫn tôi đi khắp lượt Hà Nội 36 phố phường . Sau này, khi trở lại sống ở Hà Nội lần thứ ba, tôi đã bắt tay vào viết cuốn Hà Nội ký sự, nhưng rồi bỏ dở vì nghĩ có lẽ mình không qua nổi những văn tài đã viết rất hay về Hà Nội như Vũ Bằng, Thạch Lam, Tô Hoài…Lần ra đi này của gia đình tôi cũng thật là cập rập, dĩ nhiên là tôi không thể chia tay với Nhung. Tới Thái Nguyên, tôi đã viết thư ngay cho Nhung, gửi cả về nhà và địa chỉ lớp học, nhưng dù tôi có gửi thêm gần chục lần nữa, cũng không hề có thư hồi âm của Nhung ! 
Ở Thái Nguyên được một năm rưỡi, gia đình tôi lại chuyển chỗ ở : đi một mạch từ Thái Nguyên về thành phố biển Hải Phòng ! Bố tôi lại chuyển đổi công tác (chưa phải là lần cuối) : về làm giám đốc Viện điều dưỡng A ở Hải Phòng ! Lúc chiếc xe tải chở gia đình tôi từ Thái Nguyên về qua Hà Nội, chỉ nghỉ có một đêm, tôi muốn đi tìm gặp Nhung nhưng tôi không có một kẽ hở thời gian nào: mẹ tôi đã đẻ thêm ba cậu con trai, từ năm 1955 đến năm 1960, (lúc đó là đầu năm 1961) và việc trông coi ba đứa em nhỏ tôi phải làm gần hết, không khác gì một nhũ mẫu thực thụ ! Không thể diễn tả hết cảm giác của tôi lúc đó: thấy như là Nhung ở rất gần đâu đây mà không gọi được, không tới được!
Thế là lại phải qua đi năm năm nữa tôi mới được gặp lại Nhung. Ấy là lúc tôi học xong lớp mười Trung học Phổ thông và có giấy gọi vào khoa Toán trường Đại học Tổng hợp. Nhận được  giấy gọi, tôi đi Hà Nội ngay. Đoạn đường “tăng-bo” khá dài (thời gian này – 1966, máy bay Mỹ đã tăng cường đánh phá miền Bắc, cầu Phú Lương trên đường số 5 bị hỏng nên tàu hỏa không thể đi qua) nhưng tôi đi như bay, như là có cánh mọc dưới chân như nhân vật Hecmet trong thần thoại Hy Lạp! Gặp lại Nhung sau sáu năm xa cách, tôi đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác: Nhung đã là một thiếu nữ 18 tuổi cực kỳ xinh đẹp, không thua kém các hoa hậu thời nay bất kỳ điểm nào; Nhung cũng tốt nghiệp phổ thông trung học như tôi nhưng với điểm cao tuyệt đối mà bây giờ gọi là Thủ khoa, đặc biệt với môn Toán, suốt 10 năm học phổ thông, Nhung luôn đạt điểm cao nhất ; điều bất ngờ thứ ba gây sốc rất mạnh đối với tôi là Nhung không được gọi vào đại học vì lí lịch : Ông nội là quan lại thời phong kiến, bố là tư sản, có một ông chú đang làm việc trong chính quyền Sài Gòn và một ông chú đang sống ở Pháp! Tôi không nói được lời nào để an ủi Nhung hay đại loại như vậy, chỉ vò đầu bứt tai và cảm thấy như mình có lỗi ! Nhưng Nhung lại an ủi tôi và tỏ ra rất bình thản (hay đúng là Nhung chỉ tỏ ra bình thản ở bề ngoài ?). Nhung nói nhỏ nhẹ :
- Bạn nên tới trường ngay đi. Đường xa và bom đạn không biết đâu mà lường ! Tôi sẽ đưa bạn tới tận nơi học!  
Trời ơi ! Nghe Nhung nói mà tôi như sắp òa khóc ! Tôi muốn thời gian ngừng lại, trái đất ngừng quay và tốt nhất là quay ngược lại cái thời Nhung dắt tôi đi lang thang khắp 36 phố phường Hà Nội ! Trong đầu tôi vụt hiện lên nào là Hồ Gươm cổ tích, Hồ Tây bâng khuâng, hồ Thuyền Quang mơ mộng, Ô Quan Chưởng trầm mặc, Ô Đống Mác lầm bụi, Ô Chợ Dừa nhộn nhịp…, nào là những con đường ào ào lá đổ, những hàng cây đào Nhật Tân kiên nhẫn đứng đợi xuân về, nào là cây cầu Long Biên già nua nhưng vẫn cố gồng mình cho đoàn người, đoàn xe qua lại không ngớt…
Cuối cùng thì tôi cũng không thể không đối diện với thực tại : tôi đi học, còn Nhung, Nhung sẽ đi đâu ? làm gì ? Nhung không trả lời tôi mà giục tôi lên đường . Quả là con đường sẽ đi rất xa : Khoa Toán của trường ĐHTH  sơ tán ở tận huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên (tôi có duyên nợ gì với Thái Nguyên đây ?). Đi tàu từ thị xã Thái Nguyên đến ga Quán Triều là hết đường sắt, phải đi bộ tiếp đến Đại Từ, và điểm cuối cùng là thôn Đầm Mây – chắc là chỗ chúng tôi học ở tít trên chín tầng mây !   
Suốt quãng đường đi bộ, con đường đồi núi dài hun hút và vắng teo, Nhung hết đọc thơ, bình thơ rồi lại kể chuyện cổ kim đông tây cho tôi nghe. Tôi không ngờ Nhung đọc thơ và bình thơ thật tuyệt vời, nhất là những bài thơ tình của  Aragon viết tặng Ensa  do  Nhung tự dịch từ nguyên bản tiếng Pháp . Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn còn thuộc những câu thơ ấy và nó hiện ra trong đầu tôi cùng với hình ảnh Nhung đang đọc lên lúc ấy : “Tất cả những gì về anh nhờ em anh mới biết – Trời đã đứng trưa, ngày cũng sắp qua rồi – hạnh phúc không phải ngọn đèn nơi quán nhỏ - anh cầm tay em  trong cuộc đời đau khổ - mà con người chưa hiểu nghĩa chung đôi…”
