Thứ Tư, 6 tháng 6, 2012

2 truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch (đã sửa)

Chuyện một nhà báo
Truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch

Hơn hai mươi năm lăn lộn trong nghiệp chướng “viết lách” tôi đã tiếp xúc với khá nhiều nhà báo thuộc đủ các “đẳng cấp” khác nhau, nhưng người gây ấn tượng mạnh nhất đối với tôi là Bửu Báo. Tôi gặp B.B (từ đây, xin cứ gọi tắt Bửu Báo là B.B cho tiện và cũng vì một lý do nữa là Bửu Báo rất khoái khi tôi gọi thế, chỉ vì một lần đến chơi với tôi, thấy có bức ảnh nhân vật nổi tiếng người Đức Béc-tôn Brếch, Báo nói người này hơi giống mình và xin luôn bức ảnh đó về…) khi tôi đang thịnh còn B.B thì đang ở vào thuở “hàn vi”. Lúc ấy, tôi đang phụ trách công tác xuất bản và một tờ tạp chí của Sở Văn hóa thông tin một tỉnh lớn (giờ đã tách thành hai tỉnh), có thể nói cũng là “quan to” vì nó tương đương với một nhà xuất bản và một tờ tạp chí ở một tỉnh phát triển mạnh và sớm. B.B lúc đó đang làm nhân viên của phòng văn hóa thông tin một huyện miền núi vùng sâu, vùng xa, “vùng biên ải”. Tôi vì “chán đời” mà   bỏ đất Thủ đô vân du bốn phương nên đã gặp B.B lần đầu ở tận chốn thâm sơn cùng cốc vùng biên ải và không hiểu sao, số phận tôi lại liên quan với B.B …
Lần ấy tôi đi cùng hai nhà sưu tầm văn hóa dân gian đến huyện thì gặp B.B. Lúc đó, chúng tôi vào trụ sở của phòng văn hóa thông tin huyện thì thấy vắng tanh vắng ngắt như vào một cái miếu cổ bỏ hoang lâu ngày. Chúng tôi tính bỏ đi bỗng nghe có tiếng rì rầm phát ra từ một căn phòng đóng cửa. Tôi tiến lại gõ cửa, khoảng năm phút sau, một thanh niên cao to bước ra, khép hai cánh cửa lại sau lưng. Vừa nhìn thấy chúng tôi, anh ta đã vồn vã nói :
- Chào các anh! Em là Báo, Bửu Báo. Phòng đã nhận được điện báo các anh sẽ tới từ ba bốn ngày. Ông trưởng phòng bị trúng gió nằm ở nhà, giao nhiệm vụ cho em thường trực ở đây đón các anh. Mời các anh vào phòng khách.
Khi đã an tọa trong phòng khách, tôi đưa giấy tờ cho Báo, Báo mới liếc qua liền nói :
- Em biết tên anh từ ngày anh mới chuyển về tỉnh cơ. Chả là ông bố em phụ trách công việc của các anh ở trên tỉnh mà. Em đã tính đến gặp anh để xin làm đệ tử, nhưng chưa kịp thì ổng đã đầy em tới vùng biên ải này!
Tôi ngạc nhiên hỏi :
-   Vậy cậu là “con ông cháu cha” hả ? Ông nào vậy ?
- Anh chẳng cần biết ông ấy làm gì cho mệt óc. Vả lại, theo như em biết thì các sếp trên tỉnh không thích anh đâu. Vì tỉnh người ta đang yên tĩnh, đúng theo kiểu tỉnh lẻ, tự nhiên anh về làm náo động cả lên, bày ra những việc “kiểu trung ương” như thế, chẳng ai quen được đâu !
-   Thế chẳng lẽ một cơ quan văn hóa thông tin mà suốt ngày, thậm chí suốt đêm chỉ chơi bài “tiến lên” và sáng xỉn chiều say? Đâu có được !
- Thế mà vẫn được đó anh ơi ! Ngay bây giờ nếu anh sang văn phòng ủy ban sẽ thấy cán bộ phòng em và cả các phòng khác đang tụ tập chơi bài “tiến lên” và nhậu tới bến mới thôi ! Nhưng đó là chuyện nhỏ, kệ họ. Bây giờ ta bàn chuyện ta. Các anh đã quá bộ về tới đây, Báo này xin phục vụ từ A tới Z. Nhưng bù lại, anh cũng phải giúp em một việc. Tính em ưa sòng phẳng, nói thẳng nói thiệt, nhất là khi em được biết anh cũng là đại lãng tử, chơi được, có đúng không ?
Không để tôi trả lời, B.B đi ra cái phòng đóng cửa lúc nãy dắt vào một người phụ nữ trên dưới ba mươi tuổi, ấn ngồi xuống ghế và nói:
- Xin giới thiệu với các anh, đây là chị Xiu Hoa, phó chủ tịch huyện phụ trách văn xã. Chị Xiu Hoa sẽ duyệt luôn kế hoạch công tác của các anh với huyện, duyệt luôn cả kinh phí hỗ trợ các anh nếu cần, sẽ đi với các anh xuống xã. Chị Xiu Hoa tuy là người dân tộc nhưng đã được ra thủ đô Hà Nội học nhiều thứ nên rất hiểu và nhiệt tình với công việc của các anh !
Chỉ sau mười phút, “kế hoạch hành động” của chúng tôi ở huyện đã được Xiu Hoa ủng hộ, hưởng ứng tối đa. Khi Xiu Hoa đưa hai nhà sưu tầm đến chỗ ăn nghỉ, B.B nói:
- Em và anh tuy lần đầu gặp mặt nhưng em nghĩ rằng chúng ta đã gặp nhau từ kiếp trước
-   Cậu lém thế ? – Tôi nhìn thẳng vào B.B nói.
-   Em đâu dám lấy vải thưa che mắt thánh, múa rìu qua mắt thợ! Nhưng em xin nói hai câu này, nếu anh chịu thì ta bắt tay kết nghĩa huynh đệ, còn nếu anh thấy không đúng thì em xin tự cắt lưỡi làm thằng câm suốt đời. Thứ nhất, nhìn tướng anh, em biết anh thuộc loại đại lãng tử, vân du bốn biển không yên chốn nào. Chỉ hai năm nữa anh sẽ đi khỏi tỉnh này thôi. Và, năm năm nữa, anh sẽ gặp hạn, lúc đó người cứu anh sẽ là…Bửu Báo này!... Nhìn thần sắc anh, em biết là anh vừa giật mình ! Có đúng không anh ?
-   Trời đất !...Cậu còn trẻ tuổi mà nói đúng như một chiêm tinh gia có tiếng ở Hà Nội đã nói với tôi trước khi tôi bỏ Hà Nội đi !...Còn câu thứ hai?
- Câu thứ hai là tiếp nối câu thứ nhất. Năm năm nữa, chính cái lúc anh gặp hạn lại là lúc em phất to. Nếu đúng như tử vi của em thì lúc đó em sẽ làm Sếp một tờ báo, ở chốn phồn hoa đô hội hẳn hoi chứ không phải ở tỉnh lẻ như anh. Ngay bây giờ, trong đầu em đã hình dung công việc lúc đó sẽ triển khai như thế nào, và anh sẽ đảm đương phần việc nào cho em!...Nói thế, người tầm thường không hiểu sẽ cho là em bốc phét và xấc láo với anh. Còn anh, em tin là anh cũng biết xem tướng, anh hãy nhìn tướng em và xét xem lời em nói thế nào?
-   Tớ đã quan sát rất kỹ tướng mạo cậu ngay từ khi mới gặp…
-   Nhìn ánh mắt anh là em biết anh đang “hành nghề” xem tướng người nói chuyện với mình!
-   Cậu có cái mũi cực quý, gọi là “huyền đởm tỵ”, mũi như trái mật treo, tất cuộc đời sẽ phú quý, gặp nhiều may mắn, nhiều khi không làm mà vẫn có ăn !... Cũng có thể nói mũi cậu là mũi “phục tê quán đính”, nếu như ngày xưa có thể làm tới quan thượng phẩm. Còn nếu thời nay, làm sếp một tờ báo thì cũng là thường… Kéo áo lên tớ coi cái bụng chút xíu !
B.B kéo áo lên, tức thì tôi kinh ngạc thốt lên:
-   “Tễ khả nạp quất”! Cực quý, cực quý! Cậu tuy đang bị đày nơi thâm sơn cùng cốc nhưng sống như đế vương. Cậu tất phải là con cháu bậc vua chúa đời xưa !
Tôi vừa dứt lời, B.B đã rút trong túi quần rộng thùng thình ra một xếp tiền đưa tôi và nói:
-   Mặc dù em biết anh thuộc loại coi đồng tiền như cái rác nhưng đây là “nhuận bút” của những lời anh vừa nói. Còn lát nữa, em xin đãi anh một chầu bia với đặc sản núi rừng, anh sẽ nhớ đời!...Trước khi đi, em xin múa hầu anh bài quyền Ngọc Trản để anh thấy em đúng là con cháu vương tướng ngày xưa, văn võ song toàn !
Dứt lời, B.B cởi phăng áo, múa tít mù bài quyền Ngọc Trản, mồm thì đọc vang lên những câu thiệu :
“Ngọc Trản ngân đài / Tả hữu tấn khai / Hồi thập tự / Liệng diệp liên ba / Đả sát túc…”
Trên đường đi, B.B nói: “Tuy hiện tại em chỉ là thằng nhân viên quèn, nhưng bà phó chủ tịch ban nãy là bồ, còn ông phó chủ tịch thì đánh bài “tiến lên” với em chỉ cháy túi, luôn nợ em vài trăm. Cho nên, em điều khiển hai vị này không khác gì chủ tịch huyện, tức cũng xấp xỉ uy quyền vương hầu ngày xưa. Gặp anh ở đây, em nghĩ đến chuyện Lưu Bang gặp Hàn Tín. Nhưng anh giúp em thì rất dễ dàng, chẳng vất vả khó nhọc như Hàn Tín đâu. Anh chỉ cần đăng cho em dăm bài trên tờ Tạp chí của anh, in giúp em vài cuốn sách. Còn cái bằng Đại học Báo chí thì em lấy dễ như lấy đồ trong túi. Ta phải chuẩn bị đầy đủ điều kiện tối thiểu, thời cơ đến là “a lê hấp”!
B.B còn nói cho tôi rất loằng ngoằng về “cây gia phả” của các vua nhà Nguyễn, nhưng tôi cũng quên luôn B.B thuộc chi nào, nhánh nào của dòng giống vua nhà Nguyễn vì các vua nhà Nguyễn lắm vợ nhiều con quá ! Tối hôm đó, B.B dẫn tôi đi uống “bia ôm” (lúc đó, thuật ngữ “bia ôm” chưa phổ cập trong đời sống xã hội). Nhìn cung cách ăn chơi của B.B, tôi thầm nghĩ đúng là ăn chơi kiểu đế vương ! 
*
Hai năm sau, đúng lúc tôi đang tiến hành làm ăn lớn thì gặp chuyện phiền toái về viết lách, tôi tự xin thôi việc đi một mạch về Sài Gòn, bắt đầu cuộc sống giang hồ một trăm phần trăm. Ba năm đầu, phải làm thuê làm mướn đủ kiểu, kể cả làm thợ, không dính gì đến văn chương báo chí. Tuy thế, công việc cũng vừa sức và đủ tiền xài lai rai. Nhưng đến năm thứ tư đúng là “họa vô đơn chí”, tai họa chẳng bao giờ đi riêng lẻ mà luôn có “bạn đồng nghiệp” ! Nợ nần chồng chất như chúa Chổm, tôi đã tính chuyện chết quách đi cho rồi thì bất ngờ gặp lại B.B. Hôm đó, tôi đang đạp xích lô lòng vòng quanh mấy cái nhà hàng lớn để kiếm khách thì thấy một ông khách to béo, ăn mặc theo mô-đen Việt kiều ngoắc tôi lại. Tôi cho xe cặp sát ông ta thì ông khách đã nắm chặt lấy tay tôi la lớn :
- Trời đất ơi ! Anh hùng tuyệt bút như tiên sinh mà đến nông nỗi này sao ?
-   Trời !... – Tôi cũng giật mình la lên – B.B đó à ?
Sau phút hàn huyên, tôi chở B.B về nhà B.B . Đó là một cái nhà kiểu biệt thự, diện tích khoảng gần năm trăm mét vuông tọa lạc ở cuối một con hẻm lớn vùng ven đô…
B.B  nói  với tôi :
- Cái nhà này là em nhờ lộc của vợ. Em lấy vợ có tướng “ngọc đới yêu vi” cực quý, vượng phu ích tử không ai bằng ! Còn em, đang chuẩn bị nhậm chức phó Tổng biên tập cho một tờ báo ngành, thực chất là Tổng. Cái mốt bây giờ là làm báo cho các ngành mới có ăn, còn làm báo thuần văn chương như các anh ngày trước là “xưa rồi Diễm ơi!”… Nhưng em lại muốn anh làm cái việc rất xưa ấy cho tờ báo của em !
- Thế là sao? - Tôi ngạc nhiên, hỏi.
- Anh thường hay nói rằng muốn tiến lên hiện đại thì trước hết phải hiểu kỹ truyền thống đó sao? Bây giờ em nói ngắn gọn thế này: Anh đi ôm về đây cho em tất cả các loại báo chí cũ, càng cũ càng hay. Sau đó công việc của anh sẽ là “hiện đại hóa” cái đống báo cũ đó. Em nghĩ rằng anh chỉ phẩy tay là xong! Thời gian chuẩn bị “chiến trường” của chúng ta còn ba tháng nữa, quá ư rộng rãi !
- Các công đoạn khác từ A đến Z cậu đã chuẩn bị đến đâu rồi ?
- Anh quên rằng em đã chuẩn bị từ năm năm trước à ? Nhân gặp lại cố nhân, em sẽ kêu “dàn tướng sĩ” của em tới đây ta lai rai một chập để anh quan sát chúng nó và “tham mưu” cho em trong cái việc sắp xếp đội hình này !
Nói rồi B.B ấn số máy điện thoại di động một hồi, đoạn nói:
-   Chỉ sau mười phút nữa chúng nó sẽ tới. Em nói trước với anh là em chỉ thu nạp những thằng đang sa cơ lỡ vận, có vậy chúng mới ơn mình và trung thành với mình. Đại loại như là em nuôi một đàn chó săn ấy !
-   Thế tớ cũng là một trong những con chó trung thành của cậu à ?
-   Đâu có ! Đời nào thằng em này lại dám hỗn láo với ông anh như thế! Cái ơn dìu dắt em từ ngày còn ở nơi rừng xanh núi bạc của anh có bao giờ em quên và bao giờ đền đáp hết được? Ngoài cái việc “khai thác vốn cổ” ra, anh còn phải có trọng trách với em như là Khổng Minh với Lưu Bị ấy chứ. Về chức danh, anh sẽ là ‘Trợ lý Tổng biên tập”, đương nhiên là lúc em bận bịu này nọ, anh điều hành công việc cho em !
-   Này, nghe cậu nói cũng bùi tai đấy. Nhưng nói thật, lâu ngày không rờ đến chuyện viết lách, tớ sinh lười nhác rồi. Vả lại, tớ đã thề “quăng bút”, đoạn tuyệt với Nàng Thơ rồi !
-   Trời đất ơi! Anh là người am hiểu tướng số mà anh quên rằng “viết lách” nó là cái “nghiệp chướng” sao? Riêng đối với anh, chuyện này càng nặng. Anh không bao giờ thoát khỏi cái  “nghiệp chướng” này đâu! Em đã có cách rồi: em sẽ tuyển cho anh một nữ thư ký tuyệt vời , cô nàng sẽ đốt lại ngọn lửa đã tắt trong anh ! Còn bây giờ, em sẽ kêu một cô nàng “mát-xa” loại nhà nghề đến giúp anh giãn gân cốt sau bao ngày lao động chân tay vất vả !  
B.B nói rồi lại ấn số điện thoại…Đúng sau mười phút gọi cho dàn tướng sĩ, năm người, cùng một lúc, đã tới. B.B giới thiệu tôi với họ và giới thiệu họ với tôi:
- Đây là “Sáu bụng bự”, con có biệt danh là “Thùng phi” vì có thể uống hết một thùng phi bia hơi ! Trước đây, Sáu làm chủ một đại lý bia lớn, có tài kinh doanh tiếp thị. Hỗ trợ cho Sáu bụng bự là “Cô Ba dũng sĩ diệt Giám đốc”, đảm trách công việc chạy quảng cáo cho tờ báo của chúng ta. Tôi xin nhắc lại, báo chí bây giờ sống khỏe là nhờ vào quảng cáo, cho nên chúng tôi xin được sống nhờ vào tài năng “diệt giám đốc” của Cô Ba ! Còn đây là cặp bài trùng Lý toét - Xã xệ, hai cây bút phóng sự chủ lực của báo ta. Lý toét và Xã vệ cứ phóng bút thoải mái như thời còn làm cho báo phường, báo quận, đã có sư phụ tuyệt bút đây làm cái việc “đánh bóng, mạ kền” trước khi bài viết lên báo ! Còn nhân vật thứ năm, nhìn bên ngoài có vẻ dị dạng, xấu xí nhưng tài ba thì vào loại đệ nhất đô thành, bàn tay bé nhỏ thế kia nhưng có thể nắm trong tay tất cả các nhà máy, xí nghiệp sản xuất giấy và in ấn của cả khu vực miền Nam này ! Báo của chúng ta có thể in hàng triệu bản mà không bao giờ lo thiếu giấy ! 
