Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2011

Top 10 truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch - Trích: Mẹ Đốp;... chim đa đa; ...sinh ba


Top 10 truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch - Trích: Mẹ Đốp;... chim đa đa; ...sinh ba

Thư mục: truyện ngắn
  http://static.baomoi.vn/Uploaded/2010_02_16/132/3870711.jpg  Truyện ngắn Đ.N.Thạch  http://www.vietstamp.net/data%5C2008%5C07%5C25%5C23264927_product.jpg
Top 10 truyện ngắn Đ.N.T: Trích: Mẹ Đốp;...chim đa đa; ...sinh ba
http://hoagao.net/image.php?u=35&dateline=1314173078Tranh Bùi Xuân Phái

Mẹ Đốp

Thứ tư, 05 Tháng 10 2011 02:34 TRUYỆN - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
“Chiềng làng chiềng chạ / Thượng hạ Tây Đông / Con gái Phú Ông / Tên là Mầu Thị / Tư tình ngoại ý/ mãn nguyệt có thai / Già trẻ gái trai/ ra đình mà ăn khoán…”
– Đó là lời rao của Mẹ Đốp về vụ Thị Mầu hoang thai bị làng phạt vạ trong vở Chèo cổ Quan Âm Thị Kính. Song, hầu như ngày nào, dân làng xã Đoài Trung cũng được nghe những lời đó, từ Mẹ Đốp. Song, đây không phải là nhân vật Mẹ Đốp trong vở Chèo mà là Mẹ Đốp hiện đang sống ở Làng Đoài Trung. Tại sao lại có sự trùng hợp về tên gọi và tại sao Mẹ Đốp ngày nay lại cứ đọc lại cái câu trong lời đi rao khắp Làng của nhân vật Mẹ Đốp trong vở Chèo? Những người mới đến Làng Đoài Trung thường hỏi bà Tỏi, chủ quán nước ở đầu Làng như vậy và được bà giải thích khá cặn kẽ như sau:
Mẹ Đốp là một cô gái xinh đẹp nhất nhì cái Làng Đoài Trung, tên thật là Đào, khi tuổi trẻ thích tham gia văn nghệ, đặc biệt là hát Chèo, nên đã được chọn vào đội Chèo của xã Đoài Trung. Đội Chèo của xã tuy không hoạt động chuyên nghiệp, tức chỉ khi có Hội diễn của Huyện, của Tỉnh hoặc ngày Lễ lớn, ngày Tết…đội mới tập họp mọi người lại, tập luyện dăm ba hôm rồi lên sân khấu. Tuy thế, lần nào có Hội diễn, Đội Chèo của Xã cũng đoạt huy chương không Vàng thì Bạc. Riêng cô Đào, là một trong những diễn viên xuất sắc của Đội Chèo, đặc biệt là khi cô sắm vai Mẹ Đốp. Một lần, cô Đào vào vai Mẹ Đốp thì “lọt mắt xanh” ông Lê Văn Xã, người sắm vai Xã Trưởng. Ông Lê Văn Xã hiện đang giữ chức Phó chủ tịch UBND Xã Đoài Trung, chuyên trách công tác văn hóa, thông tin, tuyên truyền, các vấn đề xã hội…gọi tắt là Phó Chủ tịch phụ trách Văn – Xã. Ông Lê Văn Xã đã có vợ con nhưng vẫn không chịu “yên bề gia thất” mà nổi tiếng trăng hoa, đa tình. Khi cô Đào đang vào vai Mẹ Đốp, ông Lê Văn Xã đang vào vai Xã Trưởng thì ông chợt phát hiện ra vẻ đẹp quyến rũ không thể cưỡng lại của Mẹ Đốp mà lâu nay mải vui thú đâu đâu, ông “có mắt mà như mù”! Thế là sau buổi diễn đó, ông Lê Văn Xã lập tức “gửi Mẹ Đốp nuôi giùm một đứa con”!...

Song, Mẹ Đốp (tức cô Đào), là người mắn đẻ, lại gặp hôm “mát giời” nên không chỉ “đẻ giùm” ông Xã Trưởng (tức ông Lê Văn Xã) một đứa con mà tới những ba đứa con! Nếu cứ đúng như Lệ Làng thì cô Đào sẽ bị Làng phạt vạ, như trong chính vở Chèo mà cô đã diễn nhiều lần, hoặc có thể nặng hơn, nhưng ông Lê Văn Xã đang là Phó Chủ tịch UBND Xã, lại sắp lên thay chức Chủ tịch UBND Xã do Chủ tịch đương nhiệm được thăng chức lên Phó Chủ tịch UBND Huyện, do đó, chuyện to thu lại thành nhỏ, chuyện nhỏ coi như không có! Tuy nhiên, Mẹ Đốp (tức cô Đào) là người “đau khổ” suốt đời : tuy không bị phạt vạ, nhưng ông Lê Văn Xã đã “nuốt lời”, không ly dị vợ để cưới cô như đã thề bồi rất tha thiết khi muốn “gửi con” nơi cô, nên cô phải sống trên “búa rìu dư luận” mà nuôi ba đứa “con hoang”! Việc cô Đào phải quần quật nuôi ba đứa “con hoang” khiến cho nhan sắc cô tàn phai, sức cô cạn kiệt… Và khi ba đứa con (đều là con trai) lên mười tuổi thì cô Đào trở nên người ngớ ngẩn, ngày nào cũng đi khắp Làng, vừa gõ cái mõ đã mòn bóng, vừa rao: Chiềng Làng chiềng chạ / Thượng Hạ, Tây Đông…
Sự đời, có những cái xảy ra ngoài sức tưởng tượng của con người và lúc đó, người ta không thể cắt nghĩa được, không thể giải thích được, nên đành gọi là chuyện lạ ! Cũng giống như trong Y học, có những căn bệnh mới xuất hiện mà những thứ thuốc hiện có không có tác dụng, thầy thuốc không biết tại sao lại như thế, đành bó tay và gọi đó là bệnh lạ ! Mẹ Đốp (tức cô Đào) sau hai tháng khùng khùng, điên điên, thỉnh thoảng lại đi khắp Làng gõ mõ hát rao “Chiềng Làng chiềng chạ / Thượng hạ Tây Đông…”, bỗng trở nên thay đổi khiến dân Làng ngỡ ngàng: Tiếng rao của Mẹ Đốp như là những chuỗi âm thanh huyền hoặc, kỳ ảo và có sức mê hoặc hồn người đến không thể cưỡng nổi! Khi nghe tiếng rao của Mẹ Đốp, người nghe đứng ngây ra, bất động và như hóa đá! Chính vì những người nghe đã bị mê hoặc đi như thế nên hầu như không có ai nhận ra rằng: Mẹ Đốp (tức cô Đào) đã không còn cái thân hình tiều tụy như lúc mới điên khùng nữa mà như vừa lột xác để trở lại như cô Đào của mười năm trước!...