Con đường dài hun hút và vắng teo ấy cuối cùng cũng ở sau lưng chúng tôi ! Tôi sợ phải chia tay với Nhung. Một nỗi sợ không có hình hài nhưng nó làm tim tôi như ngừng đập ! Và có lẽ Nhung biết rất rõ điều ấy nên Nhung đã đồng ý để tôi đưa Nhung trở lại thị xã Thái Nguyên. Và rồi cuối cùng, tôi đã đưa Nhung trở lại Hà Nội. Chúng tôi quyết định sẽ đi lang thang khắp Hà Nội một lần nữa, một ngày một đêm, rồi tôi sẽ đi Thái Nguyên, tới huyện Đại Từ và cuối cùng là cái làng Đầm Mây heo hút kia !  
Khắp Hà Nội là một không khí sẵn sàng chiến đấu đánh trả bọn “Thần Sấm”, “Con Ma” của  “Không lực Hoa Kỳ”. Trên đường Thanh Niên bên Hồ Tây, nơi có hàng ghế đá và những cây liễu rủ tóc thướt tha – nơi hẹn hò yêu đương của những đôi lứa – sừng sững những khẩu pháo phòng không đang sẵn sàng nhả đạn bất cứ lúc nào. Trên sân thượng ở các nhà cao tầng, những khẩu súng máy 14,5 li và 12,7 li và cả súng trường CKC cũng đang vươn nòng sẵn sàng chiến đấu !... Một ý nghĩ thoáng vụt đến: tôi muốn đi chiến đấu, tôi sẽ xông pha nơi bom lửa bão đạn, chứ không thể tìm đến một nơi an toàn tít tận cái làng Đầm Mây hẻo lánh trên miền núi rừng kia để mà ngồi học, nhất là Nhung lại không được đi học nữa ! (Ý nghĩ bất chợt ấy chỉ ba tháng sau đã trở thành sự thật !). 
Bấy giờ là tháng Chín – Mùa Thu. Tôi và Nhung cứ đi lòng vòng mà không định rõ rằng sẽ đi đến đâu ? Khi tôi thấy đôi chân mỏi rời thì cũng là lúc chúng tôi đang đứng trước Văn Miếu. Chúng tôi đã đến Văn Miếu nhiều lần vì ông nội Nhung có tên trong tấm bia đá tiến sĩ, mỗi khi nhớ ông nội Nhung lại đến đây…Tôi nói với Nhung :
- Giá như bây giờ là Mùa Xuân thì hay quá, mình muốn đến nhìn hoa đào đón Mùa Xuân như thế nào ?
- Mùa Thu Hà Nội có nhiều điều kỳ diệu lắm. Mình có cảm giác rằng chính Mùa Thu đã làm cho Hà Nội đẹp một cách huyền ảo. Vả lại riêng mình, trong bốn mùa ở Hà Nội, mình thích Mùa Thu nhất, bởi Mùa Thu dài nhất, bí ẩn nhất…-  Nhung nói nhỏ.
- Và buồn nhất – Tôi nói chen ngang – Tiếng Thu là âm thanh buồn vô hạn : “Con nai vàng ngơ ngác – đạp trên lá vàng khô”…   
Nhung  xác nhận :
- Đó cũng là một biểu hiện lãng mạn của Mùa Thu, nhưng người ta chìm đắm vào đó nhiều quá, thái quá bất cập. Mình thích Mùa Thu nhất không phải vì Mùa Thu buồn mà vì lẽ khác. Bạn cứ thử nghĩ xem, tại sao chỉ có Thiên Thu mà không có thiên Xuân, thiên hạ, thiên đông ? Thiên Thu (ngàn năm) là một khái niệm thời gian không có giới hạn…Mình cứ bị ám ảnh bởi một câu thơ nói về cái chết của một chú bé lính kèn : “Hỡi người lính kèn nhỏ tuổi – Hãy nằm đây yên giấc ngàn Thu…”  Đó là cái vĩ đại, cái kỳ diệu trong cái bé nhỏ. Loài người tồn tại được là nhờ điều đó!    
Tôi lờ mờ nhận ra điều gì đó trong suy nghĩ của Nhung, nó như đôi cánh của Thiên Thần đang bay trên thinh không kỳ ảo. Vì cứ mải đuổi theo đôi cánh Thiên Thần ấy mà tôi quên hết những gì định nói với Nhung trong ngày hôm nay. Cuối cùng, tôi lại nói một câu rất vu vơ :
- Thiên Thu? Đúng rồi! “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”, hồi ở Hải Phòng, vì đánh nhau mà mình bị giam ở đồn công an một ngày, đúng là dài bằng cả ngàn năm!  
Nhung mỉm cười rồi chợt buông một hơi thở nhẹ và nói :
- Mình rất muốn được học ở Khoa Toán như bạn, nhưng cái số mình là nó vậy, biết làm sao. Điều mong ước duy nhất của mình lúc này là bạn sẽ học thật tốt, sẽ trở thành một nhà toán học như trước đây chúng mình đã hằng mơ ước. Bạn thắp hương cầu khấn ông nội mình đi, ông sẽ phù hộ độ trì cho bạn…
Chúng tôi cùng cầu khấn ông nội của Nhung. Tôi nhìn tấm bia Tiến sĩ mà như thấy cảnh tôi vinh quy bái tổ, Nhung e lệ đón tôi  trong tiếng pháo nổ vạn sắc hồng ! Nhưng, kỳ lạ thay, con Rùa dưới tấm bia như là đang bò đi, mới có vài bước chân mà đã mất hút ! Tôi giật mình nhìn sang Nhung, Nhung vẫn đang lầm rầm khấn điều gì đó ! Tôi không nghe rõ tiếng Nhung vì không hiểu sao tôi nghe thấy tiếng lá rơi rất kỳ lạ, rất to như là tiếng bom nổ ! Và điều đó không sai, máy bay Mỹ đang ném bom ở đâu đó, không xa lắm, tiếng còi báo động của Thành phố vang lên!