Mọi người nâng ly bia mừng buổi gặp mặt …Trong khi uống bia và nghe “ngũ hổ tướng quân” của B.B nói huyên thuyên về kế hoạch tác chiến của mình, tôi chú ý quan sát kỹ từng người một để tìm hiểu xem tại sao họ lại được B.B tín nhiệm và liệu họ có làm khynh đảo được thị trường báo chí như B.B ao ước hay không ? Sáu bụng bự uống bia quả là tự nhiên như không có chuyện gì xảy ra, duy có một chi tiết khiến tôi lấy làm lạ là chốc chốc, Sáu lại nặn trứng cá ở trên mặt và cho luôn vào mồm nhai như không ! Còn “Cô Ba dũng sĩ diệt Giám đốc”, tuy không vào loại tuyệt thế giai nhân nhưng tất cả các “bộ phận” trên người cô đều như đang “bốc lửa” sẵn sàng “thiêu đốt” bất cứ đấng nam nhi quân tử nào. Cô Ba uống bia nhỏ nhẹ và có một động tác thường xuyên là cúi xuống ngửi nách mình rồi lấy khăn lạnh lau nách ! Thấy vậy, tôi nói nhỏ với B.B rằng cô này có tướng “sú hương” cực xấu, không thể làm việc đối ngoại được, nhưng B.B  bảo, cô Ba có tới mười cái cực xấu nhưng lại có một cái cực tốt là tướng “song long nhiễu nguyệt”,  đó là tướng “thập trọc nhất  thanh”, một cái cực tốt kia sẽ xóa bỏ được mười cái cực xấu ! Quan sát kỹ hai nhân vật Lý toét và Xã Xệ, quả là một cặp bài trùng hiếm có : Lý toét (gọi là Lý toét vì người này cận nặng) có cái dáng ký giả ở mọi cử chỉ, dạng mạo, còn Xã Xệ “to cao đen hôi” như một võ sĩ quyền Anh người da đen, hai người mà cộng hưởng với nhau thì tuyệt ! Hai người này vừa ăn uống vừa hí hoáy ghi chép cái gì đó đúng phong cách phóng viên tác nghiệp. Tôi nhoài người tới cụng ly và liếc nhanh vào cuốn sổ tay của họ thì giật mình kinh ngạc vì nhìn thấy trên sổ tay của Lý toét kín đặc chỉ toàn chữ A, còn trên sổ tay của Xã Xệ thì chữ gì ngoằn ngoèo như chữ Camphuchia và to như quả trứng gà !...Nhân vật thứ năm quả là dị tướng, sơ bộ có thể xếp vào loại tướng “Bát tiểu”, là quý cách, gặp vận có thể phú quý hết chỗ nói !
Điều bất ngờ lớn đối với tôi là cả năm người này đều rất sẵn tiền trong người và qua cung cách, nói năng thì họ xài “tiền tấn” chứ không phải đếm từng đồng như người bình thường. Khi B.B hô mọi người gom tiền mua cho tôi một căn nhà ở tạm thì chỉ sau năm phút, trong tay tôi đã có một cục tiền đô, trị giá khoảng hơn hai mươi cây vàng 24K ! Chưa biết sau này B.B và các chiến tướng làm ăn ra sao, nhưng cứ bằng vào việc đối xử với một anh trắng tay như tôi như thế, đủ để nói rằng cái “E-kíp” này rất mạnh, bởi tôi vẫn thường nghĩ, thời nào cũng thế, có tiền mua tiên cũng được ! 
*
Tôi đang cặm cụi làm cái việc mà B.B đã giao cho thì bất ngờ nhận được tin bố tôi đột ngột qua đời. Tôi phải bay ra Hà Nội chịu tang bố. Trong dịp này, tôi gặp lại một người bạn học cũ hiện đang dạy ở một trường đại học. Tôi khoe chuyện làm báo với B.B thì người bạn này rũ ra cười, chảy cả nước mắt và nói:
- Trời đất ơi, cái thằng Báo ấy nó đã lên tới ngạch sếp rồi cơ à ? Ngày xưa, tớ dạy nó ở lớp tại chức đại học báo chí, nó có học hành gì đâu, chỉ ngồi sờ mó mấy cô gái đa tình thôi à ! Tớ nghĩ nó sẽ phất nhưng là phất nhờ làm chủ quán bia ôm cơ chứ !
- Thì nó cũng có dưới tay mấy quán chứ đâu phải một quán !
- Ờ…nó được cái tài “sát gái” và   biết đâu tài làm báo mới phát lộ cũng nên ! Nhưng theo tớ, cậu không nên đi theo “phò giúp” nó làm gì vì cậu không phải cái “típ” như nó. Cậu phải làm cái gì đó liên quan tới đất đá…
- Đi buôn bán địa ốc thì mình không đủ tài, còn đi tìm đá quý thì không có võ để chống lại bọn đầu gấu trấn lột…
- Cậu nói tới đá quý, tớ chợt nhớ tới một ông chú họ, xưa đã từng là tướng đặc công, hiện đang làm chủ một công ty vàng bạc đá quý. Ông ta cần viết lại cuộc đời oanh liệt của mình. Để tớ liên lạc với ông ta rồi giới thiệu cậu !  
Theo lời khuyên của người bạn học, tôi không trở lại gặp B.B nữa mà chui vào thư viện đọc tất cả những sách báo nói về bộ đội đặc công vì tôi muốn có một chút hiểu biết về binh chủng đặc biệt tinh nhuệ này trước khi tiếp xúc với ông tướng đặc công về hưu kia. Mê mải trong thư viện, thời gian trôi qua bên ngoài rất nhanh. Thấm thoát đã hơn một năm trôi qua, người bạn tôi vẫn chưa liên lạc được với ông tướng đặc công. Tôi tính ra hè đường đánh máy thuê kiếm sống qua ngày thì bất ngờ gặp Sáu bụng bự. Sáu lôi tôi vào quán bia và nói :
- Báo vẫn ra đều kỳ nhưng chẳng ma nào mua, các đại lý đều trả lại hết. Cứ cung cách này thì đến sập tiệm. Em ra chuyến này để tiếp xúc các sếp ở một tờ báo khác, nếu thuận buồm xuôi gió, em sẽ làm trưởng đại diện cho họ ở trong ấy!
-   Thế cậu bỏ B.B à ? Cùng “dựng cờ lập nghiệp” với nhau cơ mà ?
-   Nhưng hắn du côn lắm, ngày nào cũng đá đít, bạt tai em như là đánh đầy tớ ! Không hiểu sao em lại nhịn được như thế ? Nhưng mối tình này cũng phải đến lúc chia tay!
Sáu bụng bự nâng ly bia lên cụng với tôi, tôi chợt giật mình khi thấy trên miệng ly bia, lẫn vào trong đám bọt đang tan dần là những viên trứng cá mà Sáu vừa nặn ra khi đang nói chuyện với tôi ! Tôi không nhịn được, nói :
- Sao cậu ăn uống dơ bẩn thế?
- Tinh cha huyết mẹ không nên bỏ ! Anh quên câu nói đó à? – Nói rồi Sáu làm một hơi cạn li rồi nói tiếp – Nếu anh khó khăn thì vào làm cho B.B đi, hắn vẫn nhắc anh luôn và không giận anh đâu. Hắn bảo cái số của anh như thế. Còn nếu không, anh chờ một thời gian nữa, em nhận chức mới rồi, sẽ lấy anh làm Phó, nếu anh vui vẻ ô kê !  
Sáu bụng bự vừa dứt lời thì B.B đột ngột xuất hiện như từ trên trời rơi xuống kèm với tiếng nói: “A! Thằng phản thùng! Tao cứu mày khỏi tù mục xương mà mày trả ơn thế hả?”. Và rồi B.B hét lên như diễn viên tuồng rồi múa tít mù bài quyền Ngọc Trản, mồm thì đọc vang lên những câu thiệu: “Ngọc Trản ngân đài – Tả hữu tấn khai – Hồi thập tự - Liệng diệp liên ba – Đả sát túc…”, tới câu “Đả sát túc” thì tôi thấy Sáu bụng bự bay ra cửa quán bia như một quả bóng !
Sau đó, B.B nhẹ nhàng cầm tay tôi dắt ra khỏi quán bia và nhỏ nhẹ nói: “Chỗ này không phải chỗ người có chí lớn lui tới!...Ông anh giang hồ mê chơi quên quê hương quá rồi đó! Cô thư ký riêng của anh chờ anh mỏi mắt! Sao anh nỡ đối xử với người đẹp như vậy?”… Không biết B.B còn nói gì nữa không vì tôi có cảm giác như mình đang bước đi trên một tầng mây xốp rất lớn !.../.
Cuối năm Tý, TP.HCM…
Đỗ Ngọc Thạch
**
CON GÁI VIÊN ĐẠI ÚY
Truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch
1.
“Tên khai sinh của tôi là Cầm Tịnh . Họ Cầm là một họ lớn của người Thái Tây Bắc, bỏ chữ Cầm tôi cũng tiếc lắm, nhưng tôi vẫn thích được gọi là Thanh Tịnh hơn, bởi vì được mang tên nhà thơ là một vinh dự lớn không dễ gì có được !” – đó là câu tự giới thiệu khi có ai đó hỏi : “ Nhà thơ Thanh Tịnh là người xứ Huế sao ông lại nói giọng Bắc ?”
Trước hết phải xin lỗi nhà thơ Thanh Tịnh để xin được gọi nhân vật của truyện ngắn này là Thanh Tịnh vì anh ta không chịu gọi là Cầm Tịnh . Đi tới đâu , anh ta cũng thích được giới thiệu rằng “ Đây là nhà thơ Thanh Tịnh !”. Chắc rằng nhà thơ Thanh Tịnh cũng đồng ý vì anh ta thuộc hết những bài tấu của nhà thơ và có thể nói đó là một trong số không nhiều lắm những người truyền bá không mệt mỏi, không ngưng nghỉ cho thể tài này của nhà thơ  !
Xin được nói sơ lược vài nét Lý lịch trích ngang của “nhà thơ Thanh Tịnh”. Là con của một gia đình người dân tộc (Thái) có công với cách mạng , Thanh Tịnh được vào học trường Thiếu sinh quân rồi tiếp theo là trường sĩ quan. Ra trường , với quân hàm Thiếu úy , lại có tài ăn nói (Thanh Tịnh không chỉ có tài thuộc hết thể độc tấu của nhà thơ xứ Huế Thanh Tịnh mà còn thuộc gần hết “Thơ Bút Tre” và những truyện cười dân gian, truyện “ Tiếu Lâm”…)  nên Thanh Tịnh được quân lực xếp vào loại hạt giống của công tác tuyên truyền – văn nghệ. Từ trợ lý Trung đoàn , lên trợ lý Sư đoàn, rồi trợ lý Bộ Tư lệnh Binh Chủng, Quân Chủng… Không biết Thanh Tịnh sẽ lên cao tới đâu trên con đường “Binh nghiệp”  nếu như đồ thị trường đời không bị trồi lên sụt xuống như là đồ thị hình Sin trong toán học : từ thiếu úy lên đại úy một mạch , rất nhanh, nhưng lên thiếu tá được một hồi lại tụt xuống đại úy , rồi lại lên thiếu tá, rồi lại tụt xuống đại úy, rồi lên thiếu tá lần thứ ba , lần này lên tiếp trung tá, nhưng được vài tháng lại xuống thiếu tá, rồi xuống nữa , tức đại úy ! Nói tóm lại Thanh Tịnh cứ lên , xuống trong khoảng từ đại úy đến trung tá như vậy không biết bao nhiêu lần trong suốt gần bốn chục năm của con đường “Binh nghiệp”.  Tôi , người viết cái truyện này, gặp Thanh Tịnh khi anh ta đang là Trợ lý văn nghệ Trung đoàn, còn tôi là giáo viên văn hóa (dạy văn hóa hết trình độ phổ thông cho sĩ quan cấp úy).
Tôi là giáo viên văn hóa nên ngoài những đợt có lớp học, tôi không có việc gì phải làm thường xuyên, thường theo Thanh Tịnh cho vui và cố nhiên là cần “điếu đóm” là có tôi ngay. Tuy hơn tôi hai tuổi và quân hàm thì hơn hẳn mấy cấp  nhưng Thanh Tịnh mày tao chí tớ rất bình đẳng và có chuyện gì “bí mật” cũng kể hết cho tôi, có “phi vụ” gì cũng rủ tôi đi cùng . Đó là vào cuối thập niên 1960 – khi mà cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước ở cả hai miền Nam , Bắc đều rất ác liệt ! Với khẩu hiệu “Tiếng hát át tiếng bom”, công tác văn hóa – văn nghệ càng được coi trọng hơn bao giờ hết và vào những đợt Hội diễn văn nghệ từ cấp Trung đoàn trở lên vai trò, vị trí của Thanh Tịnh thật là đặc biệt , ở đâu cũng thấy nhắc đến Thanh Tịnh , các thủ trưởng luôn gọi điện hỏi thăm, động viên và Thanh Tịnh luôn lập công đầu và không khó khăn gì để các thủ trưởng thăng cấp, lên sao cho Thanh Tịnh . Nhưng , chữ ký còn chưa ráo  mực  thì Thanh Tịnh lại có “Phốt”, và thường là ký quyết định giáng cấp, hạ sao  nhanh hơn thăng cấp, lên sao vì những lúc ấy không có hội diễn văn nghệ, trời lại quá nóng bức hoặc quá giá rét !
Thực ra , tôi đã biết Thanh Tịnh từ ngày mới nhập ngũ. Chúng tôi được tập trung huấn  luyện tân binh ở một đại hội Ra-đa. Lúc đó Thanh Tịnh mới ra trường. là trợ lý văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền của Bộ tư lệnh Binh chủng (Binh chủng Ra-đa là binh chủng mới được thành lập , có lẽ là binh chủng ra đời muộn nhất của quân đội NDVN). Thanh Tịnh (từ đây gọi tắt là TT) đến nói chuyện thời sự và đọc thơ Bút Tre, diễn độc tấu rất có duyên, rất lành nghề. Người nghe hết vỗ  tay rào rào lại cười nghiêng ngả. Tan cuộc, có hơn mười cậu tân binh xúm quanh TT xin chép mấy bài thơ Bút Tre, vừa chép vừa cười  như pháo nổ. Cách đám tân binh vây quanh TT khoảng chục bước chân, có hai cô thôn nữ đang bá vai bá cổ nhau cười khúc khích, thi thoảng lại đùn đẩy nhau, đấm lưng nhau thùm thụp!...TT đã nhìn thấy hai cô thôn nữ , anh dơ tay ra hiệu “xì-tốp” và nói:
- Thôi đủ rồi! Của quý thì phải tiêu hóa từ từ kẻo bội thực thì khốn! Bây giờ tôi có một trò chơi rất hay. Các bạn nhìn thấy hai cô thôn nữ xinh đẹp kia không ?
Mọi người thoắt im lặng, ánh mắt đổ dồn vào hai cô gái. TT nháy mắt vẻ tinh quái, nói:
- Bây giờ chúng ta chơi trò đánh cá: trong năm phút, ai “cưa”  đổ hai cô gái kia, một  cũng được, thì mọi người phải nộp hết số tiền có trong túi !
Đám tân binh nhìn nhau rồi nhìn hai cô gái, ngần ngừ. TT chỉ chờ có vậy, nói:
- Tôi sẽ nhận nhiệm vụ “thợ cưa”, ai đánh cá xin dơ tay !
Tất cả đều dơ tay! TT nói cần một  đồng đội “hợp đồng tác chiến” rồi tiện tay kéo tôi đi theo. Được bốn năm bước, TT bỏ tôi lại mà vọt lên, thoắt cái đã tới bên hai cô thôn nữ. Không biết anh ta nói gì mà một cô đi lại phía tôi. Cũng không biết anh ta nói gì mà cô kia đi cùng anh ta một đoạn rồi cả hai người mất hút sau hàng dâm bụt um tùm!... Còn cô gái đi lại phía tôi, đứng cách tôi khoảng hai bước chân, tay cứ vân vê tà áo, mắt cứ cụp xuống như là nhìn ngực mình!  Tôi chỉ nói được một câu chào rồi cứ vuốt tóc, sờ tai mà không biết nói gì! …Tôi đang định hỏi tên cô gái thì giật mình khi thấy TT đã đứng nhìn đồng hồ rồi nói: “Đúng năm phút!” và nói với cô gái đang vân vê tà áo : “Lại đây, các anh tân binh muốn làm bạn với em đó!”. TT cầm tay cô gái kéo đi nhưng cô gái giật tay lại và vùng chạy, miệng gọi lớn “Na ơi!...”. TT và tôi quay trở lại đám tân binh tuyên bố thắng cuộc. Mọi người hỏi bằng chứng thì TT lấy trong túi quần ra một cái “xi-líp” gí vào mũi từng người  mà nói: “Mùi gái trinh thơm tho chưa !...”.Tất cả đám tân binh kinh ngạc tột độ !...