Khi ba đứa con sinh ba của Cô Đào là nhận ra sự biến đổi kỳ lạ đó ở người mẹ của chúng, chúng bèn hỏi mẹ: “Mẹ ơi, cha của chúng con đâu?”. Người Mẹ nói: “Cha của các con là anh Mõ!”. Ba đứa trẻ không hiểu “Anh Mõ” nghĩa là gì, bèn đi hỏi bà Tỏi, chủ quán nước ở đầu Làng. Bà Tỏi nói: “Anh Mõ là chồng Mẹ Đốp, đúng là như vậy, nhưng đó là trong vở Chèo. Còn ở Làng ta, từ rất lâu đã bỏ cái chức danh Mõ rồi! Biết tìm anh Mõ ở đâu bây giờ?”. Ba đứa trẻ thấy Bà Tỏi mà không biết thì có lẽ chẳng ai biết cả, bèn thôi không đi hỏi nữa. Vả lại từ lúc chúng sinh ra đời, chúng có thấy người cha bao giờ đâu?

Tuy nhiên, câu chuyện không dừng lại ở đó. Ba đứa trẻ không đi tìm Anh Mõ, tức cha của chúng nữa nhưng một thời gian sau thì có người tự xưng là Anh Mõ đến gặp ba đứa trẻ và nói: “Ta chính là Anh Mõ, là cha của các con đây!” Ba đứa trẻ hỏi: “Ông nói ông là Anh Mõ, vậy lấy gì làm bằng chứng?”. Người kia liền lấy trong cái túi vải đeo lủng lẳng dưới nách ra một cái mõ bằng gỗ đã nhẵn bóng mà rằng: “Các con hãy coi đây! Đây chính là cái mõ ta vẫn dùng hàng ngày khi còn làm công việc của anh Mõ!”. Một đứa trẻ nói: “Vậy ông hãy vừa gõ mõ vừa đọc câu rao như mẹ tôi xem sao?”. Người kia liền gõ mõ “Cốc, cốc…” và đọc:
Chiềng làng chiềng chạ / Thượng hạ Tây Đông / Con gái Phú Ông / Tên là Mầu Thị / Tư tình ngoại ý/ mãn nguyệt có thai / Già trẻ gái trai/ ra đình mà ăn khoán!...
Ba đứa trẻ thấy người này đọc và gõ mõ đúng như mẹ nó vẫn làm thì có vẻ như muốn tin đó là Anh Mõ thật, liền cử một đứa đi tìm mẹ. Cô Đào, tức Mẹ Đốp, tức mẹ của ba đứa trẻ, lúc này đang nấu cơm ở nhà, nghe con nói như thế thì bảo: “Có vẻ như đúng đấy. Bố con lúc nhỏ là con của một thằng Mõ. Khi lớn lên thì Làng không còn cái chức danh Mõ nữa mà gọi là văn hóa-thông tin. Nhờ làm văn hóa – thông tin xã mà đã tán tỉnh được mẹ, khiến mẹ xiêu lòng. Nhưng ông ta nuốt lời, không cưới mẹ, để mẹ phải chịu cảnh chửa hoang, may mà không bị phạt vạ như nhân vật Thị Mầu. Nghe nói ông ta đã leo lên cái chức Trưởng phòng văn hóa-thông tin Huyện, rồi lên nữa tới Giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin. Sao bây giờ lại tự nhận là Anh Mõ? Lại có chức danh Anh Mõ sao? Thế còn cái Sở Văn hóa-Thông tin thì sao?”. Đứa con sốt ruột, hỏi: “Vậy bây giờ chúng ta phải làm sao? Có cho ông ta vào nhà gặp mẹ không?”. Người mẹ liền nói: “Thôi được, cho ông ta vào, nhưng phải kiểm tra cái dấu hiệu này đã. Nếu đúng là ông ta, cái ông Xã trưởng đĩ tính ấy thì ở trên cái “thằng bé” rất dài của ông ta có tới hai cái nốt ruồi son! Có lẽ chính vì thế mà ông ta nổi tiếng “sát gái”!”.
Đứa con nghe nói vậy thì chạy ra ngoài cổng, nơi hai người anh em của nó và người kia đang đứng đợi. Nó nói với hai đứa anh em của nó phải kiểm tra như thế, như thế!...Sau khi hai đứa anh em của nó “kiểm tra” xong thì nói: “Không phải hai nốt ruồi mà có tới ba cái!”. Nghe hai người anh em nói vậy, đứa con lại chạy vào nói với người mẹ như thế, như thế! Người mẹ nghe nói vậy thì giật mình nghĩ bụng: “Mới có hai cái nốt ruồi mà đã “sát gái” như thế thì nay có tới ba cái tất sẽ rất kinh hoàng, ta làm sao mà chịu nổi? Nhưng nếu không cho ông ta nhận con thì ba đứa trẻ tội nghiệp kia sẽ suốt đời không cha hay sao?”. Người mẹ liền hỏi đứa con: “Mẹ hỏi câu này, con cứ nói thật. Con có thích cho cái ông kia nhận làm bố hay không?”. Đứa con nói ngay: “Mẹ thích thì con cũng thích, mẹ không thích thì sao con lại dám trái ý mẹ, con cũng không thích!”. Người mẹ cười quặn bụng hồi lâu rồi mới nói: “Mẹ có ý này, ra nói với hai anh em của con nữa, cùng thuận theo ý mẹ thì ta quyết ngay: Nếu ông ta đồng ý làm “Thái giám” thì sẽ cho làm bố, làm chồng, nếu không thì …“Tiễn khách”! Nhớ là không để ông ta cò cưa, năn nỉ nữa!”. Đứa con lại chạy ra nói với hai người anh em ý muốn của mẹ. Cả ba anh em đều tán đồng theo ý mẹ ngay mà không tranh cãi gì. Khi ba anh em nói với người đàn ông kia như thế, như thế thì ông ta nói ngay: “Dù bất cứ điều kiện như thế nào, tôi cũng đồng ý!”. Ba anh em liền dẫn người đàn ông kia vào nhà gặp mẹ. Khi hai người gặp lại nhau, người mẹ nói: “Nói là nói vậy, nhưng tôi vẫn chừa cho ông một con đường để mà hối cải! Cái án “hoạn quan” cứ treo đó, nếu như ông thật lòng thành tâm hối cải thì có thể cho qua!”. Người kia nghe nói vậy thì lạy tạ ơn rối rít và hứa sẽ hết lòng với bốn mẹ con. Người mẹ lại nói: “Danh có chính thì ngôn mới thuận. Dù thế nào, ông cũng phải làm cái lễ cưới hỏi đàng hoàng chứ không thể khơi khơi đến nhà người ta rồi ngồi chễm chệ trên ghế ông chồng, ông bố được!”. Người kia nói: “Tôi đã bị cái án kỷ luật mất sạch chức tước, tài sản cũng bị bà vợ già lấy hết, không cho một đồng chinh cắc bạc thì làm sao…”. Người mẹ nói ngay: “Ông không phải lo chuyện tiền bạc mà chỉ lo làm tốt các thủ tục, nghi thức cho vẹn toàn! Coi như tôi cho ông thiếu nợ!...”.
Ở những người tốt, có lòng vị tha thì dễ mủi lòng mà tha thứ, cho dù tội lỗi kia có trầm trọng tới đâu. Chính vì biết cô Đào, tức Mẹ Đốp là con người dễ mềm lòng nên ông Văn Xã, tức Xã Trưởng đã triệt để khai thác “điểm yếu” đó của cô Đào và được cô Đào tổ chức đám cưới đàng hoàng, thậm chí rất dềnh dang vì cả Làng ai cũng mến cô Đào, đến dự đám cưới cô và ông Văn Xã rất đông, có thể nói là vui như Hội. Mọi người còn yêu cầu cô dâu tức cô Đào và chú rể tức ông Văn Xã diễn lại trích đoạn Chèo “Mẹ Đốp, Xã Trưởng”, khiến cho cả Làng lại được một phen cười nghiêng ngả…