Đoạn kết :
Đoạn kết thật bi thương, nhưng không thể khác đi được ! Tháng Mười năm 1970 tôi được trở về tiếp tục học tại khoa Toán sau bốn năm là lính Ra-đa thuộc lực lượng Phòng không – Không quân. Lúc này, trường Đại học không phải đi sơ tán như hồi tôi mới nhập học nữa. Khoa Toán của tôi học ở khu Thượng Đình. Nói chung là tốt, không có gì phải phàn nàn!
Gặp lại Nhung, chúng tôi đều rất mừng . Tôi thầm cảm phục Nhung đã có bản lĩnh vững vàng để đi qua biến cố lớn của cuộc đời. Nếu là tôi, tôi đã gào thét, đã buông thả và có lẽ sẽ trở thành một kẻ chán đời, bất lực. Trong suốt bốn năm qua, Nhung đã tham gia rất tích cực trong đội cấp cứu cơ động của Thành phố. Với tư chất thông minh bẩm sinh, với sự say mê học hỏi qua tủ sách Y học và sự hướng dẫn nhiệt tình, chu đáo của người bố, kiến thức cũng như thực hành về Y học của Nhung không thua kém bất kỳ một bác sĩ chuyên khoa giỏi nào. Nhung đã cùng đội cấp cứu cơ động cứu sống rất nhiều người trong những đợt oanh tạc liên tục từ ngày này qua ngày khác của máy bay Mỹ trong cuộc chiến tranh phá hoại mang tính hủy diệt này…Với việc trở lại Khoa Toán của tôi, Nhung đã khiến tôi bất ngờ vô cùng : Nhung tặng tôi toàn bộ số sách giáo trình của bốn năm học của một sinh viên khoa Toán mà tôi sẽ phải dùng đến . Ngày tháng mua sách được ghi ở trang đầu từ năm 1967 đến 1970. Thì ra trong khi tôi đang mất hút ở chiến trường, Nhung đã mua sách theo chương trình và tự học xong toàn bộ. Lúc đưa sách cho tôi, Nhung chỉ nói ngắn gọn: “Trong thời gian bạn ở chiến trường , mình đã học thay bạn. Giờ bạn đã trở về, trả lại cho bạn đó !” . Tôi không biết nói sao, chỉ biết lao vào những Ma trận kỳ ảo, những Chuỗi số dài vô tận của toán học… Song, một điều bất ngờ đến kinh hoàng , đến nỗi cho đến tận bây giờ tôi vẫn chưa tin là nó đã xảy ra là : trong một lần cứu hai em bé bị nước cuốn trôi ngay sát cầu Long Biên, Nhung đã bị cuốn vào một cái hút nước. Phải mất nửa ngày, hai người thợ lặn mới tìm thấy Nhung !... Đó là ngày 10-10-1971!...
…Nhung nằm đó, bất động…Tay Nhung đang cầm miếng ngọc bội mà tôi đã tặng Nhung ở Hồ Tây năm xưa…Tôi vụt nhớ đến câu thơ có hai chữ “Thiên Thu” mà Nhung đã đọc cho tôi nghe rất nhiều lần: “ Hỡi người lính kèn nhỏ tuổi – Hãy nằm đây an giấc ngàn Thu “…Và tôi đã đọc lên cho Nhung nghe, một lần, hai lần, ba lần, đọc hoài !...