2.
Hồi kháng chiến chống Pháp, rồi chống Mỹ, chuyện “luyến ái bất chính” bị coi là “tội lỗi” và thường bị trừng phạt khá nặng. Như TT là nhẹ, các thủ trưởng cấp trên còn nương tay vì dù sao anh ta có tài văn nghệ, người có tài thường có tật, tài và tật có thể bù trừ cho nhau. Việc “trị tội” TT chỉ xảy ra khi có cô gái nào đó kiện cáo, tố giác lại gặp đúng lúc vị thủ trưởng nào đó không ưa TT. Còn nếu xử tội “luyến ái bất chính” đối với TT một cách sòng phẳng theo số lần tái phạm thì có lẽ TT phải bị giáng xuống cấp bậc thấp nhất, tức binh nhì !
Đến đây, chắc có bạn đọc sẽ cho là “nhiễu sự”, nhòm ngó vào  chuyện  “đời tư’ của người ta làm gì? Vâng, quả đúng là như vậy, tôi chẳng để ý đến những chuyện “chim  chuột” của TT làm gì nếu như tôi không gặp cô con gái của TT. Đó là vào năm 1994, tôi đang làm biên tập cho một tờ báo tuần của Bộ LĐ, TB-XH. Một hôm, tôi nhận được một bài viết về một vấn đề khá nhức nhối có nhan đề “Những đứa con không bố”. Mới đọc nhan đề, cứ nghĩ đó là những đứa trẻ mồ côi cha. Hai cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, ác liệt chống Pháp rồi chống Mỹ đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều người cha ở chiến trường.  Trở lại bài báo, đọc xong mới té ngửa vì không phải viết về những đứa con có bố hi sinh ở chiến trường mà là những đứa con không biết bố mình là ai bởi vì từ khi đứa bé còn là thai nhi đến khi tồn tại trên cõi đời , người bố không hề xuất hiện ! Người mẹ của những đứa trẻ này có nhiều biểu hiện khác nhau : người thì giấu kín , tìm cho con một người bố hợp pháp bằng cách cưới chồng khi thai nhi mới một, hai tháng , người thì ở vậy nuôi con nhưng không hề nói bố đứa bé là ai, người thì tìm cho con một người bố dượng, vân vân ! Bài báo đặt vấn đề phải đi tìm người bố “mất tích” kia và phải trừng phạt bằng pháp luật  ! Nhìn địa chỉ tác giả ở cuối bài viết tôi nghĩ đây là một cô bé sinh viên năm cuối khoa báo chí chắc chắn hiểu biết về sự đời chưa là bao, đây chắc là một bài tập về việc viết báo mà cô ta đã làm ở lớp học, thử gửi đến  tờ báo có nội về những vấn đề  xã  hội này xem có đăng  được không ? Nghĩ  vậy nên tôi xếp vào tập bài lưu, chỉ cho đăng tên cô ta ở  Hộp thư :  Cầm Thị Tĩnh .
Tôi sẽ quên luôn chuyện bài báo  và cái tên Cầm Thị Tĩnh nếu như không có sự việc sau :  một tuần sau tôi lại nhận được bài báo “Những đứa con không bố” nhưng lần này chỉ viết về một người bố mà có tới chín mươi chín đứa con ! Theo bài báo thì tác giả đã mất bốn năm để đi đến những địa chỉ mà người bố kia đã “gây tội ác”  rồi   “quất ngựa truy phong” để gặp những đứa con không bố đó ! Kèm theo bài báo là danh sách và địa chỉ chín mươi chín đứa con chưa biết mặt bố ! Còn người bố kia là ai thì bài báo nói rằng  nếu sau khi bài báo được đăng , công luận lên tiếng và pháp luật ra tay thì tác giả mới cho biết tên và địa chỉ của ông ta ! Nhìn vào danh sách địa chỉ của chín mươi chín đứa con tôi giật mình khi chợt nhớ lại có một lần , TT đã cho tôi xem mấy trang trong cuốn nhật ký của anh ta có danh mục “ Những nơi đã đi qua”, theo trí nhớ không tồi của tôi thì những địa danh của danh sách chín mươi chín đứa con này chính là những địa danh đã được ghi trong sổ nhật ký của TT  ! Chẳng lẽ …
Tôi tìm đến nhà của Cầm Thị Tĩnh không khó khăn gì, một căn hộ vừa phải trong khu phố “Nhà binh” . Tĩnh là một cô gái xinh đẹp, hài hòa và cân đối. Cô càng đẹp một cách rực rỡ trong y phục người Thái : đầu đội khăn Piêu, áo chẽn trắng bó sát khuôn ngực nở nang làm cho hàng cúc bạc lấp lánh kỳ ảo. Tôi xin cam đoan rằng tấm ảnh cô chụp cùng với người mẹ trong y phục người Thái năm cô 20 tuổi là tấm ảnh đẹp nhất về người phụ nữ Thái mà tôi từng được biết !
Tĩnh ở nhà một mình . Mẹ cô đang nằm viện vì bệnh ung thư tụy . Bà cũng trạc tuổi tôi, đã phục vụ hơn 30 năm trong quân y viện, quân hàm thượng tá. Chồng bà , tức bố của Tĩnh , đúng như  tôi dự đoán, chẳng phải  ai xa lạ mà chính là nhân vật TT đã nói đến từ những dòng đầu tiên  của truyện ngắn này . Lúc có quyết định nghỉ hưu, TT đang mang quân hàm đại úy, đó là vào năm 1996. Lúc này, TT còn đang tại ngũ và làm việc ở khu vực phía Nam . Giá như tôi được gặp TT tại đây, tại nhà anh ta, bên cạnh vợ con thì hay quá, bởi muốn nhìn nhận một cách đầy đủ về một người cha thì phải nhìn thấy anh ta sống như thế nào trong ngôi nhà của mình, bên cạnh vợ và con !
Ngồi nói chuyện với Tĩnh hồi lâu, tôi đã quan sát cô gái rất kỹ , bằng cả thuật tướng  số , bằng cả linh cảm, trực giác mà không hề thấy một chút, dù là mờ ảo bóng dáng, dấu ấn của người cha – tức TT, ở cô gái này ! Tôi phỏng đoán : TT mê mải với những cuộc tình gió trăng bên ngoài, tất “hệ thống phòng thủ” ở nhà – hậu phương , anh ta chẳng ngó ngàng gì – bị xâm lăng là tất yếu! Cô gái dường như đang sốt ruột chờ câu trả lời của tôi về bài báo “Những đứa con không bố’, có dùng hay không? Tôi thì đang phỏng đoán lung tung, cho nên cuộc nói chuyện kéo dài mà chẳng ăn nhập gì cả! Tôi không biết phải trả lời thế nào với Tĩnh về bài  báo? Báo đang tập trung vào những vấn đề thời sự của xã hội, trọng tâm của ngành như giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, xuất khẩu lao động, v.v… còn bài viết của Tĩnh, thực chất là vấn đề “con hoang” tức con ngoài giá thú, là vấn đề muôn thuở, lúc nào đề cập đến cũng được, lờ đi cũng không sao! Nhưng với Tĩnh lại rất bức xúc, biết nói thế nào bây giờ? Tiếng chuông điện thoại nhà Tĩnh réo liên hồi, cắt ngang sự suy nghĩ của tôi. Tĩnh nghe điện thoại, mặt cô lộ rõ vẻ hốt hoảng. Đặt ống nghe xuống, Tĩnh vừa nói vừa run: “Mẹ cháu không ổn rồi, mẹ cần gặp cháu ngay !”.
Tôi đi cùng Tĩnh đến bệnh viện, bà mẹ Tĩnh đã rất yếu, hơi thở mong manh, tiếng nói nhẹ như gió thoảng. Bà mẹ hé mắt nhìn Tĩnh, nói nhỏ:
- Con tha lỗi cho mẹ, mẹ đã giấu con hai mươi năm nay. Bố đẻ của con là chú Tình chứ không phải ông Cầm Tịnh.! Chú ấy vẫn yêu mẹ, vẫn không lấy vợ để chờ ngày đón mẹ con mình về…Mẹ thật có lỗi với chú ấy… Con hãy về với bố đẻ của con…con sẽ hạnh phúc…
Tĩnh gục xuống mẹ, khóc ngất…Bà mẹ cũng trào nước mắt – những giọt nước mắt  cuối cùng của người đàn bà bất hạnh…Môi bà mấp máy như muốn nói điều gì nhưng không nói được nữa…Đúng lúc đó, một người đàn ông mang quân hàm đại tá bước vào. Đó là nhà báo Văn Trọng Tình, học trước tôi một năm ở trường Đại học. Ông  đến bên hai mẹ con Tĩnh. Bà mẹ cầm lấy bàn tay run rẩy của ông Tình đặt lên bàn tay đẫm nước mắt của Tĩnh. Người mẹ âu yếm nhìn hai người, nở một nụ cười nhẹ nhàng rồi nhắm mắt lại vĩnh viễn !...
3.
Sau đám tang mẹ, Tĩnh chủ động đến Tòa báo gặp tôi, nói:
- Cháu xin lại bài báo bởi cháu không còn là Cầm Thị Tĩnh nữa mà là Văn Bình Tĩnh. Đời luôn nhiều bất trắc nên người ta phải bình tĩnh mọi lúc, mọi nơi, có vậy mới có thể đối mặt với nó !
- Vậy cháu không định đưa những thằng bố không bao giờ biết đến mặt con ra trước vành móng ngựa nữa hay sao? – Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Cháu cần thời gian để bình tĩnh suy nghĩ cho kỹ. Trước hết, cháu cần gặp ông Cầm Tịnh. Ông ta hiện đang ở Sài Gòn. Mai cháu sẽ đi Sài gòn…- Tĩnh nói rồi chào tôi ra về.
Ngày hôm sau, tôi cũng có việc phải đi xa: đến Sở Lao động, TB-XH Đắc Lắc. Đến Đắc Lắc, Sở cử người phụ trách chương trình nước sạch đưa tôi đi Bản Đôn. Đến Bản Đôn, thật bất ngờ, tôi đã gặp “nhà thơ Thanh Tịnh”. Thì ra TT đang khảo sát thực địa  để đầu tư vào Bản Đôn. Nhìn những con voi to lớn kềnh càng đang lững thững bước đi trên trảng cỏ, TT chậm rãi nói thủng thẳng:
- Khi tiếp xúc với nhưng anh bạn to xác này tớ thấy mình như bước sang một thế giới khác, kỳ lạ lắm, cứ như là lạc vào vườn địa đàng… Khi nghe truyện Vua voi Khunsunôp, tớ bị cuốn hút mãnh liệt… Tớ đang chờ Quyết định nghỉ hưu, sau đó thành lập công ty TNHH Vua Voi, tớ sẽ làm du lịch, làm sống lại thời oanh liệt của vua voi Khunsunôp!...Tớ sẽ là Vua Voi Khunsunôp thời đại mới !
- Vậy anh bỏ nghề nói chuyện thời sự, đọc thơ Bút Tre và diễn tấu Thanh Tịnh hay sao? – Tôi ngạc nhiên hỏi.
- Bỏ sao được ! Những cái đó đã trở thành máu thịt, giờ sẽ được đem ra phuc vụ khách du lịch!...Bây giờ mời cậu và cả anh bạn “Nước sạch” đến nhà mới của tớ ở Buôn-mê, cậu sẽ có thêm ngạc nhiên về cái ông “Đại úy i-nốc” này !
Quả là đáng ngạc nhiên khi tôi tới nhà của TT. Nhà xây theo kiểu “Gô-tích”, rất rộng, trước và sau đều có mảnh vườn trồng đủ các loại hoa – rất hợp với chủ nhà là người “chơi hoa” tham lam và dễ tính : “hoa” gì cũng chơi, cốt ở số lượng – “càng nhiều càng ít” !... Ra mở cổng là người đàn bà trạc tứ tuần nhưng phong thái đi đứng, ăn mặc không khác gì hoa hậu. Chúng tôi ngồi chưa được năm phút thì các món ăn nghi ngút hương thơm đã được bày ra kín bàn. Tôi lại bị ngạc nhiên nữa khi người rót rượu là một cô gái hao hao giống “hoa hậu Tứ tuần” nhưng trẻ hơn nhiều. Thấy tôi chăm chú nhìn cô gái, TT nheo mắt cười ranh mãnh rồi nói:
- Ông bà ta có câu “Mía ngọt đánh cả cụm”, tớ chỉ là cậu học trò nhỏ mà thôi!...  
Bữa tiệc rượu được nửa giờ thì người phụ trách chương trình nước sạch nhận được điện thoại, về trước. Lúc đó, TT mới kể cho tôi nghe về hai phu nhân mới này. Bà chị tên Kháng, bà em tên Chiến. Gia đình hầu hết đều là quan chức, như bà Kháng đây đã làm tới chức phó chủ tịch huyện. Ông chồng làm tới phó chủ tịch tỉnh thì được ra Hà Nội học gì đó, mê mẩn mấy cô người mẫu , ở lại luôn thủ đô. Bị chồng ruồng bỏ, bà vợ uất quá, định nhảy xuống sông Sê-rê-pôc thì TT bất ngờ xuất hiện!...Khi TT kể đến đây, bà cựu phó chủ tịch huyện che miệng cười rúc rích. TT bèn nói:
- Đoạn hay nhất tôi xin nhường lời cho phu nhân đệ nhất !
Cạn xong  li rượu nhỏ, đệ nhất phu nhân nói liền một mạch mà không e dè gì cả:
- Lúc đó, em đang vịn vào thành cầu, nhìn xuống dòng sông cuộn chảy mà thấy sợ quá, run quá tưởng như sắp rơi xuống sông!... Em không muốn chết ! Em định la lên thì anh TT xuất hiện ngay sau lưng em, ôm lấy em mà nói: “Đừng dại dột”. Em thấy có vật gì cưng cứng  chọc vào mông, tưởng như nòng súng của bọn cướp, bèn thò tay ra sau nắm lấy, ai ngờ nó lại âm ấm, mềm mềm, cứng cứng…
- Thế là em nắm chặt lấy, đúng không ? – TT chen ngang.
- Anh thật là tinh quái !... - “hoa hậu bốn mươi” lườm TT cũng bằng ánh mắt tinh quái rồi nói tiếp – Chính ngay lúc đó em chợt nghĩ, ông trời đã bù đắp cho em thật hậu hĩnh. Ông chồng cũ của em, cái ấy chỉ như của trẻ con. Mấy bà bên Hội phụ nữ cứ găp em là trêu “đuôi chuột ngoáy lọ mỡ”!
Bà em – đệ nhị phu nhân – giờ mới góp lời:
- Từ ngày em bị cái “dùi cui cảnh sát” của anh ấy đánh gục, em bị mất biệt danh “Người đàn bà thép”, giờ cả văn phòng huyện Đoàn gọi em là bà “Cảnh sát trưởng”! 
TT đã say mèm, cầm muỗng gõ xuống tô lè nhè hát : “Chú voi con ở Bản Đôn, chưa có buồi nên gọi trẻ con…”. Điện thoại của tôi reo, thì ra cô con gái viên đại úy (giờ là con gái ngài đại tá) gọi cho tôi từ Sài gòn. TT say thế nhưng vẫn biết tôi đang nghe điện thoại, nói:
- Ai gọi thì bảo tới đây chơi luôn, không  say không về !
Tôi nói thật đó là cô bé Tĩnh gọi thì TT giật nảy người :
- Không được !... Cậu nói là tớ đang làm việc ở ngã ba biên giới, rồi sẽ đi  Natarakiri! Bảo nó lấy chồng đẻ con đi, đừng có nghĩ vớ vẩn !...- Rồi TT lại lè nhè hát – Chú voi con…
Như là vô thức, tôi nói lại cho cô bé Tĩnh những gì TT vừa nói, lập tức tôi nghe Tĩnh nói:
- Chú nói với ông ta rằng nếu trốn cháu, cháu sẽ thuê bọn xã hội đen tới cắt dái !
Tôi nói lại với TT, ông ta líu ríu:
- Thôi được, thôi… nói với nó là mai tôi sẽ xuống Sài Gòn trình diện, được chưa?
*
Tôi lại nhận được điện thoại nói lên Plei Cu rồi Kon Tum gấp, thế là tôi bỏ đi luôn, tiếng hát lè nhè của  TT cứ như là đuổi theo thành cái đuôi: Chú voi con ở Bản ĐônChưa có buôi nên gọi trẻ con …  
Tới Plêi Cu rồi đi Kon Tum tiếp, ba ngày liền mệt nhoài, vậy mà vẫn phải đi tiếp tới huyện Đăc Glêi. Trời tối mịt mới tới Ủy ban huyện. Trong lúc ngồi uống bia 333 không đá với UB huyện, khi tôi lơ mơ ngủ gà ngủ gật thì nghe cậu chánh văn phòng Ủy ban nói:
- Ở bên Buôn Mê có ông sĩ quan quân đội bị cắt “của quý” ngay tại nhà !  
Tôi định gọi cho cô bé Tĩnh hỏi xem thế nào nhưng lại nghĩ, chuyện ông TT bị trừng phạt là tất nhiên , sớm hay muộn, nặng hay nhẹ mà thôi !... ./.
Đỗ Ngọc Thạch