Thực ra, ông Văn Xã bị án kỷ luật mà mất chức tước ở Sở Văn hóa-Thông tin, trở về xã làm nhiệm vụ “Thằng Mõ”, tức chuyên trách nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền đường lối chủ trương, chính sách của Nhà nước, là rất “đúng người, đúng việc” bởi ông Văn Xã không chỉ có tài diễn vai Chèo Xã Trưởng trong lớp Chèo “Mẹ Đốp, Xã Trưởng”, mà ông còn có tài làm ca dao, hò vè, thơ Bút Tre…khiến cho ai đọc “thơ ca” của ông cũng cười nôn ruột! Nói cho công bằng thì cái Tài của ông Văn Xã ở đây là tài nhại, tài bắt chước ca dao, hò vè dân gian, thơ Bút Tre…Song, làm được như thế cũng không phải dễ dàng gì, ai không tin thì cứ thử mà xem, sẽ tắc tị ngay mà thôi!...

Sau đám cưới, ông Văn Xã có vẻ như “tu chí làm ăn”, một lòng với vợ con, nên Ông Trời thương tình cho cô Đào đẻ được ba đứa con nữa, cũng lại sinh ba! Giờ thì cô Đào không phải một mình nuôi con hoang nữa mà ông Văn Xã đã thể hiện là một người cha tốt! Đi đâu, gặp ai, ông Văn Xã cũng nói: “Làm một người cha tốt quả là không hề dễ dàng, song làm được một người cha tốt thì thật là hạnh phúc, thật mãn nguyện!”

Bây giờ, ai đến Làng Đoài Trung, vào ngày thường, sẽ được tận mắt mục kích “Thằng Mõ” hành nghề thực sự, đâu ra đó, chứ không chỉ là “chuyện ngày xưa”. Nhiệm vụ “Thằng Mõ” này thường là do ông Văn Xã thực hiện, thi thoảng ông Văn Xã đau yếu, bệnh tật thì do Mẹ Đốp, tức cô Đào, thực hiện. Còn nếu đến Làng Đoài Trung vào những dịp có Lễ Hội, sẽ được xem diễn trích đoạn Chèo “Mẹ Đốp, Xã Trưởng” do cô Đào và ông Văn Xã trình diễn. Trình độ nghệ thuật của hai nghệ sĩ dân gian này đã đạt tới mức không thể bình luận mà chỉ có một cách là bị cuốn hút vào “Mê Hồn Trận Cười” để rồi vỗ tay tới mỏi tay thì thôi!...
Một lần, cô Đào đang “thay chồng làm việc quan” như trong vai trò “Mẹ Đốp”, thì thấy hai đứa học trò, áng chừng lớp mười một, mười hai rồi, cứ lẽ đẽo “bám đuôi”. Cô Đào nghĩ, chẳng lẽ lại có kiểu “người hâm mộ” như thế sao? Cô Đào bèn quay lại, tóm hai “cái đuôi” hỏi cho ra nhẽ! Thì ra đó là hai học sinh lớp 12 của Trường Huyện, sẽ vào vai Mẹ Đốp và Xã Trưởng trong trích đoạn Chèo này, muốn đến gặp đích danh “Mẹ Đốp” để nhờ làm “Đạo diễn”, vì đợt Hội diễn Văn nghệ sắp tới sẽ có tất cả các trường Trung học Phổ thông của Tỉnh tham gia, và nghe nói đã có tới gần chục trường chọn trích đoạn “Mẹ Đốp, Xã Trưởng” làm bài thi! Cô Đào nghe nói xong thì ôm chầm lấy hai đứa học trò khiến hai đứa như ngạt thở!...Khi đã bình tâm trở lại, cô Đào nói: “Đó là ta đã truyền công lực cho hai em rồi đó! Giờ thì theo ta đi tuyên truyền phòng chống dịch cúm H5N1! Nếu như bà con ai cũng hiểu được bệnh cúm H5N1 là gì và phòng chống như thế nào thì coi như hai em đã thành công!”. Hai đứa học trò liền Bái sư và cùng với cô Đào, tức “Mẹ Đốp” đi khắp Làng!...

Kết quả đợt Hội diễn văn nghệ là hai đệ tử của cô Đào đã đoạt Huy chương Vàng. Lúc hai đệ tử nhận giải thưởng, cô Đào tới chúc mừng và nói: “Hãy nhớ là chỉ làm Mẹ Đốp trên sân khấu thôi nghe! Không được lẫn lộn giữa sân khấu và cuộc đời!”. Nhưng cả hai đệ tử lúc đó đâu có nghe rõ những lời dặn dò, cho nên chỉ sau nửa năm, đệ tử gái vào vai Mẹ Đốp đến gặp Sư phụ với những giọt nước mắt lã chã: “Sư phụ!...Thằng Xã Trưởng nó gửi con cái Thai này rồi biến đâu mất rồi!”. Cô Đào biết nói sao với đệ tử bây giờ bởi cô đang là cô gái của hai mươi năm trước!...
Sài Gòn, tháng 1-2010.
Đỗ Ngọc Thạch
< Lùi Tiếp theo >
 

Sự tích chim đa đa

Chủ nhật, 16 Tháng 10 2011 15:15 TRUYỆN - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
chimdadaTiểu Ngũ là con trai út trong một gia đình có năm anh chị em: anh cả, tên là Công Nhất, anh sinh ra lúc người bố, tên là Quan Gia, lập được công trạng đầu tiên, được thăng chức Trưởng phòng của Sở Nông nghiệp, tên anh được đặt như vậy để kỷ niệm bước khởi đầu con đường quan chức của người bố.