Đỗ Ngọc Thạch



Thiếu nữ Hà Nội với mùa xuân

@ Thư viện Đỗ Ngọc Thạch



ĐỖ NGỌC THẠCH - NHÀ VĂN - Thư viện

NHÀ VĂN ĐỖ NGỌC THẠCH
Đỗ Ngọc Thạch sinh ngày 19 tháng 5 năm 1948, quê quán ở  Phú Thọ. Ông đã tham gia quân đội từ 1966 đến 1970. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1976. Làm công tác giảng dạy, nghiên cứu văn học, biên tập viên báo chí tại các cơ quan: Trường Dự bị đại học Dân tộc Trung ương, Viện Nghiên cứu văn học, Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, Sở Văn hoá - thông tin tỉnh Gia Lai - Kon Tum (cũ), Báo Lao Động & Xã Hội,...
Hiện ông sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác phẩm đã xuất bản:
- Người tạc tượng nhà mồ (tập truyện ngắn, in chung - NXB Văn hóa - Dân tộc, 1986)
- Quà tặng tuổi hai mươi (tập truyện ngắn, NXB Công an Nhân dân, 1994 và 2005).

Quan niệm văn học:
- "Văn học là nhân học".
TÁC PHẨM TRÊN NVTPHCM:
>> Ký ức Hà Nội - truyện ngắn

ẢNH TƯ LIỆU CỦA ĐỖ NGỌC THẠCH:


  Hà Nội, mùa đông 1996

nguồn: nhavantphcm.com