Thứ Sáu, 1 tháng 6, 2012

Ô Quan Chưởng; Thượng Kinh Ký Sự - Đỗ Ngọc Thạch


Ô Quan Chưởng

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
Có bốn người thường xuất hiện ở Ô Quan Chưởng, khá đều đặn, ngày ngày, có khi vào buổi sáng, có khi vào lúc xế chiều. Đó là một ông già, khoảng ngoài sáu mươi tuổi, tóc đã bạc trắng nhưng từ khuôn mặt đến dáng người đều thấy rõ sự rắn chắc của người đã kinh qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian. Ông già thường đem theo một cái giá vẽ, kẹp giấy và trong cái túi bằng vải chàm có thêu hoa văn của người vùng cao, là đủ các loại hộp màu và bút vẽ. Còn có một cái máy ảnh Canon đã cũ. Ông già thường vẽ cái cửa ô Quan Chưởng, vẽ từ nhiều phía từ đằng trước cái cửa ô. Thỉnh thoảng ông lại lấy cái máy ảnh Canon ra chụp vài kiểu. Không biết ông đã vẽ bao nhiêu bức tranh cái cửa Ô Quan Chưởng này, chỉ biết việc làm của ông đều đặn, bền bỉ, kiên nhẫn như chính cái cửa Ô Quan Chưởng hơn hai trăm năm nay vẫn đứng đó thi gan cùng tuế nguyệt!  
Người thứ hai là một bà già, chưa tới sáu mươi tuổi nhưng tóc đã bạc trắng. Tuy nhiên, cũng giống như ông già, từ khuôn mặt đến dáng người đều thể hiện một thể lực còn mạnh mẽ, như là sự thách thức với tuổi già, với thời gian. Bà già thường đem theo một tấm gỗ bằng cái mặt bàn nhỏ và một cái giá đỡ cũng bằng gỗ. Khi bà già dựng cái giá đỡ bằng gỗ ấy lên, đặt tấm ván gỗ lên trên thì nó thành một cái bàn bán vé xổ số. Những xếp vé số nhỏ được ghim vào mặt tấm ván thành hàng lối như một đội quân nhỏ! Việc bán vé số của bà già đều đặn hàng ngày, sáng từ bảy giờ sáng đến khoảng mười giờ, chiều từ bốn giờ đến giờ quay số. Bán vào buổi chiều có khi còn được nhiều hơn cả buổi sáng bởi vào lúc giờ tan tầm, những viên chức Nhà nước muốn cầu may vào “phút thứ 89” cho nên không tiếc tiền! Tuy nhiên, việc bán được nhiều hay ít cũng đều không có ý nghĩa gì đối với bà già bởi cứ hai hoặc ba ngày, bà lại bị kẻ gian lừa (đổi vé giả hoặc lấy trộm vé trên bàn). Tổng kết hàng tuần, chưa tuần nào bà có lãi mà chỉ từ hòa vốn xuống lỗ vốn! Tuy thế, bà không thể bỏ công việc bán vé số này bởi việc bà có mặt ở trước cửa Ô Quan Chưởng này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khác!  
Người thứ ba là một thiếu phụ khoảng năm mươi tuổi, nhưng khuôn mặt còn tròn trịa, nhuận sắc như khuôn mặt của một thôn nữ. Người thiếu phụ này thường xuất hiện vào buổi sáng, từ sáu giờ tới hơn tám giờ với một thúng xôi gấc đo đỏ và thơm ngậy, khiến ai đã chót ngó nhìn thúng xôi thì không thể không ăn một gói!  
Người thứ tư là một người đàn ông, rất khó đoán tuổi, áng chừng trên dưới sáu mươi, có khuôn mặt và thân hình xương xương, gày guộc nhưng rắn chắc như một pho tượng. Và Người thứ tư này xuất hiện ở Ô Quan Chưởng rồi đứng ở trên vọng lâu, trên nóc cửa chính của Ô Quan Chưởng như một bức tượng: một tay dơ cao như vẫy chào ai, một tay che ngang mày như muốn dõi nhìn ai? Mỗi ngày “Người – Tượng” xuất hiện khoảng bốn giờ đồng hồ, chỉ vắng mặt khi trời mưa to gió lớn.
Người thứ năm, khi thì là một bé trai, khi thì là một bé gái, chưa tới hai mươi tuổi, thường đi theo “Người – Tượng” như một vệ sĩ. Hẳn đó là những đứa cháu của “Người – Tượng”.  
Người thứ sáu và thứ bảy là hai bố con người hát xẩm. Người bố, nhìn hao hao giống như Người-Tượng, chỉ khác là đã bị mù cả hai mắt, luôn đeo cái kính râm đã cũ, “hành lý” chỉ có cây đàn nhị cũng cũ kỹ. Người con gái khoảng hơn hai mươi tuổi, rõ là một cô gái xinh đẹp với nét u buồn thăm thẳm luôn phảng phất trên gương mặt phúc hậu. Cô gái cầm cái song loan nhỏ, vai đeo một cái túi vải bạt. Hai cha con thường xuất hiện ở Ô Quan Chưởng cùng thời điểm với bà bán vé số. Thường là người cha vừa kéo nhị vừa hát, cô con gái điểm nhịp bằng tiếng song loan. Thi thoảng người cha mới để cho cô gái hát thay… 
*  
Ông già “Người-Tượng” mỗi khi tới trước cửa Ô Quan Chưởng thường đứng ngắm nhìn cái cửa ô cũ kỹ, già nua này một lúc rồi nói với người cháu:
- “ Ô Quan Chưởng hay còn gọi là Ô Đông Hà, tên chữ là Đông Hà môn ( 東河門 , tức cửa Đông Hà ), là một cửa ô của Hà Nội xưa, nằm ở phía Đông của tòa thành đất bao quanh Kinh thành Thăng Long, được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749), đến năm Gia Long thứ ba (1817) được xây dựng lại và giữ nguyên kiểu cách đến ngày nay. Đây là một trong 21 cửa ô còn sót lại của thành Thăng Long cũ:
Long Thành bao quản nắng mưa
Cửa Ô Quan Chưởng bây giờ còn đây (*).
Người cháu bao giờ cũng nói:
-Ông nói về Ô Quan Chưởng như kể chuyện cổ tích…
Người ông, tức ông già “Người -Tượng” mỉm cười phúc hậu nhìn cháu rồi lại nói:
- Hiện nay, cửa ô còn nguyên một cửa chính và hai cửa con hai bên. Trên nóc cửa chính là một vọng lâu. Ngày xưa có lính tuần canh gác ở đây. Bên tường phía trái có gắn một tấm bia khắc năm 1882 ghi lệnh của Tổng đốc Hoàng Diệu cấm bọn lính sách nhiễu những đám tang qua lại cửa ô. Từ phố Ô Quan Chưởng có thể dẫn ra 4 phố Hàng Chiếu, Đào Duy Từ, Thanh Hà và Trần Nhật Duật. Thời xưa, ô Quan Chưởng nằm trên đường từ trong thành phố đi ra bờ sông, thuộc địa phận thôn Thanh Hà tổng Hậu Túc (sau đổi là Đồng Xuân), huyện Thọ Xương cũ, cho nên gọi là cửa ô Thanh Hà. Từ cửa ô ra đến bờ sông Hồng là con đường dài tám chục mét. Phía ngoài cửa ô trước kia coi như đất ngoại thành. Phố Ô Quan Chưởng được tính từ đường Trần Nhật Duật đến cửa ô Đông Hà, nối với phố Hàng Chiếu và nối ra phía đê sông Hồng. Phố được hình thành từ thời Pháp thuộc, có tên là Rue des Nattes en joncs (nghĩa là phố Chiếu Cói), chuyên buôn các loại chiếu cói từ Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình chở lên.
-   Tại sao chỉ còn sót lại một cửa ô và tên gọi lại có tên là Ô Quan Chưởng vậy ông? - Người cháu lại hỏi.
  - Sau khi chiếm Hà Nội, người Pháp cho phá hết các cửa ô cùng với một phần các con đê để mở rộng Hà Nội. Còn riêng ô Đông Hà, nhờ có sự đấu tranh kiên trì của nhân dân và của ông cai tổng Đồng Xuân Đào Đăng Chiểu (1845 – 1916), người làng Khúc Thủy (Hà Đông), nên chủ trương đó không thực hiện được. Vì ông Cai tổng cùng với dân chúng nhất định không chịu ký tên vào tờ trình xin phép phá cửa ô nên cuối cùng người Pháp phải nhượng bộ. Nhờ vậy mà đến nay Ô Quan Chưởng vẫn còn giữ nguyên vẹn như kiến trúc xưa.
Còn tại sao Ô Thanh Hà lại được gọi là Ô Quan Chưởng? Theo những điều còn ghi lại trong gia phả của họ Đào thì năm 1873, có một viên quan Chưởng cơ người Bắc Ninh nổi tiếng đánh Pháp, chẳng may bị bắt ở Gia Lâm, quân Pháp giải về Hà Nội chém đầu và đem bêu bên bờ sông Cái phía trước cửa ô Thanh Hà, giao cho Cai tổng Đồng Xuân canh giữ.
Ngay đêm đầu tiên, ông Cai tổng nghe tiếng chó sủa ngoài sông vọng về, cho tuần đinh ra tra xét thì thấy có hai chiếc đò cứ lởn vởn ở khúc sông gần chỗ bêu đầu quan Chưởng cơ. Sợ có người đến lấy đầu của quan Chưởng cơ, ông Cai tổng bèn cho đem thủ cấp vào treo trong cửa ô Thanh Hà.
Hôm sau người nhà quan Chưởng cơ đến thương lượng, xin ông Cai tổng cho chuộc lại thủ cấp. Biết đây là một nghĩa cử phải làm, nhưng để khỏi mang tội với quan trên, ông Cai tổng bèn lên bẩm báo với quan Đốc lý thành phố, xin cho đem thủ cấp trôi sông để giữ vệ sinh trong khu dân cư và được chấp thuận.
Đêm hôm đó, ông Cai tổng trao trả thủ cấp cho gia đình quan Chưởng cơ, rồi sáng sớm hôm sau sai tuần đinh tin cẩn lấy một hòn đất to bọc vải cho vào một cái rọ đem ra giữa sông. Trước khi ném cái rọ xuống sông phải hô to cho mọi người trong bờ nghe rõ: “Theo lệnh quan trên, thủ cấp này phải trầm hà!”. Câu chuyện quan Chưởng cơ bị bêu đầu được lan truyền trong tổng Đồng Xuân, từ đấy ai đi qua cửa ô cũng gọi là ô Quan Chưởng, dần dần về sau cái tên cũ Thanh Hà không được nhắc đến nữa.
- Vậy tại sao trong bài hát Tiến về Hà Nội của nhạc sĩ Văn Cao lại có câu: "Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về, như đài hoa đón mừng nở năm cánh vàng...". Cho nên khi hỏi Hà Nội có bao nhiêu cửa ô, nhiều người đã trả lời 5 và cũng dễ dàng gọi tên 5 cửa ô đó là: ô Cầu Dền, Cầu Giấy, Yên Phụ, Đống Mác, Quan Chưởng …- Người cháu định nói gì nữa nhưng khi thấy người ông đứng lặng thì cũng ngừng lại. Đúng lúc đó, có tiếng đàn nhị réo rắt, nỉ non cất lên rồi vang lên giọng hát trầm buồn của người hát xẩm: đó là những lời thơ đầy cảm khái và bi tráng của bài “ Hà Thành chính khí ca ”(**), như đoạn nói về cái chết bi hùng của Tổng đốc Hoàng Diệu:
... Một cơn gió thảm mưa sầu,
Đốt nung gan sắt, giãi dầu lòng son,
Chữ trung còn chút con con,
Quyết đem gởi cái tàn hồn gốc cây.
Trời cao biển rộng đất dày,
Non Nùng sông Nhị chốn nầy làm ghi!
Thương thay trong buổi gian nguy,
Lòng riêng ai chẳng thương vì người trung!
Rủ nhau tiền góp của chung,
Rước người ra táng ở trong học đường.
Đau đớn nhẽ, ngẩn ngơ dường,
Tả tơi thành quách, tồi tàn cỏ hoa...
Khi cha con người hát xẩm hát hết một lượt bài “ Hà Thành chính khí ca ” thì đã thấy “Người-Tượng” đứng trên vọng lâu… 
*  
Thông thường, vào những ngày thời tiết bình thường, thì vào khoảng sáu giờ sáng, người thiếu phụ bán xôi gấc xuất hiện và đến bảy giờ thì lần lượt là bà bán vé số, ông họa sĩ, hai ông cháu Người-Tượng và cuối cùng là hai cha con người hát xẩm. Tất cả sáu người kia, khi đến cửa Ô Quan Chưởng thì chỗ đầu tiên họ tới là thúng xôi gấc của bà bán xôi. Như là có sự chuẩn bị từ trước, có sáu cái ghế con được đặt xung quanh thúng xôi. Song, sáu người kia ngồi ăn xôi như những khách hàng bình thường khác, họ không hề biết nhau. Nhưng người thiếu phụ bán xôi thì biết rõ cả sáu người kia và hiện nay, thúng xôi gấc là nguồn “kinh phí” chủ yếu để nuôi cả sáu người kia!... 
Vào một buổi sáng mùa đông năm 2009, vào lúc bảy giờ, như thường lệ, người thiếu phụ bới xôi gấc cho sáu người kia ăn xong thì nói: “Chúng ta vốn là những người thân thiết mà giờ như những người xa lạ, số phận thật khéo đùa dai. Ông họa sĩ, bà bán vé số và ông “Người – Tượng” vốn là ba người bạn thân cùng học lớp Mười thời Trung học, là bộ ba “Xe Pháo Mã” rất tuyệt vời. Vậy mà mười năm nay, vẫn ngày ngày nhìn thấy nhau mà không nhận ra nhau, coi nhau như người xa lạ…Hôm nay, nhân kỷ niệm mười năm ngày chúng ta hội ngộ, tôi muốn mời tất cả đến gặp một vị bác sĩ thần kinh lừng danh, sẽ có thể giúp chúng ta chữa được cái bệnh quên quái ác này!”.  
Người thiếu phụ bán xôi vừa dứt lời thì có một người gần bảy mươi tuổi, dáng vẻ như một vị giáo sư xuất hiện. Đó chính là vị Bác sĩ thần kinh lừng danh mà người thiếu phụ bán xôi vừa nói, và đó cũng chính là Bác sĩ phụ trách Đội điều trị dã chiến hồi chiến tranh mà cô Y tá Hiền, giờ là người bán xôi từng phục vụ. Vị Giáo sư, Bác sĩ thần kinh ấy nói: “Tôi đã tới rồi đây. Gặp mọi người ở đây mới thật đúng người đúng cảnh. Có phải vậy không?”. Tức thì ông họa sĩ già nói: “Phải rồi! Chính nơi đây, bốn mươi năm trước, tức năm 1969, ba người bạn chúng tôi đã chia tay nhau, tiễn đưa tôi vào chiến trường, khi chưa kịp bảo vệ Luận văn Tốt nghiệp Đại học. Lúc chia tay, tôi và Hoa đã có đính ước và hẹn nhau sẽ gặp lại nhau tại đây, ngày trở về!”. Ông họa sĩ già như chưa nói hết, thì bà bán vé số đã nói át đi: “Ông có biết tôi đã đợi ông suốt ba mươi năm qua ở đây không? Đến lúc gặp lại thì ông lại không nhận ra tôi! Ông có biết cả Hải cũng đã tới đợi cùng tôi vì anh ấy lo sợ cho sự an toàn của tôi đó! Giờ thì anh ấy thành “Người-Tượng” rồi, không biết đến bao giờ mới nhận ra chúng ta?”. Người thiếu phụ bán xôi gấc định nói gì thì vị Giáo sư Bác sĩ Thần kinh ra hiệu xin nói trước: “Bây giờ tôi có thể tuyên bố với mọi người: Chỉ có ông Người -Tượng là chưa có biến chuyển. Bà Hoa bán vé số đã hồi phục trí nhớ tới 99, coi như là khỏi. Còn ông Hà họa sĩ thì đã hồi phục trí nhớ được 80 đến 90, có dấu hiệu rất tốt. Tôi có thể kiểm tra lại ngay bây giờ”, và quay sang hỏi ông Họa sĩ: “Ông Hà, ông có biết người kéo nhị hát xẩm kia là ai không?”. Ông họa sĩ nhìn người kéo nhị khoảng hai, ba phút thì reo lên: “Thằng Cao Sơn, cây ghi-ta của Đại đội tôi chứ còn ai nữa!”. Hai người bạn lính ôm chầm lấy nhau mà không nói nên lời. Hồi lâu, ông họa sĩ Hà mới nói: “Tại sao lại phải đi hát xẩm, tội nghiệp quá trời?”. “Thì để được gặp lại thằng bạn khói lửa là mày mà thôi!”- Người hát xẩm không nói gì nữa mà lấy cây nhị ra kéo một bản nhạc “Ngày trở về”.
Nghe xong bản nhạc, ông họa sĩ già nói: “Mười năm nay, tôi loay hoay vẽ chưa xong bức tranh Ô Quan Chưởng vì bức tranh của tôi luôn thiếu một cái gì đó rất hệ trọng mà tôi không nhận ra. Giờ thì tôi đã nhận ra rồi. Đó chính là bà Hoa, người ngồi đợi tôi suốt bốn mươi năm qua ở cái cửa Ô Quan Chưởng này!”. Và chỉ trong khoảng thời gian hai mươi phút, một bức tranh Ô Quan Chưởng mới đã hình thành: trên hình nền là cái cửa Ô Quan Chưởng, có một cô gái lúc ẩn lúc hiện, lúc già lúc trẻ, đó chính là bà Hoa bán vé số của bốn mươi năm trước cho đến ngày hôm nay!...
Mãi cho tới lúc mọi người ra về để chuẩn bị cho buổi gặp mặt vào buổi tối, vừa là để kỷ niệm 40 năm ngày xa nhau, mười năm ngày gặp lại và 60 năm ngày sinh nhật của ba người, người kéo nhị hát xẩm mới níu vị Giáo sư – Bác sĩ Thần kinh lại mà hỏi: “Vậy trong mười năm qua, ông đã dùng phương pháp gì, thuốc gì để chữa bệnh mất trí nhớ của bộ ba ấy?”. Vị Giáo sư-Bác sĩ Thần kinh cười phúc hậu, nói hồn nhiên như trẻ nhỏ: “Rất đơn giản: Phương pháp là ghi khắc lại những hình ảnh đẹp của quá khứ và thuốc duy nhất là xôi gấc đó!”…/.
Sài Gòn, 2009-2010
Đỗ Ngọc Thạch
 (*) Ca dao. Hiện nay, Ô Quan Chưởng đã “được” tân trang, dáng vẻ cổ kính xưa chỉ còn trong ký ức Người Hà Nội.
(**) Tác giả là Ba Giai – Nguyễn Văn Giai.
 **
Thượng Kinh ký sự (Hay là Ba lần tới Thủ đô)  

Truyện ngắn của Đỗ Ngọc Thạch

1. Giáo đầu
Cứ tưởng cái đầu mình là “Của kho vô tận”, tôi thả phanh viết búa xua đủ các kiểu, bỗng một hôm ghé mắt nhìn vào cái “Kho” thấy trống trơn! Hốt hoảng, tôi thu dọn tất cả tài liệu, sách vở vào trong cái thùng giấy cứng (vốn là cái hộp giấy đựng tivi to tướng) rồi định đi “bụi đời” tìm cảm hứng! Ai dè vừa bước ra cửa, đụng ngay mấy người hàng xóm đang cãi lộn dữ dội, xem chừng muốn chuyển qua đánh lộn! Nhớ lời mẹ dặn lúc còn nhỏ rằng, thấy đám cãi lộn, đánh lộn là phải tránh xa, tôi vội quay trở lại, trèo lên gác… ngồi Thiền!