Sau khi lên chức Trưởng phòng, ông Quan Gia ly hôn người vợ trước ở quê với lý do đây là người vợ “Tảo hôn”, hơn ông tới năm tuổi để cưới cô Thục Nữ, con gái của ông Chủ tịch Tỉnh, cũng là Kỹ sư Nông nghiệp, làm việc cùng phòng (thực ra, bà vợ trước cũng không phải là bình dân mà là con gái rượu của ông Chủ tịch Huyện khét tiếng một vùng…). Đầu năm cưới, cuối năm sinh được cậu con trai, đặt tên là Tiến sĩ, bởi lúc này ông Quan gia đang mơ cái bằng Tiến sĩ, bởi nếu không có nó, con đường quan chức của ông chỉ dừng ở cái chức Trưởng phòng - cái chức quan “Bé như hạt vừng” (dân miền Nam gọi là hạt Mè) này mà thôi. Quả nhiên, “cầu được, ước thấy”, người vợ mới của ông Quan Gia tuy “không đẹp” như Hoa Hậu, Hoa Khôi nhưng lại có tướng “Vượng phu ích tử”, tức nuôi con thì hay ăn, mau lớn, giúp chồng một lúc hai kết quả : vừa có bằng Tiến sĩ, vừa lên chức Phó giám đốc Sở. “Thừa thắng xốc tới”, năm sau người vợ tốt tướng lại sinh cho ông Quan Gia người con gái giống mẹ như hai giọt nước và giúp ông lên chức Giám đốc Sở, vì thế người con gái có tên là Nữ Giám… Người xưa có câu “Thấy bở đào mãi”, quả không sai. Ngồi lên cái ghế Giám đốc Sở chưa ấm chỗ, ông Quan Gia đã thấy “cái Sở như là ao tù chật chội”, ông nói với vợ: “Phu nhân quả là Thần May mắn của ta! Mỗi lần phu nhân đẻ con cho ta, quả nhiên ta lại có tài lộc lớn! Mang nặng đẻ đau, phu nhân phải chịu vất vả cực nhọc! Nhưng ta còn phải leo lên cái chức Phó chủ tịch Tỉnh, rồi Chủ tịch Tỉnh nữa. Vì thế, Phu nhân phải đẻ cho ta hai đứa con nữa!”. Bà Thục Nữ nghe nói vậy thì vui lắm, mười phần hưng phấn cho nên sau đó đẻ liền hai đứa con nữa, đứa chị đặt tên là Nữ Chủ, còn thằng em, không hiểu sao lại nhỏ bé hơn các anh chị tới gần một lạng khi chào đời, nên đặt tên là Tiểu Ngũ!... Tuy nhiên, sau khi hai chị em Nữ Chủ và Tiểu Ngũ đã cứng cáp thì ông Quan Gia lên chức Phó chủ tịch Tỉnh và cái chức Chủ tịch Tỉnh, nghe nói chỉ còn chờ một vị “Thượng Quan” ký duyệt, chặng đường quan chức này chưa hết chục năm!
Thời gian thoi đưa, năm người con của ông Quan Gia “lớn nhanh như thổi” và thành đạt như diều gặp gió! Khi Công Nhất, Tiến Sĩ, Nữ Giám, Nữ Chủ và Tiểu Ngũ mới gần tới tuổi ba mươi thì cả bốn người anh chị của Tiểu Ngũ đã có đầy đủ mọi thứ của một “Con người thời đại”: Bằng cấp cao, chức vụ lớn! Duy chỉ có Tiểu Ngũ là cứ dở ngây dở dại, lúc tỉnh lúc khùng, không ai biết thế nào!
*
Vào một ngày Mùa Đông đẹp trời, ông Quan Gia nói với vợ: “Hôm vừa rồi, tôi ngẫu nhiên đọc tập truyện Cổ tích của mấy đứa cháu con thằng Cả, thấy có chuyện “Sự tích Chim Đa Đa” hay lắm!”. Bà vợ nói: “Tôi đọc truyện Cổ tích đó cho mấy đứa cháu nghe chứ ai? Nhưng tại sao tự nhiên ông lại nói tới cái chuyện “Sự tích chim Đa Đa”? Hay là ông đang Cải lão hoàn đồng?”. Ông Quan Gia nói: “Cải lão hoàn đồng thì chưa nhưng tôi có ý này: Thằng Tiểu Ngũ nhà mình đã gần ba mươi tuổi mà cứ “Mãi mãi tuổi Nhi đồng” như thế thật không hay! Nó vừa làm chúng ta mất thì giờ vừa cản trở, kìm hãm sự phát triển, thăng tiến của tôi và các anh, chị nó!... Chi bằng chúng ta học theo truyện cổ tích, cho nó hóa thành chim Đa Đa lại là tốt cho nó!”. Bà vợ ông Quan Gia đã hiểu ý ông chồng: đem thằng con Tiểu Ngũ ngô nghê kia vào rừng sâu để cho nó “hóa thành chim Đa Đa”! Tuy cũng thương con như bao người mẹ khác, nhưng bà vợ ông Quan Gia luôn coi lời ông chồng là “Chiếu chỉ” và phải thực hiện bằng mọi giá! Vì thế, ngày hôm sau, bà cho gọi hai cán bộ Kiểm Lâm tới nói: “Mấy giáo sư hàng đầu về Thần kinh học nói với tôi rằng muốn chữa bệnh “ngớ ngẩn” cho thằng Tiểu Ngũ nhà tôi thì phải cho nó vào rừng tắm trong thác nước lớn nhất một tuần liền! Vậy tôi nhờ hai anh ngày mai đưa nó vào tới thác nước rồi bảo nó chui vào trong thác mà tắm, là các anh xong việc! Sau một tuần, tôi sẽ cho người tới đón!”.
Hai người cán bộ Kiểm lâm nghe xong thì không hiểu “đầu cua tai nheo” thế nào, bèn về nhà hỏi vợ thì cả hai bà vợ đều nói: “Có thế mà không hiểu gì à? Thằng con ngớ ngẩn ấy sẽ bị bỏ đói ở trong rừng sâu và sẽ chết rồi hóa thành con chim Đa Đa! Anh quên cái chuyện Cổ tích Sự tích chim Đa Đa rồi sao?”. Hai anh chồng Kiểm Lâm chợt nhớ lại nội dung cái chuyện Cổ tích Sự tích chim Đa Đa thì vô cùng kinh ngạc và cùng nói với hai người vợ: “Tôi không thể làm như thế, nhưng không thể không chấp hành lệnh của Bà Chủ tịch Phu nhân! Hãy nói cho tôi cái cách vẹn toàn?”. Tức thì hai bà vợ cùng nói: “Cách vẹn toàn là “Quân lệnh như sơn”! Làm xong nhiệm vụ thì báo cáo lại rõ ràng, chính xác!”. Hai anh cán bộ Kiểm Lâm làm theo lời vợ, ngày hôm sau, đưa Tiểu Ngũ vào rừng, tới đúng chân thác nước dội xuống tung bọt trắng xóa thì bảo Tiểu Ngũ chui vào dòng thác mà tắm rồi chụp liền ba kiểu ảnh đem về báo cáo với Bà Quan Gia Phu nhân!...