Ngồi được ba phút thì Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác bất ngờ xuất hiện ngay trước mặt, râu tóc trắng như mây trắng, không khác gì Đại Tiên Thái Thượng Lão Quân. Tôi chưa kịp hỏi thì Hải Thượng Lãn Ông nhẹ nhàng nói: “Con mở thùng sách của con ra, trong đó có cuốn “Thượng Kinh Ký sự” của ta, con hãy đọc kỹ lại thì sẽ tỉnh ngộ!” Đoạn Hải Thượng Lãn Ông ghé tai tôi nói nhỏ một câu, dặn phải giữ bí mật, nên tôi không thể ghi ra đây được!
Tôi ngồi đọc lại cuốn Thượng Kinh ký sự một ngày… Những gì tôi viết dưới đây là do cuốn Thượng Kinh Ký sự gợi ý!

2. Về Thủ đô lần thứ nhất

Đó là những ngày đầu giải phóng Thủ đô… Bố tôi hồi đó ở Quân Y của Sư đoàn 308, đã về Hà Nội trước cùng với đơn vị, mấy chị em chúng tôi (lúc đó chúng tôi đã có 5 chị em, 2 chị đầu) và mẹ đi sau. Tuy bố tôi đi trước nhưng mọi việc của cuộc di chuyển “bầu đoàn thê tử” bố tôi đã xếp đặt ổn thỏa: chuyến ô tô cuối cùng của Quân Y sẽ đón 6 mẹ con chúng tôi từ Phú Thọ về Hà Nội.

Lúc đó, tôi mới có hơn sáu tuổi, chưa biết Thủ đô Hà Nội như thế nào nên rất háo hức, muốn chiếc ô tô có cái dấu “Hồng Thập Tự” chở chúng tôi phóng thật nhanh! Và quả là xe chạy rất nhanh, tôi chưa kịp nhận biết là đã tới Hà Nội chưa thì xe dừng, mấy chú Quân Y đi cùng xe nói “Tới Thủ đô rồi!”, rồi nhấc bổng mấy chị em chúng tôi xuống đường! Tôi cũng chưa kịp quan sát kỹ con phố mà chúng tôi đứng chân lần đầu tiên nó như thế nào (sau này tôi mới biết đó là đoạn đầu Phố Tràng Thi, phía gần Cửa Nam, còn đi ngược lên là tới Hồ Hoàn Kiếm), thì mẹ tôi đã dắt tay hai chị tôi và bảo tôi dắt tay hai đứa em trai đi theo (Năm chị em chúng tôi sàn sàn tuổi nhau, sinh từ 1945 đến 1951)...Đi được khoảng chục bước thì cậu em sát tuổi tôi giằng tay ra khỏi tay tôi, có lẽ do tôi nắm tay em tôi quá chặt? Thấy người em giằng tay ra, tôi cũng thả luôn bàn tay của người em kế sau ra và đứng lại…sửa sang lại y phục! Cúi xuống chân, thấy dây giày bị tuột (tôi đang đi loại giày Ba-ta của Pháp, khá phổ biến lúc đó), tôi liền ngồi xuống buộc lại dây giày. Buộc xong, tôi đứng lên nhìn quanh thì không thấy hai cậu em trai của tôi đâu! Nhìn ra phía mẹ tôi vừa dắt hai người chị cũng không thấy ai!

Lúc đó là thời khắc chuyển giao giữa ban ngày và ban đêm, vào khoảng gần sáu giờ chiều. Người đi lại trên phố đang nhiều dần lên, chắc dân thành phố thích đi chơi ban đêm? Nếu như ở quê thì giờ này chúng tôi đang ăn cơm tối. Nghĩ tới hai từ “ăn cơm”, lập tức tôi thấy đói bụng, cái bụng như đang réo sôi! Tôi liền mở cái túi vải đeo bên sườn, có dòng chữ thêu trên nắp túi “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên”, thò tay vào đụng phải cái nắm cơm to bằng quả bưởi. Tôi tính lấy nắm cơm nắm ra ăn thì chợt nghĩ, ai lại ăn giữa đường thế này? Vả lại, phải đi tìm Mẹ và các chị, các em chứ đứng mãi ở đây không phải là cách tốt nhất! Đi vài bước tôi lại nghĩ, nếu lát nữa mẹ quay lại tìm thì sao, với lại tôi đã biết đường phố Hà Nội như thế nào? Nghĩ vậy, tôi quyết định đứng đợi…

Khoảng một khắc, tức mười lăm phút trôi qua, đường phố đã sáng đèn, tôi đang đứng nhìn về phía Cửa Nam có ánh đèn điện nhấp nháy rất vui mắt thì bỗng có một thằng bé trạc tuổi tôi, không biết từ đâu tới và đứng sát trước mặt tôi từ bao giờ, dùng một bàn tay xoa đầu tôi và nói một câu gì đó bằng tiếng Pháp rồi co chân phải định đá đít tôi. Không ngờ tôi lại phản ứng rất nhanh, dùng một tay hất bàn chân của thằng bé lên và tay kia đấm thẳng vào mặt, tức thì nó ngã té ngửa trên hè phố! Thằng bé kêu ối một tiếng và lập tức ngồi bật dậy, tính lao vào tấn công tôi! Nhưng nó chưa kịp hành động gì thì thì bị một cô bé cũng trạc tuổi cản lại với giọng nói rõ ràng, dứt khoát: “Bạn không được đánh nhau! Đó là bài học cho bạn đừng có thấy ai cũng bắt nạt!” Dường như tiếng nói của cô bé có uy lực đặc biệt nên cậu bé kia không nói gì mà chuồn mất tăm!

Nhìn thằng bé đi như chạy về phía Cửa Nam, tôi giật mình khi nghe tiếng cô bé nói: “Hình như bạn lần đầu tới Hà Nội?”. Tôi gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Cô bé lại nói: “Hành động vừa rồi của đứa bạn tôi thật là mất lịch sự, tôi thay mặt Người Hà Nội xin lỗi bạn!”. Tôi nói lí nhí: “Không sao!... Không dám!...”. Cô bé lại nói: “Bạn đứng chờ người nhà hay là bị lạc đường?”. Tôi ngạc nhiên trước cách nói năng rất nhẹ nhàng, dịu dàng của cô bé và nói: “Tôi đứng chờ mẹ tôi! Vì tôi chưa đi khỏi chỗ này nên không thể gọi là bị lạc đường được!”. Cô bé bỗng bật cười, tiếng cười như tiếng chuông ngân! Vừa nghĩ như vậy, tôi liền nói với cô bé: “Bạn có tiếng cười rất hay! Tiếng cười như tiếng chuông ngân!...”. Cô bé nhìn tôi bằng ánh mắt lấp lánh như hai hòn bi ve…Tôi lại nói ra ý nghĩ ấy thì cô bé lại cười và nói: “Bạn nói năng như người lớn!... Nếu bạn đồng ý thì tôi sẽ là Người Hà Nội đầu tiên để lại trong bạn ký ức đẹp về Hà Nội: Tôi sẽ dẫn bạn đi dạo vòng quanh Hồ Gươm, ăn Kem ở Nhà Thủy Tạ và tới Nhà Kèn nghe hòa nhạc!...”. Câu nói ấy cứ trở đi trở lại bên tai tôi và quay như đèn kéo quân trước mắt tôi khi chúng tôi đã nghe xong buổi hòa nhạc đặc biệt ở Nhà Kèn!... Đến khi Cô bạn gái dẫn tôi tới địa chỉ mà tôi đoán rằng bố tôi sẽ ở đó là Bệnh viện Đồn Thủy (sau là Bệnh viện Quân đội 108), tôi vẫn chưa kịp hỏi tên và bất cứ một thông tin gì về cô bé!

3.Về Thủ đô lần thứ hai

Tôi đã đi khỏi Hà Nội rồi lại trở về Hà Nội có đến gần trăm lần. Chẳng hạn như thời kỳ tại ngũ đóng quân ở mấy tỉnh xung quanh Hà Nội, thi thoảng lại được các thủ trưởng cho “tranh thủ” về Hà Nội thăm gia đình, họ hàng hoặc “công cán” gì đó cho đơn vị. Hoặc khi học Đại Học phải đi sơ tán ở Hà Bắc, Hà Nam tôi thường xuyên đạp xe đi đi về về mỗi tuần một lần, nhân lên với bốn năm thì không biết là bao nhiêu lần? Khi đi tới các tỉnh phía Bắc tôi đi qua Cửa Bắc, khi đi về phía Nam tôi đi qua Cửa Nam, qua ga Hàng Cỏ rồi xuôi xuống ga Giáp Bát, khi đi về phía Đông, tôi qua cầu Long Biên, khi đi về phía Tây, tôi đi qua Cầu Giấy…Lối đi nào cũng có nhiều điều thú vị, những kỷ niệm khó quên, nhưng vui ít buồn nhiều, không hiểu tại sao?

Lần ấy, tôi đi cùng Trung đội trưởng, làm một cuộc hành trình dài từ Nghệ An ra Hà Nội. Đó là vào thời kỳ cuộc chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ đối với miền Bắc rất ác liệt. Đơn vị Ra-đa của tôi lúc đó đang hoạt động ở chiến trường Khu Bốn. Việc tôi được đi cùng Trung đội trưởng về Hà Nội, lúc đó tôi chỉ được biết là: do tôi thông thuộc Hà Nội nên có nhiệm vụ làm người dẫn đường cho Trung đội trưởng, còn Trung đội trưởng ra Hà Nội làm gì thì tôi không được biết vì đó là “Bí mật quân sự”!

Thực ra, tuyến đường mà chúng tôi đi thẳng một mạch từ ga Vinh tới ga Hàng Cỏ là xuống tàu, vào ngay phố phường Hà Nội. Nhưng tôi thích được đi tàu qua cầu Long Biên nên khi tàu tới ga Hàng Cỏ, tôi lôi Trung đội trưởng qua tàu đi Hải Phòng. Lúc đó, Trung đội trưởng đang ngủ gà ngủ gật, không biết mô tê gì, thấy tôi nói phải chuyển tàu thì đi theo mà không hỏi han gì!... Khi con tàu đưa chúng tôi qua cầu Long Biên thì cũng là lúc bình minh hé rạng. Đằng đông, những ngón tay hồng của Nàng Bình Minh đang như mơn trớn trần gian, vạn vật! Nhìn xa xa, dòng sông Hồng uốn lượn như một dải lụa lớn, màu hồng ấm áp, còn hai bên bờ là những vạt ngô đang trổ bắp xanh rờn, như đang nhẹ trôi theo dòng sông!...Một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp mà không một họa sĩ tài ba nào có thể vẽ nổi!

 Song, khoảng thời gian tuyệt vời đó đã qua mau khi tàu đỗ ở ga Gia Lâm. Lúc đó, nắng vàng đã rực rỡ mà chưa có tàu Hải Phòng – Hà Nội. Chúng tôi đành ngồi đợi trên sân ga. Trung đội trưởng dường như đã tỉnh táo, vươn vai ngáp dài một cái rồi hỏi: “Đang ở ga nào vậy? Sắp tới Hà Nội chưa?” Tôi nói: “Chúng ta đang ở ga Gia Lâm! Gia Lâm là huyện ngoại thành của Hà Nội, chỉ qua cầu Long Biên là vào ngay trong ḷòng Thủ đô!” Trung đội trưởng gắt: “Thôi, đừng dài dòng nữa! Bao giờ mới có tàu vào Thủ đô!” Tôi nói: “Anh hỏi em, em biết hỏi ai? Hình như đầu máy bị hỏng, họ đang sửa, không biết đến bao giờ!” Tôi vừa dứt lời thì tiếng còi báo động vang lên, kèm theo là tiếng nói rất to từ hai cái loa trên sân ga đồng thanh phát ra: “Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội một trăm cây số về hướng Đông! Các lực lượng phòng không sẵn sàng chiến đấu! Người không có nhiệm vụ xuống ngay hầm trú ẩn!...” Tôi vừa nghe xong câu nói, ngoảnh lại không thấy Trung đội trưởng đâu cả! Tôi ngồi ôm hai cái ba lô con cóc, nhìn lên sân thượng của mấy cái nhà lầu cạnh ga, đã thấy những khẩu súng 12,7 ly và cả súng trường của dân quân hướng nòng về phía Đông, sẵn sàng nhả đạn!... Tôi rất thích cái hình ảnh đặc trưng này của Thủ đô Hà Nội, và cũng có ở các thành phố khác trên Miền Bắc những năm chiến tranh chống Mỹ, bởi mỗi khi có còi báo động máy bay địch như thế, là chúng tôi – những trắc thủ Ra-đa đang phải ngồi trong xe hiện sóng kín mít, và cái tin có máy bay địch kia chính là do những trắc thủ Ra-đa sinh ra!...Tôi đang mơ màng suy nghĩ về một trận bắn máy bay địch ác liệt, nòng súng 12,7 ly của tôi đã đỏ rực thì có ai đó đá vào chân tôi, hỏi: “Tại sao đồng chí không vào hầm trú ẩn?” Tôi ngẩng nhìn, thì ra là một cô nàng nhân viên nhà ga. Tôi nói ngay: “Tôi mới bị thương ở chân, không đi được! Trung đội trưởng của tôi đã đi thay xuất của tôi rồi!” Cô gái bật cười khanh khách rồi nói: “Cái anh lính binh nhất này coi thường mạng sống lại còn hài hước nữa chứ, định rỡn mặt Tử Thần hả? Tôi sẽ dìu anh vào hầm trú ẩn!” Cô gái cầm cánh tay tôi định kéo lên thì tôi nắm lấy cánh tay cô gái, thay vì đứng lên, tôi kéo mạnh, khiến cô gái bị bất ngờ, ngã đè xấp lên người tôi!...
Chúng tôi đang lúng túng trong tình huống bất ngờ thì tiếng còi “Báo an” vang lên, cùng với tiếng nói đều đều, chứ không gấp gáp như lúc báo động, của hai cái loa phóng thanh:” Đồng bào chú ý! Máy bay địch đã đi xa!...Mọi sinh hoạt trở lại bình thường!” Cô gái nhân viên nhà ga đứng được lên thì xấu hổ chạy vút đi!...

Khoảng năm phút sau, trung đội trưởng mới quay lại, lấy ba-lô đeo lên vai rồi nói: “Chúng ta đi ra cầu phao! Chưa có tàu thì đi cầu phao! Ngồi chờ ở đây rất nguy hiểm vì nhà ga là mục tiêu ném bom của máy bay Mỹ!” Tôi nghĩ, không hiểu sao Trung đội trưởng lại “Nhát chết” như thế? Lại còn là người rất thích chải chuốt nữa chứ! Là nông dân vùng chiêm trũng Hà Nam đã năm đời, nhưng trong hai cái túi ngực áo lính của anh ta lúc nào cũng có tới hai cái gương và hai cái lược! Hai cái gương để có thể nhìn được phía sau gáy, còn hai cái lược là để “sơ-cua”, lỡ quên ở đâu mà mất thì có cái dùng thay thế ngay, bởi cứ khoảng mười phút là anh ta phải chải đầu một lần, mỗi lần phải hơn chục nhát lược!...

Chúng tôi đi dọc theo bờ sông Hồng… Những vạt ngô đang kỳ trổ bắp thật là ngoạn mục! Ra tới cầu phao mới biết là ban ngày thì tháo ra năm phao cho thuyền bè đi lại, đến tối mới nối cho xe pháo và người bộ hành qua lại. Chúng tôi chui vào một vạt ngô, trải tấm ni-lông dã chiến ra và ngồi ăn lương khô! Trung đội trưởng ăn xong thì lăn ra ngủ ngon lành, lại còn ngáy nữa chứ! Tôi vốn không thích nằm cạnh người ngủ ngáy nên đứng dậy, tính đi dạo một lúc trên bờ bãi Sông Hồng đẹp như mơ này thì một cô gái bất ngờ xuất hiện ngay trước mặt! Tôi vừa kịp định thần nhận ra chính là cô gái nhân viên nhà ga ban nãy thì cô gái lừ lừ nhìn tôi nói: “Thì ra là anh lính ở trên sân ga!...” Tôi làm điệu bộ chào lễ phép rồi nói: “Thì làm sao ạ? Có phải chúng ta có duyên nợ hay không mà lại gặp nhau nơi phong cảnh hữu tình này?” Cô gái trợn mắt la to: “Duyên nợ cái con khỉ! Anh đừng hòng dở trò ra với tôi lần nữa! Cuốn gói đi ngay chỗ khác để tôi chăm sóc bãi ngô của tôi!” Tôi cũng lấy giọng nghiêm nghị đáp lại: “Chúng tôi, chiến sỹ lực lượng Phòng không – Không quân đang trên đường làm nhiệm vụ, không ai được gây trở ngại! Tôi đề nghị được người dân hỗ trợ, giúp đỡ, cho chúng tôi nằm ngủ trên vạt ngô chờ nối cầu phao!” Cô gái khẽ nhếch mép cười, liếc nhìn Trung đội trưởng đang ngủ ngon lành, rồi hạ giọng: “Thôi được, cho các nghỉ nhưng phải chuyển cho tôi thư và quà tới bố của tôi đang chiến đấu ở chiến trường Khu 4 ác liệt, tên là Trần Đình Hợi, hòm thư X”. Nghe xong tên và hòm thư của bố cô gái, tôi reo lên: “Trời!...Đó là Thủ trưởng Trung đoàn của tôi! Ông thường xuống đơn vị tôi mỗi khi đơn vị có nhiệm vụ đặc biệt!” Cô gái còn tỏ vẻ bất ngờ hơn tôi và thế là chúng tôi trở nên thân mật như…cá với nước! Cô gái nói đã ba năm bố cô chưa về thăm nhà, cô rất muốn gặp bố mà không biết làm sao! Tôi nhận lời chuyển thư và quà cho bố cô, cô liền chạy về nhà, chỉ mười phút sau đã quay lại, thì ra nhà cô gần đó và cô đã chuẩn bị từ trước! Nhìn tên cô gái trên phong thư “Trần Thị Ga” tôi thoáng nghĩ, chắc là cô gái đẻ rơi trên sân ga! Khi hỏi chuyện thì quả nhiên là như vậy! Thấy tôi giỏi “đoán mò”, Ga nói: “Anh có biết xem tướng không? Em sẽ lấy chồng làm gì và bao giờ thì cưới?” Tôi làm bộ lẩm nhẩm bẩm đốt ngón tay rồi nói: “Cô có tướng vượng phu ích tử, chồng cô sẽ là người tài và thành đạt. Có lẽ chỉ hai năm nữa là cô sẽ lên kiệu hoa lấy được chồng như ý!”…Tôi vừa ngừng lời thì Trung đội trưởng ngồi bật dậy, nói: “Ai đã phá giấc ngủ của ta, sẽ bị phạt!...À, thì ra là anh chàng Binh nhất láu tôm láu cá! Đi mua ngay cho ta một chai rượu!” Tôi đã quen với “cái vụ sai vặt” nên chạy đi ngay!

Tôi đi dạo một vòng phố xá thị trấn Gia Lâm, ăn một bát phở gà thơm phức rồi mới xách chai rượu trở về ruộng ngô cho Trung đội trưởng, nếu tính thời gian thì phải gần một giờ đồng hồ. Về tới nơi, tưởng rằng sẽ được nghe Trung đội trưởng kể lại “chiến tích chinh phục người đẹp” ai ngờ thấy Trung đội trưởng hai tay ôm “hạ bộ” đang rên i ỉ!...

Đến tối, cầu phao vẫn chưa được nối, hỏi ra mới biết có hai cái phao cầu do không neo buộc kỹ đã bị nước cuốn trôi mất tiêu! Người ta đang khắc phục sự cố! Trung đội trưởng sốt ruột nói: “Chờ cả ngày, giờ lại chờ cả đêm thì biết đến bao giờ? Cậu đi hỏi xem có thuyền nào nhận chở ta qua sông không?” Tôi liền đi hỏi những người dân xung quanh thì họ đều nói, hôm nay có lũ ở thượng nguồn, nước sông dâng cao và chảy xiết, không ai muốn mạo hiểm cả. Tôi bèn nghĩ bụng, mình chưa bao giờ đứng trước sự nguy hiểm thực sự, vậy lần này thử xem sao? Không đả động gì đến chuyện nước lũ kéo về, nước sông chảy siết và dâng cao, tôi nói với Trung đội trưởng: “Không có thuyền nào nhận chở người ban đêm. Tôi thấy chúng ta có thể bơi qua sông!” Trung đội trưởng tròn mắt, nói: “Bơi qua sông? Cậu có điên không đấy?” Tôi bình thản nói: “Lúc nước cạn, cát nổi lên giữa dòng sông, chúng tôi còn ra đá bóng vui lắm! Chúng ta sẽ bơi qua sông ở chỗ có cát nổi lên đó!...Chúng ta đã cùng bơi vượt sông La ở Đức Thọ (Hà Tĩnh), rồi sông Lam ở Nam Đàn (Nghệ An), rồi sông Gianh ở Quảng Bình, chẳng lẽ lại sợ Sông Hồng của Hà Nội, như thế thì làm sao mà dám ngẩng mặt nói chuyện với Người Hà Nội? Anh có biết hồi tôi mới học lớp Một, nhà ở Quân Y viện 103, chỉ vì tôi bơi vượt qua sông Nhuệ mà đám trẻ con trong vùng gặp tôi là cúi rạp chào Đại ca đấy!” Hình như lời “khích tướng” của tôi có tác dụng tức thì, Trung đội trưởng và tôi đi ra ngay bờ sông, cởi quần áo cho vào ba-lô rồi lấy tấm vải ni-lông buộc túm lại thành một bọc lớn, đó sẽ là cái phao cho chúng tôi vượt sông. Khi chúng tôi, chỉ mặc cái quần đùi, vác bọc đồ ni-lông trên vai, bước xuống sông, trông không khác gì đặc công thủy xuất quân! Khi nước tới rốn, tôi quay lại thì thấy Trung đội trưởng vẫn đang ở chỗ nước tới đầu gối! Thấy tôi nhìn lại, Trung đội trưởng xốc lại bọc đồ trên vai rồi bước tới! Nghĩ tới câu thành ngữ “Khi nước đã tới rốn thì cho ngập luôn”, tôi nhào ra giữa dòng nước…

4.Về Thủ đô lần thứ ba

Sau lần tôi và trung đội trưởng bơi vượt sông Hồng thành công, mọi việc dường như xảy ra rất tốt đẹp khiến Trung đội trưởng lại đề nghị cho tôi được đi cùng ra Hà Nội lần nữa, chỉ cách lần trước ba tháng. Lúc tàu dừng ở ga Hàng Cỏ (Ga Hà Nội), Trung đội trưởng mới nói với tôi: “Tớ cho cậu đi “Tranh thủ” lần này là để thưởng công cho cậu đã góp phần vào kết quả rất tốt đẹp của chuyến đi lần trước: Bộ Tư Lệnh Binh chủng đã quyết định điều tớ ra Phòng Tham mưu, từ Thiếu úy phong vượt cấp lên Thượng úy. Cứ cái đà này, chẳng mấy chốc mà lên tá, rồi lên tướng là cái chắc! Vì thế, tớ sẽ vào thẳng Bộ Tư Lệnh. Còn cậu, có thể tới nhà người quen hoặc về gia đình ở Hải Phòng tùy ý! Chủ nhật tới, nếu rảnh thì vào BTL kêu tớ, chúng ta lại đi dạo Hồ Gươm rồi ăn kem Nhà Thủy Tạ, sau đó đi bơi thuyền Hồ Tây!... Nhưng đừng dắt tớ vào mấy chỗ Thư viện Quốc Gia, Bảo Tàng Mỹ thuật hay Văn Miếu gì đó nữa nhé!...Mấy chỗ đó chẳng có gì thú vị cả!...”

Không biết Trung đội trưởng còn nói gì nữa hay không mà tôi thì bàng hoàng, sửng sốt và “Chết đứng như Từ Hải” bởi, thì ra Trung đội trưởng đang thực hiện một âm mưu “chạy chọt” để được ra Hà Nội, như ngoài đời dân sự thường xảy ra! Tôi ngạc nhiên bởi không nghĩ một người lính thời chiến, một sĩ quan – đảng viên – tấm gương cho bọn lính tráng chúng tôi noi theo hàng ngày, lại có hành động “đào ngũ” một cách tinh vi đến như thế! Tôi chỉ ước mình có được đôi cánh để bay trở vào đơn vị, lúc này đơn vị đang ở Nghi Lộc, Đô Lương (Nghệ An) hay Can Lộc, Đức Thọ (Hà Tĩnh)? Khi tôi kịp định thần thì không thấy Trung đội trưởng đâu nữa mà mấy người xích lô xúm vào lôi lôi, kéo kéo! Đúng lúc tâm trạng hỗn độn như vậy, tôi vụt nhớ đến cái lần về Hà Nội đầu tiên, gặp em ở đầu phố Tràng Thi!... Tôi liền nói với người xích lô chở tôi tới đầu phố Tràng Thi. Khi tôi và người xích lô đang cò cưa về tiền công chở tôi từ Ga về thì một cô gái xuất hiện, như một Nàng Tiên, chợt hóa thành cái cô gái bé nhỏ mà tôi đã gặp 14 năm trước!...Thật khó mà tin được đó lại là sự thật: đó chính là cô bé đã gặp tôi ở chính chỗ này khi tôi tới Hà Nội lần đầu 14 năm trước! Chỉ nhìn tôi khoảng một hay hai phút, cô gái nói: “Anh chính là cậu bé tôi đã gặp 14 năm trước ở đây!...”.

Giải quyết xong “vụ xích lô”, cô gái mời tôi vào nhà, chỉ cách “điểm dừng lịch sử” vài bước chân. “Em đã nằm mơ thấy người bạn bé nhỏ là anh của 14 năm trước hoài! Đêm qua cũng vậy, còn thấy rất rõ ràng là sẽ gặp lại ở chính chỗ này! Vì thế, suốt ngày hôm nay, em cứ ngóng nhìn ra đây và quả nhiên đã “tóm” được anh!...Em đã là cô giáo, còn anh chỉ là một anh lính Binh Nhất, vì thế anh phải nghe theo sự sắp đặt của em!...” – cô gái nói một tràng mà tôi nghe như là cô đang hát những liên khúc dài bất tận, bởi khi cô ngừng nói – thì tôi đã thấy mình đã tắm rửa sạch sẽ, ngồi bên một mâm cơm hương thơm ngào ngạt!... Hương, tên cô gái, ngồi tiếp tôi ăn cơm và kể cho tôi nghe biết bao nhiêu chuyện. Thì ra, Hương cùng tuổi với tôi, là người Hà Nội đã ba đời, cha mẹ đều là nhà giáo từ thời Pháp thuộc, hiện vẫn còn dạy ở trường Chu Văn An. Hết lớp 10, Hương học ở Trường Sư Phạm 10+3 rồi dạy cấp 2 ở ngoại thành…

Hôm sau, Hương dẫn tôi tới những chỗ lần đầu tiên tôi đến Hà Nội, Hương đã dẫn tôi tới: Hồ Hoàn Kiếm, rồi vào nhà Hàng Thủy Tạ, rồi Nhà Kèn, v.v.…

Ở nhà Hương một ngày, tôi qua cầu Long Biên tới Ga Gia Lâm tìm cô gái có tên Ga để báo tin rằng bố cô đã hy sinh. Nhưng khi tới Ga thì chỉ gặp mẹ cô, cũng làm việc ở Ga. Bà nói cô đã tình nguyện vào chiến trường chiến đấu, sau khi gia đình nhận được giấy báo tử!

Khi người ta không giải thích được nhiều nỗi buồn cùng đến một lúc thì người ta thường trở về với cái nơi người ta đang sống. Vì thế, tôi chỉ ở lại Hà Nội thêm một ngày, đi lang thang khắp nơi, rồi trở về đơn vị…Hương tiễn tôi ra ga, khi gần chia tay, Hương nói: “Nếu chúng ta có duyên thì chỉ một, hai năm nữa là sẽ gặp lại. Ông bố mình rất giỏi xem tướng, nhìn tướng bạn, ông bảo chỉ hai năm nữa là bạn sẽ trở lại con đường học hành mà thôi!” Nghe Hương nói vậy, tôi nghĩ là cô nói đùa cho vui, ai ngờ đúng hai năm sau, tôi trở lại trường cũ thật. Nghĩ tới lời nói của Hương khi chia tay, tôi tới phố Tràng Thi tìm Hương, nhưng thấy cửa nhà đóng khóa im ỉm. Người hàng xóm cho biết Hương đã đi lấy chồng được một tháng!...

*
Được trở lại học, đó là điều không phải dễ dàng, vì thế tôi lấy đó làm vui và quyết “Làm lại từ đầu”. Tuy nhiên, cũng có lúc buồn chán, tôi thường thả bộ dọc con đường Nguyễn Trãi trước cổng trường (là Khu Thượng Đình – đối diện nhà máy Cao-Xà-Lá Hà Nội)… Một hôm, đi mãi, qua Ngã Tư Sở thì tôi rẽ vào đường Sân Bay từ lúc nào không hay! Đây là con đường dẫn vào Bộ Tư Lệnh Binh chủng Ra-đa, có những ngôi nhà mới xây rất đẹp, hình như đang cùng nhau “ăn tân gia”. Và thật bất ngờ, đứng ở trước cổng một ngôi nhà hoành tráng đó là cô gái Hương Tràng Thi và bên cạnh là một viên sĩ quan đeo lon Thiếu Tá, và tôi không thể gọi một cái tên khác mà phải thốt lên: “Trung đội Trưởng của tôi!”.

Sài Gòn, 2008-2009
Đỗ Ngọc Thạch

Thiên Thần áo trắng; Đua chó - Đỗ Ngọc Thạch



Thiên thần áo trắng

Truyện ngắn ĐỖ NGỌC THẠCH


Anh lính lái xe tăng Lê Sơn Ưng bị nhiều vết thương, khi được đưa đến đội điều trị dã chiến của Bác sĩ Thanh Nga thì những vết thương đã rất trầm trọng, tuy nhiên thi thoảng vẫn hồi tỉnh và còn nhìn thấy mọi người, mọi vật xung quanh. Ba ngày sau, những vết thương đã có chiều hướng tốt và  anh lính Sơn Ưng đã tỉnh táo hoàn toàn nhưng đôi mắt cứ mờ dần và ba ngày sau nữa thì không thể nhìn thấy gì nữa!…
Người được giao nhiệm vụ chăm sóc, điều trị thường xuyên cho Sơn Ưng là cô Y tá Trần Thị Ninh. Từ khi không nhìn thấy gì nữa, tính tình anh lính Sơn Ưng thay đổi hẳn khiến cho cô Y tá Ninh rất lo ngại: suốt ngày cứ ngồi lỳ một chỗ, như người câm, hỏi gì cũng không nói, nếu có nói chỉ nói mỗi một câu: Tôi muốn được yên tĩnh! Anh ta đang nghĩ gì vậy? Không thể đầu hàng số phận như vậy được! Khi mới tới đội điều trị, anh ta rất gan dạ, còn làm gương cho người khác trong việc chống chọi với sự đau đớn của những vết thương cơ mà? Ninh nói chuyện với Bác sĩ Thanh Nga thì chị nói: “Em cứ bình tĩnh! Anh ta đang tập làm quen với bóng tối! Ngoài sự đau nhức của những vết thương khác, anh ta lần đầu bị bóng tối bao phủ, hành hạ!…Đừng có trách anh ta mà cần dịu dàng hơn, chăm sóc tốt hơn! Và em nhớ đừng bao giờ quên mình là một Thiên Thần Áo Trắng, có thể thay đổi được tình trạng thương tật cũng như số phận của các anh em Thương binh!”.
Lời nói của chị Thanh Nga đã khiến cô Y tá Ninh bình tĩnh trở lại. Tuy mới làm Y tá ở Đội điều trị này được hai tháng nhưng cô Y tá Ninh đã không còn là “Lính mới” nữa mà đã “đầy mình” kinh nghiệm bởi ngày nào cũng có hai, ba thương binh được đưa tới. Song, không hiểu sao, với anh chàng Sơn Ưng này, Ninh thấy mình có một cảm xúc khác lạ? Không phải vì anh ta là đồng hương đất Quan họ Bắc Ninh và khi mới gặp Ninh, anh ta khẳng định Ninh rất giống người yêu của anh ta, mà mỗi khi thay băng, tiêm thuốc rồi cho anh ta uống thuốc, Ninh thấy người anh ta có một cái Mùi rất lạ, nó gần giống như mùi rượu mà mỗi khi bố Ninh uống, Ninh đều ngửi thấy? Một cảm giác bâng khuâng, nhẹ nhàng mà ngây ngất?
Sang ngày thứ hai kể từ khi anh lính Sơn Ưng bị hỏng mắt, Cô Y tá Ninh thôi không hỏi chuyện anh thương binh Sơn Ưng bằng lời nói thông thường nữa mà bằng những bài ca Quan Họ quen thuộc. Khi cần hỏi anh chàng Sơn Ưng điều gì, chẳng hạn như đêm qua ngủ có ngon giấc không, các vết thương có còn đau nhức không, hiện thấy trong người thế nào… thì cô lồng vào những bài ca Quan Họ mà cô tin chắc rằng anh chàng Thương binh này sẽ hiểu ra ngay! Quả nhiên, sau nửa ngày vẫn “im như thóc”, anh chàng Thương binh Sơn Ưng bỗng trở thành một Liền Anh chính hiệu khiến cho tất cả Đội điều trị kinh ngạc mãi không thôi! Có ba anh chàng thương binh đòi Liền Anh Sơn Ưng “huấn luyện cấp tốc” để trở thành Liền Anh bởi gần chục cô gái của Đội điều trị từ chị nuôi, Y tá đến Bác sĩ đều là những Liền Chị rất diệu nghệ!… Và chỉ sau một ngày huấn luyện cấp tốc, có tới sáu người được cấp chứng chỉ là Liền Anh xuất sắc! Cả Đội điều trị bỗng như là trở thành một Làng Quan họ!…
Song, cái “Làng Quan Họ” ấy chỉ tồn tại được một tuần thì hơn một nửa số thương binh được chuyển về tuyến sau và Đội Điều trị được điều động tăng cường cho những  nơi có chiến sự ác liệt hơn. Anh thương binh Sơn Ưng nằm trong số những người được chuyển về tuyến sau bởi các vết thương đã ổn định. Khi chia tay Đội điều trị, thời gian quá gấp gáp khiến Sơn Ưng và Cô Y tá Ninh không thể “nói hết” những điều cần nói!… Tuy nhiên, như có một nhà thơ của thế hệ này đã viết: phút chia tay ta chỉ nắm tay mình / điều chưa nói thì bàn tay đã nói / người đi rồi hơi ấm còn ở lại / còn bồi hồi trên mỗi ngón tay ta… Và điều kỳ diệu bất ngờ đã xảy ra: chính vào cái thời khắc chia ly lưu luyến đó, sau câu nói cuối cùng của cô Y tá Ninh lúc chia tay: “Chúc anh nhanh chóng hồi phục sức khỏe và cầu Bồ Tát phù hộ cho đôi mắt của anh lại nhìn thấy ánh sáng như xưa”, thì như là có phép nhiệm màu, đôi mắt của Sơn Ưng lại bừng sáng!…
Sau đó, Sơn Ưng đã không “về tuyến sau” nữa mà tìm về đơn vị cũ, đơn vị của anh đang chuẩn bị chiến dịch lớn  mà Đại đội của anh được chọn là mũi nhọn xung kích!
* *
Mười năm sau,  cả Bác sĩ Thanh Nga và cô Y tá Trần Thị Ninh cùng chuyển về làm việc ở Bệnh viện Đa Khoa của tỉnh Bắc Ninh. Bác sĩ Thanh Nga đã lấy chồng, là một bạn học cũ, người yêu cũ, hiện là một Giám đốc một Sở của tỉnh. Còn Cô Y tá Trần Thị Ninh thì vẫn ngày ngày ngóng đợi anh chàng Sơn Ưng…Ngày ngày, cô giở cuốn sổ ghi chép của Sơn Ưng đã tặng cô lúc chia tay và đã đọc có tới hàng ngàn lần những đoạn nhật ký, những bài thơ anh đã chép vào cuốn sổ nhỏ, trong đó có bài thơ Đợi anh về mà cô đã thuộc lòng:
 Em ơi đợi anh về
Đợi anh hoài em nhé
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Em ơi em cứ đợi.