Khi Tiểu Ngũ đứng giữa dòng thác thì dòng nước như là mạnh lên gấp bội và cuốn phăng cái anh chàng Ngù ngờ ấy đi theo dòng sông cuộn chảy ở ngay dưới chân thác!... Dòng nước đã cuốn cái anh chàng Tiểu Ngũ ngu ngơ kia tới đâu thì hai người cán bộ Kiểm Lâm không biết được bởi sau khi bấm vội ba kiểu ảnh Tiểu Ngũ đang đứng trong dòng nước lấp loáng, thì cả hai đã chạy thật nhanh khỏi khu vực thác nước!...
*
Thực ra Tiểu Ngũ bị  dòng nước cuốn đi băng băng như một khúc gỗ và bị quăng quật mỗi khi gặp phải chướng ngại vật nào đó. Thông thường, chỉ bị nước cuốn đi khoảng hai kilômét thì không ai còn có thể sống nổi. Tiểu Ngũ cũng sẽ như thế nếu không được một con sóng đánh dạt vào bờ sau khi đã trôi trong dòng nước sục sôi khoảng hai kilômét. Chỗ Tiểu Ngũ được dòng nước quăng lên bờ cát lại đúng chỗ mà người dân vùng này gọi là Bến Tiên: ngay bên bờ sông, bỗng có một chỗ lõm vào như một cái hồ nước xinh xinh, xung quanh hồ, xâm xấp bên mép nước là những tảng đá cuội to bằng tấm phản, trên mặt tảng đá nhẵn bóng, tương truyền do các Nàng Tiên đã thường xuyên đến ngồi tắm ở đó!
Lúc Tiểu Ngũ lạc vào Bến Tiên thì chỉ có một cô gái đang tắm ở đó! Cô gái là con của vợ chồng người đánh cá bên sông, tên gọi Sơn Nữ. Cô Sơn Nữ đã cứu sống anh chàng Tiểu Ngũ ra sao không ai biết nhưng khi cô Sơn Nữ đưa anh chàng Tiểu Ngũ về nhà giới thiệu với cha mẹ thì đó không còn là một anh chàng Tiểu Ngũ ngớ ngẩn nữa mà là một chàng thanh niên khôi ngôi tuấn tú, phong thái đĩnh đạc như văn nhân tài tử. Duy chỉ có điều là chàng thanh niên không còn nhớ mình là ai, từ đâu tới! Bố mẹ Sơn Nữ nói với cô: “Trí nhớ của anh ta đã bị xóa sạch khi bị quăng quật qua khúc sông lắm thác ghềnh đó! Song, thân thể anh ta còn nguyên vẹn thì quả là chuyện xưa nay hiếm! Quả là Ông Trời đã thương tình nhà ta neo người, cha mẹ đã già yếu và hiếm muộn nên ban cho người con trai này! Vậy con muốn gọi anh ta là Đại Ca hay là…” Bố mẹ Sơn Nữ chưa nói hết câu thì Sơn Nữ đã nói ngay: “Đó không phải là Đại Ca mà chàng chính là Phu quân của con! Bố mẹ chẳng phải là đã rất mong cho con có chồng hay sao?”. Thế là sau đó, chàng Tiểu Ngũ và cô Sơn Nữ làm lễ cưới, họ trở thành vợ chồng. Ngày ngày, Tiểu Ngũ ra sông đánh cá với cha vợ, khi chiều buông, họ lại trở về sống quây quần bên nhau trong ngôi nhà tranh dưới chân núi thanh bình!... Sẽ không có chuyện gì xảy ra nếu như người con trai lớn của ông Quan Gia là Công Nhất không trúng thầu dự án xây dựng Khu du lịch sinh thái, bao gồm toàn bộ vùng thượng lưu của con sông Kim Giang này - con sông mà anh chàng Tiểu Ngũ đang cùng bố vợ ngày ngày đánh cá kiếm sống!...
*
Một buổi sáng, khi cô Sơn Nữ đang thơ thẩn trong rừng để kiếm cây thuốc thì gặp một tốp người lạ, - đó chính là Đoàn khảo sát thực địa của Dự án Khu du lịch Sinh Thái Bồng Lai. Tốp người khảo sát thực địa đó gồm có hai anh em Công Nhất và Tiến Sĩ, lúc này Công Nhất là Giám đốc Khu Du lịch sinh thái Bồng Lai, còn Tiến Sĩ đang là Giám đốc một Công ty Du lịch và Khách sạn, hai anh em đang hùn vốn “làm ăn” ở vùng đất còn chưa in dấu chân người này. Cùng đi với hai anh em Công Nhất và Tiến Sĩ là ba người chuyên ngành đo đạc, bản đồ.
Vừa thoáng nhìn thấy bóng Sơn Nữ, Tiến Sĩ nói với Công Nhất: “Cứ bảo đây là vùng núi rừng hoang sơ, chưa in dấu chân người, sao em vừa nhìn thấy bóng hình mỹ nhân ẩn hiện đằng kia?”. Công Nhất ngạc nhiên nói: “Thì người của bên ngành Lâm nghiệp nói vậy mà! Không thể nào? Em có bị hoa mắt không đấy?”. Tiến Sĩ: “Mắt em rất tinh, nhất là nhìn người đẹp!”. Công Nhất: “Nếu vậy thì chỉ có thể là Tiên Nữ giáng trần hoặc Hồ Ly tinh giả dạng! Dù sao thì chúng ta cũng phải bắt cho bằng được!...Tất cả theo tôi!”. Công Nhất vừa dứt lời thì cả năm người lăm lăm súng ống trong tay, bám theo Công Nhất len lỏi trong rừng…
Lại nói về Sơn Nữ, khi thấy tốp người của Công Nhất và Tiến Sĩ ở trong rừng thì chạy nhanh về nhà. Lúc đó, cả bố mẹ Sơn Nữ và Tiểu Ngũ đều còn ở nhà, đang chuẩn bị đồ nghề để ông bố và Tiểu Ngũ đi đánh cá. Nghe Sơn Nữ nói có tốp người lạ xuất hiện trong rừng, ông bố Sơn Nữ nói: “Quả nhiên đêm qua bố nằm mộng thấy Thần Rừng nói sẽ có một bọn người tới phá khu rừng này!”. Tất cả đều giật mình hoảng sợ, nhìn nhau không biết nói gì! Một lúc sau, Sơn Nữ nói: “Vậy chúng ta phải làm gì bây giờ? Con nhất định không để cho bọn người xấu đó phá rừng!”. Ông bố trầm ngâm giây lát rồi nói: “Tất nhiên là không thể ngồi yên nhìn bọn chúng phá rừng. Nhưng trước hết phải biết đích xác xem bọn chúng định làm gì? Năm xưa, cũng có một Đoàn khảo sát của mấy người địa chất đến ngắm nghía, đo đạc này nọ nhưng rồi họ có trở lại nữa đâu? Cầu cho họ chỉ như những người địa chất kia!”. Sơn Nữ nói: “Không thể chỉ cầu như vậy được! Con phải đi xem họ là ai, định làm gì ở đây!”. Ông bố thở dài rồi nói: “Thôi được! Vậy thì hai vợ chồng con đi thám thính xem sao. Nhưng nhớ là không nên để cho họ nhìn thấy!”. Nói rồi Tiểu Ngũ và Sơn Nữ đi nhanh vào rừng, thoáng cái bóng hai người đã lẫn vào màu xanh của đại ngàn!
*
…Khi còn cách tốp người lạ khoảng hơn năm chục mét, Sơn Nữ và Tiểu Ngũ dừng lại, nấp sau một lùm cây quan sát tốp người lạ. Lúc đó đã gần trưa, khu rừng tràn ngập nắng. Tốp người chừng như đã thấm mệt mà vẫn không tìm thấy Sơn Nữ nên đã “hạ trại” nghỉ ngơi ăn uống…
Sơn Nữ và Tiểu Ngũ vẫn đang chăm chú nhìn tốp người đang ngồi trên một tấm vải bạt trải rộng, đang vừa ăn uống vừa nói cười ầm ĩ. Tất nhiên là với khoảng cách xa như thế, Sơn Nữ không thể nghe thấy họ đang nói chuyện gì. Nhưng khi thấy Tiểu Ngũ đang chăm chú nhìn tốp người kia và như là đang lắng nghe câu chuyện của họ, Sơn Nữ ngạc nhiên hỏi: “Tiểu Ngũ, anh nghe thấy họ đang nói chuyện với nhau à?”. Tiểu Ngũ nói: “Không nghe thấy, nhưng nhìn cử động của họ và nhất là nhìn môi họ mấp máy, tôi như “đọc” được những lời nói của họ!”. Sơn Nữ nghe nói vậy thì ngạc nhiên hết sức, hỏi dồn: “Vậy anh thấy họ đang nói gì, họ là ai, đang định làm gì, anh nói lại cho Sơn Nữ nghe, nhanh lên!”. Tiểu Ngũ thong thả nói: “Người mặc áo xanh, đeo kính đen (chính là Công Nhất) kia như là chỉ huy của nhóm người này. Ông ta vừa nói có lẽ không tìm thấy Mỹ Nhân đâu, ăn uống xong thì rút quân kẻo bị lạc trong rừng thì khốn! Còn người mặc áo đỏ, đeo kính trắng (chính là Tiến Sĩ) thì nói, phải tìm một lúc nữa, để mất dấu Mỹ Nhân thì tiếc quá! Ba người mặc quần áo đồng phục kiểm lâm thì chỉ lo ăn uống, không thấy nói gì!...”. Sơn Nữ nói: “Đúng là lúc nãy người đeo kính trắng kia đã thoáng nhìn thấy em! Thì ra họ đang đuổi theo dấu vết của em!...Họ đang nói gì nữa, anh nói lại đi!”. Tiểu Ngũ tiếp tục “thông dịch”: “Hai người áo xanh kính đen và áo đỏ kính trắng nói với nhau nhiều chuyện lắm, còn chuyện liên quan tới khu rừng này thì “tóm tắt” lại là: họ sẽ làm một con đường lớn tới Thác nước, bên cạnh thác nước sẽ xây một khu nhà nghỉ dưỡng và khách sạn, toàn bộ khu rừng này từ thác nước mở rộng ra tới mười kilômét đều thuộc Khu du lịch sinh thái do Công ty Bồng Lai quản lý!...”
Khi nghe Tiểu Ngũ nói đến chỗ toàn bộ khu rừng thuộc thượng nguồn con sông Kim Giang này sẽ nằm trong tay Công ty Bồng Lai, Sơn Nữ tưởng chừng như muốn ngất xỉu!...
*
Sơn Nữ và Tiểu Ngũ càng “nghe lén từ xa” câu chuyện của hai anh em Công Nhất và Tiến Sĩ, càng hết chịu nổi và họ đã chủ động xuất đầu lộ diện, hy vọng sẽ ngăn cản mọi ý đồ của Công ty Bồng Lai đối với khu rừng này. Song, khi Tiểu Ngũ gặp hai người anh của mình là Công Nhất và Tiến Sĩ thì sự việc lại xảy ra ngoài sự tưởng tượng của họ: cả Công Nhất và Tiến Sĩ đều mừng rú khi nhìn thấy cậu em út Tiểu Ngũ không những còn lành lặn nguyên vẹn mà dường như đỏ da thắm thịt hơn trước khi bị “lạc trong rừng” rất nhiều, ngay cả miếng ngọc bội đeo ở cổ Tiểu Ngũ có khắc hai chữ Tiểu Ngũ cũng còn nguyên. Tại sao họ lại vui mừng như vậy, bởi họ không hề biết “Kế hoạch Sự tích chim Đa Đa” của hai vợ chồng ông Quan Gia đối với Tiểu Ngũ!...
Khi Công Nhất, Tiến Sĩ, Tiểu Ngũ và Sơn Nữ về tới cổng nhà ông Quan Gia thì thấy trong sân rất đông khách. Hỏi ra mới biết, có một vị “Quan Khâm sai” từ Thủ đô đem quyết định bổ nhiệm chức vụ Chủ tịch Tỉnh tới cho ông Quan Gia, và có rất nhiều quan chức, Đại gia trong Tỉnh do “thính tai” và “nhạy bén chính sự” đã ngay lập tức tới chúc mừng!... Khi mấy anh em vừa bước tới khoảng giữa sân thì từ cửa ra vào căn nhà, cả hai vợ chồng ông Quan Gia đã nhìn thấy mấy anh em hớn hở đi vào. Nhưng, khi vừa nhìn thấy Tiểu Ngũ thì cả hai vợ chồng ông Quan Gia cùng giật mình kinh hoàng và nhìn nhau và cùng nói: “Thằng Tiểu Ngũ nó đã hóa thành chim Đa Đa rồi cơ mà?!” Không ai nghe thấy câu nói đó của vợ chồng ông Quan Gia, trừ Tiểu Ngũ!... Khi nghe thấy bố, mẹ mình nói như vậy, Tiểu Ngũ đã hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện và cậu dừng lại giữa sân, kéo Sơn Nữ lại gần và nói: “Anh phải trở về rừng để hóa thành con chim Đa Đa!... Anh không muốn làm bố, mẹ phải phiền lòng!”. Nói rồi, Tiểu Ngũ cầm tay Sơn Nữ đi nhanh ra khỏi cái sân đang đông nghẹt người với những lời chúc tụng ồn ào!...