Tin anh dù vắng vẻ
Lòng ai dù tái tê
Chẳng mong chi ngày về
Thì em ơi cứ đợi!

Đợi anh hoài em nghe
Tin rằng anh sắp về!
Đợi anh anh lại về.
Trông chết cười ngạo nghễ.

Vì sao anh chẳng chết?
Nào bao giờ ai biết?
Có gì đâu em ơi
Chỉ vì không ai người.
Biết như em chờ đợi!…
* *
…Một ngày kia, có một người lính, đeo chiếc ba lô con cóc còn vương bụi đường, tìm đến Bệnh viện xin gặp cô Y tá Trần Thị Ninh. Nhận được tin, cô Y tá Ninh chạy như bay ra phòng thường trực, nhưng khi nhìn thấy người lính, cô đứng sững lại, bối rối vì đó không phải là anh lính Sơn Ưng của cô! Nhưng người lính kia cứ một mực tự nhận mình là Sơn Ưng và khẳng định cô Y tá Ninh chính là người mà anh cần tìm, chính là cô Y tá Thiên Thần Áo Trắng của Đội Điều trị dã chiến  nơi anh đã từng tới điều trị và chính cô đã cầu Bồ Tát cho đôi mắt của anh thoát khỏi sự bao phủ của bóng tối…Nói tóm lại, người lính nhất quyết khẳng định cô chính là người đã ước hẹn với anh ngày gặp lại hôm nay! Cô Y tá Trần Thị Ninh bàng hoàng kinh ngạc không hiểu tại sao lại có người lính này nói đúng mọi điều suy nghĩ của cô bao năm nay, nhất là khi anh còn hỏi cô có còn giữ quyển sổ nhỏ mà anh đã tặng cô lúc chia tay, trong đó có bài thơ Đợi anh về hay không?
Bác sĩ Thanh Nga cũng được gọi tới để “nhận diện” người lính tự nhận là Sơn Ưng này. Bác sĩ Thanh Nga nói với Ninh: “Về diện mạo thì rõ ràng người lính này không phải là cái anh thương binh Sơn Ưng ngày ấy đã điều trị ở Đội Điều trị của chúng ta. Nhưng những gì anh ta nói thì ngoài Sơn Ưng ra, không thể có người thứ hai!”. Cô Y tá Ninh nói: “Liệu có phải đây là một người đồng đội thân thiết của anh Sơn Ưng không? Anh Sơn Ưng đã kể hết mọi chuyện của mình cho những người đồng đội thì những người này “vào vai” Sơn Ưng có khó khăn gì?”. “- Nói như thế cũng phải, nhưng anh ta cứ nhất quyết rằng mình chính là Sơn Ưng thì thật là khó hiểu?”…
Hai người đang băn khoăn không biết làm gì thì một người lính khác, cũng như là vừa từ nơi chiến trường khói lửa trở về, tới Bệnh viện xin gặp cô Y tá Trần Thị Ninh và điều khiến cho Bác sĩ  Thanh Nga và cô Y tá Ninh lại một phen nữa phải kinh ngạc là người lính này cũng tự nhận mình là Sơn Ưng!…
Cả Bác sĩ Thanh Nga và cô Y tá Ninh quả là đã hoàn toàn bất lực và rối trí tới mức sẽ phát điên nếu như không có hai cô Y tá tên là Liên Hương và Lan Hương tới và cùng nói: “Người ta “vào vai” anh chàng Sơn Ưng rất giỏi thì chúng em cũng có thể “vào vai” cô Y tá Trần Thị Ninh còn đạt hơn bởi các chị nhìn lại chúng em xem có giống chị Ninh không?”. Khi cùng nhìn lại dung mạo của hai cô Y tá Liên Hương và Lan Hương, cả Bác sĩ Thanh Nga và cô Y tá Ninh đều phải giật mình sửng sốt khi thấy hai cô gái này thật là giống cô Y tá Ninh! Và đúng như dự đoán của Bác sĩ Thanh Nga, khi cho hai người lính kia, từng người tiếp xúc với Liên Hương và Lan Hương thì cứ như là họ mới xa nhau có vài ngày, vài tháng mà thôi! Họ không những nhận nhau ngay mà còn biểu lộ những cảm xúc rất mãnh liệt!…
* *
Sang ngày hôm sau, lại có hai người lính như hai người lính ngày hôm trước, tới Bệnh viện xin gặp cô Y tá Trần Thị Ninh và đều nhận mình là anh thương binh Sơn Ưng, người đã từng điều trị ở Đội Điều trị dã chiến của Bác sĩ Thanh Nga thời kỳ chiến tranh. Như là một sự phản ứng có sẵn, Bác sĩ Thanh Nga cho tập trung tất cả các cô Y tá của Bệnh viện và ngay lập tức, không khó khăn gì khi chọn ra được hai người khá giống cô Y tá Ninh! Và câu chuyện “Sơn Ưng nhân bản” rồi “Cô Y tá Ninh nhân bản” không biết sẽ đi tới đâu nếu như cô Y tá Trần Thị Ninh không nhận được điện thoại của gia đình anh lính Sơn Ưng báo tin: gia đình mới nhận được giấy báo tử của Ban chỉ huy Quân sự tỉnh nói rõ rằng Sơn Ưng đã hy sinh!…
* *
Bác sĩ Thanh Nga, nguyên mẫu của nhân vật Bác sĩ trong truyện ngắn này, hiện đã nghỉ hưu và đang là thành viên của một nhóm Đi tìm đồng đội, gồm toàn những cựu chiến binh từ sáu mươi tuổi trở lên . Câu chuyện về mối tình giữa anh thương Sơn Ưng và cô Y tá Ninh cũng là do Bác sĩ Thanh Nga kể, đến đoạn khi nhận được điện thoại của gia đình Sơn Ưng báo tin anh đã hy sinh thì cô Y tá Ninh xin nghỉ việc ở Bệnh viện, về nhà anh lính Sơn Ưng dự lễ truy điệu rồi vào chiến trường Tây Nguyên tìm hài cốt Sơn Ưng rồi từ đó không thấy tin tức gì cả…
Sau khi nghỉ hưu, Bác sĩ Thanh Nga quyết định đi vào Tây Nguyên để tìm cô Y tá Trần Thị Ninh vì chị thường được cô Y tá Ninh báo mộng rằng cô đã gặp nạn ở một khu rừng thuộc huyện Đăc Glây thuộc tỉnh Kon Tum. Tôi, tác giả của truyện ngắn này, ngẫu nhiên gặp Bác sĩ Thanh Nga ở huyện Đăc Glây khi còn làm báo và đi viết bài về Chương trình Nước sạch Nông thôn ở tỉnh Kon Tum khi Chương trình này còn do Sở Lao động-Thương binh và Xã hội tỉnh Kon Tum đảm trách. Khi tôi mới gặp Bác sĩ Thanh Nga, người phụ trách Chương trình Nước sạch Nông thôn nói: “Bà này còn sung lắm, trèo đèo lội suối còn hơn cả cánh Nước sạch Nông thôn chúng tôi…Nhưng hình như bà ta có biểu hiện của bệnh tâm thần phân liệt, đi vào những cánh rừng bạt ngàn, tìm một vật vô tăm tích, không gọi là tâm thần thì gọi là gì?”. Tôi đem ý ấy của người phụ trách Chương trình Nước sạch nói với Bác sĩ Thanh Nga thì chị cười bảo: “Bây giờ có chuyện ngược đời như thế đấy, người không biết gì về Y học thì lại chẩn bệnh cho Bác sĩ, cũng giống như chuyện người bạn tôi ở bên Viện Kiểm sát, kẻ phạm tội lại đi điều tra người tốt, quyết định số phận của người tốt!…Nếu anh có ý định viết về mối tình của anh lính lái xe tăng Sơn Ưng và cô Y tá Thiên Thần Áo Trắng Trần Thị Ninh thì hãy đợi tôi tìm được tung tích của cô Y tá Ninh đã!…Cầu Bồ Tát cho cô Y tá Ninh vẫn còn sống và sẽ tìm thấy hài cốt của anh lính Sơn Ưng!”…
Khi tôi gặp Bác sĩ Thanh Nga ở Đăc Glây là từ trước năm 2000. Tôi đợi từ đó đến nay đã hơn mười năm mà vẫn chưa thấy Bác sĩ Thanh Nga thông báo kết quả của cuộc kiếm tìm đó. Tôi nghĩ có lẽ vì lý do gì đó mà Bác sĩ Thanh Nga không muốn báo cho tôi biết kết quả. Nhưng vào những ngày cuối năm Con Trâu vừa rồi, tôi được Bác sĩ Thanh Nga gửi cho một Email với nội dung ngắn gọn như sau: “Đã tìm thấy cô Y tá Trần Thị Ninh hơn một năm nay, nhưng chưa báo cho anh biết vì kết cục rất buồn: cô Ninh bị lăn xuống vực, bị thương rất nặng, được người dân tộc Giẻ Triêng cứu sống nhưng đã bị mất trí nhớ hoàn toàn, đang chữa trị bằng mọi cách nhưng chưa có tiến triển gì!”. Kèm theo nội dung đó là một bức ảnh cô Y tá Trần Thị Ninh đang ngồi bên một thác nước: đó là một bà già tóc rất dài nhưng đã bạc trắng như thác nước, đang cười rất vô tư nên không thể  hiểu được một cách chính xác nụ cười đó có bao hàm ý nghĩa gì?
**
Khi tôi viết tới đoạn trên, có gửi cho Bác sĩ Thanh Nga đọc trước thì nhận được Email trả lời như sau: “Không hiểu sao tháng nay tôi bỗng nhớ nhớ quên quên, không nghĩ rành mạch được một chuyện gì cả. Nếu anh quan tâm thì tôi sẽ gửi cho anh mấy cuốn băng kể chuyện đời lính Quân Y của tôi, nhớ đâu kể đó…Hy vọng sẽ giúp ích cho anh khi viết về những người lính Quân Y chúng tôi!…”. Kèm theo nội dung Email là tấm ảnh chụp Bác sĩ Thanh Nga và cô Y tá Ninh: đó là hai bà già tóc trắng như mây và cùng cười, hai nụ cười đều rất vô tư nên rất khó đoán ý nghĩa!
Sài Gòn, Tháng 2-2010 
Đỗ Ngọc Thạch