Sài Gòn, 2005-2009
Đỗ Ngọc Thạch
< Lùi Tiếp theo >
 

Chị em sinh ba

Thứ sáu, 25 Tháng 11 2011 15:40 TRUYỆN - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
sinh_baÔng Trung Dũng  đã  là cán bộ giảng dạy ở một trường đại học nhưng sau khi bọn Mỹ đánh bom B52 xuống Hà Nội  thì có đợt  tuyển quân  rất lớn, ông  Dũng nhập ngũ vào đợt đó.
Ông  Dũng tuy đã gần ba mươi tuổi nhưng vẫn chưa lấy vợ vì hai  lý do : phụng dưỡng mẹ già (gần bảy mươi) và chờ lấy được cái bằng Tiến sĩ ! Nhưng sau khi nhập ngũ, lương cán bộ giảng dạy bị thay bằng phụ cấp của anh binh nhì, khiến cho cuộc sống của người mẹ già gặp khó khăn. Mẹ  ông Dũng nói :

-   Đất  nước có chiến tranh, làm trai không thể không cầm súng ra trận, bất  kể ai ! Con cứ yên tâm đi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, không phải lo gì cho mẹ cả ! Mẹ sống ngần này cũng là đủ rồi, nếu bố con gọi mẹ đi thì cứ để mẹ đi !

   Ông Dũng nghe mẹ nói vậy nhưng ông hiểu mẹ lúc nào cũng muốn ông cưới vợ để bà có cháu bế, có điều bà cụ nói quá nhiều mà không kết quả gì nên giả lơ đi mà thôi. Điều đó vào thời điểm này thì thật là cần thiết, vì vợ ông sẽ chăm sóc bà cụ thay cho ông . Nghĩ vậy, ông Dũng nói với mẹ :

-  Mẹ ơi, nếu con để mẹ ở nhà thui thủi một mình thì chẳng phải là bất hiếu lắm sao ? Bây giờ thì con thấy mẹ bảo con phải lấy vợ là rất đúng . Con muốn lấy vợ để vợ con ở nhà chăm sóc mẹ và đẻ vài đứa con cho mẹ có cháu bồng bế !

    Bà mẹ nghe nói vậy thì mừng lắm, gọi điện thoại cho ông em trai đang làm việc ở Viện nghiên cứu  Đông Y, bảo đến gặp bà gấp để bàn chuyện lấy vợ cho thằng Dũng . Về chuyện lấy vợ cho ông Dũng , bà mẹ và ông cậu đã bàn tính với nhau từ rất lâu nhưng không sao thuyết phục được ông Dũng nghe theo . Cô dâu mà ông cậu đã chọn cho ông Dũng  tên là  Sơn, Sơn ở đây phải đọc là San, có nghĩa là ba, vì cô là con gái thứ ba trong một gia đình có bốn chị em toàn là gái. Cô Sơn đã hai mươi sáu tuổi, hiện đang là lương y trung cấp của Viện Đông Y.  Cô dâu hai mươi sáu tuổi, không còn trẻ nữa, nhưng thực ra cô đã là cô dâu từ lúc hai mươi  tuổi, tức chị em bà mẹ và ông cậu đã chọn cô cho ông Dũng  từ sáu năm trước, lúc ông  Dũng mới tốt nghiệp đại học !  Cô Sơn tuy không có vóc dáng theo tiêu chuẩn của các người mẫu, hoa hậu nhưng với các nhà chiêm tinh, tướng số thì không chê vào đâu được : cô Sơn có tướng cách đặc biệt quý hiếm của người đàn bà Vượng  phu ích tử : xung quanh lườn, da thịt nổi lên đều đặn như một cái đai buộc quanh bụng, còn gọi là  “Ngọc đới yêu vi”.  Suốt sáu năm qua, ông cậu vẫn tìm đủ mọi cách để  “giữ phần” cho đứa cháu của mình vì ông rất am hiểu tướng số, rất hiểu những người ham đọc sách, ham làm việc, nghiên cứu  khoa học như cháu ông  thì phải chọn người vợ như thế nào ! Ngoài cái  “Ngọc đới yêu vi”, cô Sơn còn có dáng người đậm đà, khỏe mạnh, đôi nhũ hoa nở căng, cân đối và có cả nốt ruồi son, cực quý !  Đám cưới được cử hành ngay, và  tuần trăng mật phải dồn lại trong có đúng ba ngày phép (đó là các sĩ quan của trại huấn luyện tân binh rất linh hoạt đối với ông Dũng). Bảy ngày dồn lại ba ngày, đương nhiên cường độ làm việc cũng phải tăng lên ! Để cho chắc ăn, bà mẹ và ông cậu quyết định khóa cửa nhốt cô dâu và chú rể từ lúc động phòng cho đến hết  ba ngày  phép ! Bà mẹ ngồi cầu Trời khấn Phật đúng ba ngày ! Bà khấn cầu rất thành tâm, bà khấn rằng : “Xin Phật  Tổ  Như  Lai quyền năng vô biên phù hộ độ trì cho con trai tôi là Hoàng Trung Dũng có được kết quả mỹ mãn : vợ nó  thì sinh quý tử, nó thì tránh được mũi tên hòn đạn nơi chiến trường ! Xin Quan âm Bồ Tát trăm tay ngàn mắt nhón tay làm phúc, cho vợ thằng Dũng nhà tôi nó sinh đôi, sinh ba vì lẽ ra chúng nó đã thành vợ chồng sáu năm rồi, sáu năm ấy chắc cũng  đã sinh được ba đứa con rồi ! Giờ xin Bồ Tát bù đắp cho chúng nó !...”  Trong ba ngày liền, bà mẹ cứ nói những lời cầu khấn như thế, lẽ nào Phật  Tổ  Như Lai và Quan âm Bồ Tát lại không nghe thấy ?