ĐUA CHÓ 

Truyện ngắn ĐỖ NGỌC THẠCH

Ông Thành Công và bà Thi Đua đều là cán bộ Công Đoàn chuyên trách của một tỉnh miền núi phía Bắc và đều đã nghỉ hưu được hai năm. Năm đầu, hai ông bà còn phải lo giải quyết ngàn lẻ một công chuyện của thời kỳ “hậu viên chức” nên thực ra chẳng ngày gọi là được nghỉ ngơi theo đúng nghĩa của hai chữ này. Năm thứ hai mới là năm hai người thực sự “giành cho nhau”, tức “yêu nhau trăm phần trăm”! Bởi trước đây, hai người làm ở hai ngành và đều thường phải đi công tác cơ sở, mà ở cái tỉnh vùng cao núi non điệp trùng này, mỗi chuyến đi là mất đứt cả tuần, tức mỗi tháng hai vợ chồng chỉ thực sự gần nhau hai ba ngày sau mỗi chuyến đi công cán về. Mà ở nhà đâu chỉ có hai người, còn cha mẹ già và đàn con dại cứ quây lấy như đi đánh trận trong cảnh tứ bề thọ địch, nên mỗi lần vợ chồng gần nhau chỉ được năm mười phút! Tuy nhiên, cái cảnh hai vợ chồng già cứ suốt ngày cặp kè bên nhau thì mãi cũng chán! Vì thế, hết năm thứ hai nghỉ hưu thì cả hai người đều thấy buồn chán, đi ra đi vào hễ đụng nhau là cãi lộn, chẳng ai chịu thua ai dù chỉ một chữ, bởi cả hai người đều là cán bộ loại giỏi của Tuyên huấn Công đoàn tỉnh.
Về đường con cái, ông Thành Công và bà Thi Đua có thể hãnh diện với thiên hạ bởi cả bốn đứa con đều thành đạt, đứa thấp nhất là thằng út cũng là Thạc sĩ, còn toàn là giáo sư, Tiến sĩ. Chỉ có điều, con cái của ông bà đều tứ tán bốn phương, không đứa nào chịu về quê hương tỉnh nhà mà đứa gần nhất tức thằng út, cũng ở tận Sài Gòn, còn anh chị nó thì đều định cư ở nước ngoài, thằng cả ở Nga, thằng thứ hai ở Đức và cô con gái thứ ba thì lấy chồng và định cư luôn ở Pháp. Cả ba đứa con giờ đã là Việt Kiều đều muốn đón ông bà sang chơi rồi nếu thích thì ở luôn bên đó nhưng vốn là “dân Tuyên huấn” nên cả hai người đều gặp nhau ở ý tưởng: nước mình tuy nghèo nhưng ổn định, an toàn nhất thế giới, đừng có thấy người ta có cuộc sống hào nhoáng mà ham, chỉ cần một cú “bùm” (tức đánh bom liều chết) là tan thành mây khói hết!
Sang năm nghỉ hưu thứ ba, hai ông bà Thành Công và Thi Đua tính đến chuyện làm kinh tế, thứ nhất là tăng thu nhập, thứ hai là có lao động, làm việc thì sức khỏe mới tốt, mới có thể sống đến ngày nhìn thấy Việt Nam có tàu vũ trụ như xứ người! Nhưng hai người bàn tính nát nước mà vẫn chưa thể quyết là làm kinh tế kiểu gì, thuộc lĩnh vực nào, bởi cái nghề Tuyên huấn Công đoàn giúp hai ông bà biết tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội nhưng biết là biết ở “tầm vĩ mô” thế thôi, chứ đi sâu vào ngóc ngách của từng nghề nghiệp, từng lĩnh vực thì hai người đều chưa quen, tức không thể thành thạo như thợ lành nghề được! Trước đây, người ta thường nói “Một người biết lo còn hơn một kho người biết làm” là nói về những người như hai ông bà, lo cho đời sống của hàng trăm ngàn người lao động thì được nhưng làm một công việc gì đó cụ thể thì không ổn!
Cuộc bàn tính phương án “làm kinh tế ở tuổi về hưu” của hai ông bà Thành Công và Thi Đua có lẽ sẽ bàn thảo hàng năm, thậm chí hàng thập niên cũng chưa thể ngã ngũ nếu như không có sự xuất hiện của cậu con út. Người ta nói “Giàu con út, khó con út” quả là chí lý. Nhân chuyến đi tham quan Hàn Quốc về, cậu con út đã tới thăm bố mẹ. Sau khi nghe cả bố và mẹ nêu vấn đề, cậu út nói ngay: “Chúng ta không thể đánh trận trên bản đồ mà phải ở nơi chiến địa. Bây giờ bố và mẹ hãy đi cùng con vào Sài Gòn, thực tiễn thương trường sôi động sẽ nói cho ta biết phải làm gì và làm như thế nào?”. Cậu con út quả là đã thành “người Sài Gòn”, thế là ngay ngày hôm sau, tất cả ba người bay ngay vào phương Nam ngập nắng…
**
Tuy là “chân chạy” nhưng cả ông Thành Công và bà Thi Đua đều không mấy khi đi xa ra khỏi tỉnh nhà, có đi thì chỉ là đi họp hành, tham quan vài ba ngày trong “tâm thế” cưỡi ngựa xem hoa, cho nên ngay cả những tỉnh láng giềng kề cận, hai người cũng chỉ biết một cách “khái quát” chứ đừng nói tới những tỉnh thành ở miền Trung rồi miền Nam xa xôi, từ cảnh vật đến con người đều khác xa với mọi thứ đều như trong lòng bàn tay của tỉnh nhà. Nói đến miền Trung, ông bà chỉ hình dung qua câu ca dao “Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng mênh mông cát trắng / đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng cát trắng mênh mông…”. Đúng là “sống trong cát, chết vùi trong cát”, quả là phi thường! Còn nói đến miền Nam, ông bà cũng chỉ mường tượng qua cuốn sách rất hay của nhà văn miền Nam Đoàn Giỏi là “Đất rừng phương Nam” và mấy câu hát thuộc từ thời khăn quàng đỏ: “Miền Nam em dừa nhiều / miền Nam em dứa nhiều / miền Nam em xoài thơm / miền Nam em khoai bùi…”. Vợ chồng thằng út nói khi ông bà nghỉ hưu thì vào Sài Gòn ở với vợ chồng nó rồi chúng nó sẽ dẫn đi tham quan du lịch khắp nơi cho biết, nhưng cả ông và bà đều cho như vậy là quá xa xỉ, tốn kém, mình là viên chức nhà nước ăn lương, chỉ đủ sống là may, làm gì có thừa tiền mà đi du lịch khắp nơi?
Chính vì thế, bây giờ mới vào Sài Gòn - cái thành phố từng được mệnh danh là “Hòn ngọc Viễn Đông” - cả ông và bà đều thấy choáng ngợp. Tuy nhiên, sau một tuần được hai đứa cháu (con của thằng út) dẫn đi “thực tế” những địa danh nổi tiếng của Sài Gòn, hai ông bà Thành Công và Thi Đua đã quen dần với nhịp sống hối hả của cái thành phố năng động nhất nước này. Và rồi cái cảm giác choáng ngợp ban đầu chỉ còn một nửa bởi tới đâu hai người cũng đều thấy những hình ảnh rất quen thuộc, rất đặc trưng của Việt Nam mà ở tỉnh thành nào cũng có: đó là sự luộm thuộm, nhếch nhác, mất trật tự tới mức hỗn loạn của mọi nơi, mọi lúc và tâm trạng bất an luôn đè nặng lên những con người yếu đuối, bé nhỏ. Có lẽ bà Thi Đua sẽ không bao giờ quên được cái cảm giác bàng hoàng khi bà vừa mua cái ví xách tay rất đẹp, có bao nhiêu tiền mang theo bà cho hết vào, và đúng lúc bà vui sướng, mãn nguyện cầm cái ví tung tăng vừa đi vừa hát “Hôm nay em tới trường..” thì thật bất ngờ, như là có một bàn tay ma giật phăng cái ví trên tay bà và biến mất trong tích tắc!... Còn với ông Thành Công thì còn “đau hơn hoạn” khi ông đang vỗ về an ủi bà sau khi cái ví xách tay biến mất thì ông thấy có người vuốt cổ tay ông rất nhanh và cái đồng hồ Seiko rất đẹp, chạy rất đúng giờ của ông cũng biến mất, để lại cổ tay ông một vết xước rớm máu! Tuy sau đó, vợ chồng thằng út có “đền bù” cho bà một cái ví xách tay đẹp hơn nhiều và cho ông một cái đồng hồ mới có hạt xoàn đắt gấp năm lần cái đồng hồ cũ, nhưng cũng không xua tan đi được “nỗi buồn Sài Gòn” của cả ông và bà.
Thấy cha mẹ có vẻ “căm thù Sài Gòn” không tan, cậu út bèn xin nghỉ phép một tuần để đưa ông Thành Công và bà Thi Đua đi đổi gió, “xả xú-páp”: ba ngày lên rừng, tức lên Đà Lạt và ba ngày xuống biển, tức đi Vũng Tàu! Nhưng bà Thi Đua nói: “Đi hai nơi như thế tốn kém quá. Với lại núi rừng thì bố mẹ còn lạ gì. Vì thế ta chỉ nên đi tắm biển Vũng Tàu thôi!”. Ông Thành Công tán đồng ngay và nói với cậu út: “Mẹ con nói rất đúng! Dù cho các con có kiếm được nhiều tiền cũng vẫn phải nhớ phương châm Tiết kiệm là quốc sách”. Thế là quyết định đi Vũng Tàu. Hai đứa con cậu út bận học nên phải ở nhà, tất nhiên là cả mẹ nó cũng phải ở nhà với chúng. Chỉ có hai ông bà Thành Công, Thi Đua và cậu út đi Vũng Tàu mà thôi…
**
Đến Vũng Tàu, người chủ khách sạn là chỗ “chiến hữu” của cậu út, được cậu út “ủy nhiệm” cho việc “hướng đạo” chọn điểm đưa hai ông bà đi thăm thú, bởi “bụt chùa nhà không thiêng”. Người chủ khách sạn nói:
- Đến Vũng Tàu chúng ta không thể không đi tham quan các di tích Bạch Dinh, trận địa pháo núi Lớn, đỉnh Tao Phùng với tượng chúa Giesu, thắng cảnh Thích Ca Phật đài, rồi đùa giỡn với sóng biển thỏa thích!
Cậu út hỏi:
- Nghe nói có cái gì rất mới, độc nhất vô nhị, không đâu có cả?
Người chủ khách sạn nói ngay như là không chỉ với cậu út, ông Thành Công và bà Thi Đua, mà như đang thuyết trình trước một đám đông:
- Đến Vũng Tàu bây giờ, ngoài chuyện tắm biển và du ngoạn phong cảnh, ở thành phố biển xinh đẹp này còn có một môn giải trí độc đáo và hấp dẫn là đua chó, hay còn gọi là Greyhound Racing do sử dụng giống chó Greyhound. Giống chó này có đặc điểm cao, to, mõm nhọn, có tập quán săn bắt theo bầy. Đây là một giống chó săn có thể hình lý tưởng cho tốc độ, có thể đạt đến 60km/h. Môn đua chó giải trí do Công ty dịch vụ thể thao thi đấu giải trí (SES-VN) du nhập về Việt Nam, được chính thức cấp phép từ năm 2001 tại TP. Vũng Tàu, hiện là điểm duy nhất ở Việt Nam và Đông Nam Á. Người có công đưa môn thể thao giải trí độc đáo này về Vũng Tàu là một Việt kiều Úc, ông Nguyễn Ngọc Mỹ. Theo ông Mỹ, giống chó đua có tên Greyhound, là một loại chó săn có nguồn gốc từ Ireland, sau đó được người Úc nhân giống, rồi cung cấp cho trường đua chó Vũng Tàu và nhiều nước khác. Chó Greyhuond có thể đạt đến trọng lượng 22 - 30kg khi trưởng thành. Khi nhập về Việt Nam, mỗi con Greyhound có giá gần 2.000 USD. Hiện Công ty SES-VN đã nhân giống được chó Greyhound tại một trang trại ở TX. Bà Rịa, cũng là trung tâm huấn luyện chó đua và đang sở hữu khoảng 800 chú chó đua.
Chó đua khi mở mắt chào đời được theo dõi kỹ lưỡng trong khu sinh sản. Một bộ phận đặc biệt đặt tại TP Hồ Chí Minh bắt đầu làm khai sinh và đặt cho chó những cái tên rất... đẹp như Cát Tường, Chiến Phong, Phi Phụng, Hoàng Gia, Tiểu Phương, Hằng Nga, Phú Long... Một tháng sau, các “quý tử” rời khu sơ sinh để bước vào trại “thanh thiếu niên”. Ở đây, chúng được ăn uống theo chế độ “tăng cường sinh lực” (thịt kanguru và thức ăn khô hiệu Pedigree) để chóng lớn. Khi chó được 4 tháng tuổi, có trọng lượng từ 3 đến 14kg là thời điểm để các nhà chuyên môn bắt đầu tuyển chọn và huấn luyện thành chó đua với những bài tập rất khắt khe. Hàng ngày, chó được đưa vào hồ tắm để tập lội nước, được đưa ra đường chạy để tập đua, làm quen với trường đua, ánh đèn và tiếng ồn để không hoảng sợ khi bước vào đua chính thức có sự cổ vũ nồng nhiệt của khán giả... Sau 5 tháng huấn luyện, chó có thể tham gia đua và tuổi thọ đua được trong khoảng 4 năm. Nếu tính bình quân, mỗi “tay đua” có cơ hội “ra sân” hơn 100 lần trong đời, tức 1-2 tuần/lần. Trước ngày đua, chó được ăn khẩu phần đặc biệt, 2 bữa/ngày với 100 gr thịt kanguru (nhập từ Úc) và 100 gr thức ăn khô Pedigree; được massage trước và sau giờ thi đấu. Hàng tuần, khoảng 80 chó đua được chọn vào trường đua là sân vận động Lam Sơn ở TP Vũng Tàu. Chúng ta sẽ đến sân vận động Lam Sơn số 15 đường Lê Lợi để thưởng thức môn đua chó có một không hai ở Việt Nam, để cùng hồi hộp, thót tim với những bước chân của các “vận động viên” khuyển trong suốt 3 tiếng đồng hồ, từ 19 giờ 30 đến 22 giờ 30 tức 10 lượt đua. Sân vận động Lam Sơn được thiết kế vòng đua rộng 6 mét, từ khán đài, ta có thể quan sát được từng sải chân của các chú chó. Ôm theo vòng đua, người ta xây một đường trượt để cho một con “thỏ mồi” chạy phía trước. Do có mùi “đáng ghét” nên “thỏ mồi” này sẽ hút các “vận động viên chó” đuổi theo như trong một cuộc săn thật sự. Đường chạy cho chó cũng được chuẩn bị kỹ lưỡng. Quan trọng nhất là lớp cát phủ lên bề mặt. Cát được xử lý theo mẫu lấy từ trường đua của Úc: Không được mềm quá (chó sẽ bị lún, không chạy nhanh được) và cũng không được cứng quá (chân chó nếu bị trầy xước sẽ bị nhiễm trùng).
Sau khi phát lệnh, một con “thỏ mồi” được gắn trên đường trượt quanh đường đua sẽ chạy trước với tốc độ luôn nhanh hơn các chú chó nhưng khoảng cách không quá xa để các vận động viên chó đuổi theo. Mỗi vòng đua dài 450m, có 8 chú chó tham gia. Với quãng đường này, chó đua chạy hết 27-30 giây, với vận tốc gần 60km/giờ, nhanh hơn tốc độ của một vận động viên điền kinh. Con nào về đích trước thì sẽ thắng cuộc. Bên cạnh việc xem chó đua, nhiều người rất thích tham gia chương trình dự thưởng để cho cuộc đua thêm hồi hộp, hấp dẫn. Có 3 loại thắng giải áp dụng cho mọi đợt đua là Win, Exacta và Trifecta. Thắng nhất là Win nếu con chó mà bạn chọn về nhất. Thắng nhất, nhì (Exacta) là 2 con chó bạn chọn về nhất, nhì và thắng nhất-nhì-ba (Trifecta) là thắng đậm nhất nếu cả 3 con bạn chọn đều đứng về 3 thứ hạng đầu có thể bạn sẽ giành trọn tiền thưởng (tùy thuộc vào số người cùng chọn và số tiền dự thưởng). Trước khi chọn chó để đặt thưởng, chúng ta sẽ được phát một cuốn tài liệu có giới thiệu khá chi tiết về từng chú chó, từ những thành tích tốt, xấu đến tình trạng sức khỏe, cuộc đua gần nhất có tham gia… sẽ giúp ta dễ dàng quyết định chọn lựa. Cái cảm giác thăng hoa khi chú chó mà ta chọn thắng cuộc sẽ thực sự khiến chúng ta bùng nổ, kiểu như đội bóng mà ta yêu thích chiến thắng trong từng trận đấu. Trong khi chó đang trên đường chạy, người xem có thể thoải mái la hét, cổ vũ cho chú chó mình yêu thích, cũng là một cách giảm stress khá hiệu quả. Mỗi vòng đua có 8 con tham dự. Người xem có thể đặt cược tùy ý cho con về 1, cặp về 1-2 (đúng theo thứ tự), 1-2-3 ... Tỉ lệ ban đầu tùy theo thành tích trước đây mỗi con, và sẽ thay đổi theo số tiền thực tế người xem đang đặt cho đến khi bắt đầu đua. Ví dụ càng nhiều người cùng đặt cho một con về 1 thì tỉ lệ ăn của con này sẽ giảm dần, càng ít người đặt thì tỉ lệ càng cao. Sau khi các tay đua trình diện và vào chuồng, Nhà cái ngưng nhận đặt cược, bắt đầu vòng đua. Một con mồi giả hình con thỏ, màu đỏ chạy phía trước và các tay đua sẽ lao theo, như là một cuộc săn thỏ. Giá vé là 20.000 và 50.000 VND, 20.000 đồng là ngồi ở khu vực khán đài, 50.000 là khu vực VIP. Công ty SES-VN đã đầu tư 7 triệu USD cho mô hình này. Cho đến nay, đua chó ở Vũng Tàu vẫn là môn giải trí được xây dựng đầu tiên ở Đông Nam Á. Công ty SES-VN dự định đầu tư thêm 6 trung tâm kiểu này ở TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Cần Thơ...
Người chủ khách sạn quả là có năng khiếu thuyết trình, khiến cho hai vợ chồng ông Thành Công và bà Thi Đua vốn là những chuyên viên cao cấp của cái “nghề uốn ba tấc lưỡi” này cũng phải ngạc nhiên vì mình đã bị cuốn hút vào bài thuyết trình từ lúc nào! Và đến khi đặt chân vào sân vận động Lam Sơn, cả ông Thành Công và bà Thi Đua đều cảm thấy mình như là “người trong cuộc” chứ không còn là “người xa lạ” như dự cảm ban đầu nữa!

**

Sau chuyến đi Vũng Tàu, cậu út của ông Thành Công và bà Thi Đua đề xuất nhiều phương án “làm ăn” cho bố mẹ, mới nghe thì rất hay nhưng khi bàn kỹ thì không phương án nào khả thi! Xem ra, cậu út chỉ giỏi lý thuyết, đúng như cái chức danh giáo viên về kinh tế học mà cậu đang đảm nhiệm, tức cũng thừa hưởng nhiều cái tố chất “lý thuyết gia” từ bố và mẹ! Thực ra, sự vững chắc và có chiều hướng ngày càng khởi sắc của kinh tế gia đình cậu út là nhờ cả vào người vợ tài ba: chưa tới ba mươi tuổi mà đã là giám đốc chi nhánh một Ngân hàng lớn. Chờ cho cả ba người, tức ông Thành Công, bà Thi Đua và cậu út tới phút không biết nói gì nữa, bà Giám đốc trẻ mới nói: “Sao ta không biến dự định đầu tư thêm 6 sân vận động đua chó mà Công ty SES-VN chưa thực hiện được thành hiện thực? Con tin rằng nếu bố và mẹ triển khai cái trò đua chó ở ngoài Bắc như ở Vũng Tàu thì sẽ thắng lớn. Trước mắt, ta chỉ khởi động một vòng đua với một tốp 8 vận động viên chó đua Greyhound, sau đó sẽ tăng dần lên. Vốn đầu tư con sẽ lo hết!”. Như mọi khi, nghe Giám đốc vợ vừa nói dứt lời, cậu út đã reo lên như là trúng số đặc biệt! Còn ông Thành Công và bà Thi Đua thì không biết nói sao bởi trong đầu hai người cứ hiện ra không thôi cái hình ảnh những vận động viên chó đua Greyhound đang phi như đoàn kỵ binh của Thành Cát Tư Hãn!...
Cô con dâu Giám đốc là “con người hành động” nên những lời nói của cô sau ba ngày đã thành “một nửa hiện thực”: 8 vận động viên chó đua Greyhound đã được “đóng đai đóng kiện” đưa ra gửi ở toa tàu chở động vật trên tàu Thống nhất để đi ra Bắc. Còn việc ông Thành Công sẽ làm Giám đốc cái “Công ty đua chó” (đó là gọi vắn tắt, còn khi khai trương ra mắt trước bàn dân thiên hạ thì nó cũng sẽ có một cái tên đầy đủ dài dòng như ở Vũng Tàu: Công ty dịch vụ thể thao thi đấu giải trí) ấy như thế nào thì cô con dâu Giám đốc đã cho một trợ thủ của mình biệt phái ra giúp khoảng một tháng, mọi việc sẽ đâu vào đó!
**
Ngồi trên con tàu Thống Nhất trở ra Bắc, không hiểu sao đầu óc ông Thành Công cứ như bị một bàn tay bí ẩn nào đó sắp xếp lại vị trí của các dây thần kinh? Rồi ông liên tục gặp những ác mộng, mà toàn là những câu chuyện không đầu không cuối? Phải mãi khi con tàu qua cố đô Hoa Lư, tức địa phận tỉnh Ninh Bình, cơn ác mộng mới hiện ra một cách thứ tự, lớp lang rõ ràng, nhưng sao mà thật kinh hoàng? Khi tàu tới ga Thường Tín, tức ngoại thành Hà Nội, cơn ác mộng kinh hoàng ấy lại hiện ra, khiến ông toát mồ hôi, ôm chặt lấy bà vợ mà nói như rên: “Không được hại vợ tôi!... Không được hại…vợ…tôi!...”. Bà Thi Đua thấy ông chồng mình như vậy thì hốt hoảng, vừa lay vai ông, vừa hỏi dồn: “Ông làm sao vậy? Ông gặp ác mộng gì? Ai hại tôi?”. Ông Thành Công vẫn hoảng sợ ôm chặt lấy bà vợ, úp mặt vào ngực vợ như muốn lẩn trốn những hình ảnh ma quái trong cơn ác mộng. Và khi ông nghe rõ tiếng tim vợ đang đập dồn như trống làng thì ông bừng tỉnh và nói với bà Thi Đua: “Chúng ta xuống tàu ngay! Tôi muốn tránh xa cái con tàu này, ở toa súc vật có 8 con chó Greyhound!”. Có vẻ như bà Thi Đua đã đoán ra cái gì đã làm ông chồng mình khiếp sợ như vậy: 8 con chó Greyhound! Bà liền nhanh nhẹn dìu ông Thành Công xuống ga Thường Tín và thuê một chiếc Taxi đưa ông về nhà…
Phải gần một giờ sau, ông Thành Công mới hoàn toàn tỉnh táo. Bà Thi Đua hỏi ngay: “Ông nhìn thấy gì trong cơn ác mộng?”. Ông Thành Công giật mình thảng thốt nhìn bà vợ rồi ôm chặt lấy bà, nói nhỏ: “Tôi nhìn thấy 8 con chó Greyhound ấy nó làm trò đồi bại với bà!”. Vừa nói xong, ông Thành Công lại ngất xỉu trên tay bà Thi Đua!
**
Ngay ngày hôm sau, cô con dâu giám đốc gọi điện ra hỏi thăm và báo ba ngày nữa thì người trợ lý sẽ bay ra. Ông Thành Công liền nói với cô con dâu: “Bỏ dự án đua chó ấy đi vì người không thể sống chung với chó! Cũng như vậy, bố vẫn giữ quan điểm người không thể sống chung với lũ!”. 

Đỗ Ngọc Thạch