      Quả nhiên, cả Phật Tổ Như Lai và Quan âm Bồ Tát đều nghe thấy lời cầu khấn thành tâm của bà mẹ già hiền lành đức độ, đúng chín tháng bảy ngày, tính từ ngày ông Dũng ra đi, cô Sơn đã sinh ra ba đứa con rất khỏe mạnh, xinh đẹp như ba nàng tiên, tất nhiên là sinh con gái ! Để ghi nhớ công ơn của Phật Tổ Như Lai và Quan âm Bồ Tát, ba cô con gái được đặt tên là  San  Như, San Lai và San Bồng (Bồng ở đây từ chữ Bồ Tát mà ra, còn có nghĩa là chốn Bồng Lai – nơi ở của tiên Phật ) !

     Nói về ông Dũng, trong thời gian huấn luyện tân binh, quân lực  đã xếp ông vào danh sách đào tạo tiếp ở một trường sĩ quan Trung – Cao nước ngoài. Nhưng có một sự nhầm lẫn đáng tiếc đã  xảy  ra : Có một ông tướng về hưu cũng có con nhập ngũ trong đợt  tuyển quân đó, cũng tên là  Hoàng Trung  Dũng (ở nước ta, con trai được đặt tên là Hùng , Dũng, Thắng, Việt, Nam nhiều hơn hẳn những tên khác !), chỉ  khác ở chỗ cậu con trai ông tướng về hưu kia mới là sinh viên năm thứ nhất, vì  thế ông muốn con ông  phải là một người lính  thực thụ, tức là phải cầm súng ra chiến trường như chính ông thời trai trẻ, chứ không phải là làm lính cậu,  tức chỉ mặc áo lính, còn lại  đi học ở nước ngoài ! Vì  thế, ông đã gọi điện cho một ông bạn thân ở Bộ Tổng Tham mưu, điều ngay thằng con Hoàng Trung  Dũng của ông vào một đơn vị đang chuẩn bị hành quân vào chiến trường miền Nam !  Ông bạn ở bộ Tổng Tham mưu liền gọi điện cho bộ phận quân lực phụ trách  tuyển quân, vị quân lực lại gọi điện tới trại huấn luyện tân binh. Đúng lúc đó, Hoàng Trung Dũng chú rể vừa hết phép đã về tới trại huấn luyện tân binh. Người sĩ  quan phụ trách trại huấn luyện tân binh vừa nhận được điện thoại “Cho Hoàng Trung Dũng về Bộ Tổng Tham mưu gặp tướng  X gấp” thì liền nhìn thấy Hoàng Trung Dũng chú rể tới ! Như là một phản ứng tự nhiên của một người có tác phong quân sự nhanh nhẹn, thần tốc, người sĩ quan phụ trách trại huấn luyện tân binh liền nói với Hoàng Trung Dũng chú rể :

-   Thánh thật ! Nói  tới  Tào Tháo là Tào Tháo xuất hiện ! Bộ Tổng Tham mưu có lệnh triệu tập gấp đích danh đồng chí Hoàng Trung Dũng , do đích thân Tướng X  ra lệnh ! Vậy đồng chí hãy đến bộ Tổng Tham mưu ngay, xin gặp Thiếu Tá Quân là trợ lý của Tướng X ! Chắc là có nhiệm vụ đặc biệt, đồng chí hãy đi ngay !

    Hoàng Trung Dũng chú rể liền đi ngay, nhưng khi đến Bộ Tổng Tham mưu thì Tướng X lại bận việc, không gặp Hoàng Trung Dũng được mà bảo người sĩ quan trợ lý là Thiếu Tá Quân đưa Hoàng Trung Dũng đến ngay đơn vị bộ binh đang chuẩn bị hành quân vào Nam, giao Hoàng Trung Dũng  cho Tướng Y là Tư lệnh trưởng đơn vị đó ! Thế là chỉ sau hai tiếng đồng hồ từ lúc Hoàng Trung Dũng  chú rể xa vợ, xa mẹ, ông đã nhập vào một đơn vị bộ binh hành quân thần tốc vào chiến trường!... Cuộc hành quân thần tốc đó đưa ông  Dũng vào trung tâm của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử sau đó, nhưng  khi đơn vị ông đến cửa ngõ Sài Gòn  thì ông đã hi sinh anh dũng, như đúng tên gọi của ông . Lúc đó, tức ngày 27-4-1975, ba cô con gái của ông Dũng vừa  tròn hai tuổi  !...

* * *

   Sau này, khi ba cô con gái đã lớn, bà Sơn thường nói với chúng rằng : “Mẹ và bố các con chỉ sống vợ chồng với nhau được đúng ba ngày nhưng tình nghĩa rất sâu nặng, duyên số đã có từ kiếp trước ! Việc bố các con bị điều động  nhầm vào chiến trường rồi hi sinh, đó là sự nhầm lẫn khó tránh khỏi của Thần hộ mệnh, ai cũng có lúc nhầm lẫn, sơ sẩy, dù là Thần tiên, Phật Tổ đi nữa ! Bù lại, bố con đã được đề nghị tuyên dương  Anh hùng quân đội, đó là một niềm vinh dự rất lớn mà ít người có được ! Đến đời các con chắc chắn sẽ hanh thông may mắn hơn đời bố, mẹ ! Tuy thế, cũng phải có dự liệu trước, nhất là chuyện chồng con, rút kinh nghiệm, chuyện chồng con phải giải quyết đầu tiên, đến tuổi qui định là cưới chồng ngay !

    Khi nghe bà mẹ nói vậy, cả ba cô con gái cùng cười rồi đồng thanh nói to :

-   Chúng con không lấy chồng ! Chúng con muốn ở với mẹ suốt đời !

     Khi ba chị em tròn mười tám, cũng là lúc sắc đẹp tuổi xuân của ba cô rực rỡ nhất. Vóc dáng của ba cô có nhiều nét giống mẹ, cũng có quý tướng “Ngọc đới yêu vi”, nhưng sắc đẹp thì vượt  trội  khác thường . Vẻ đẹp của ba cô là vẻ đẹp của Thúy Vân trong Truyện Kiều :  “Khuôn trang đầy đặn nét ngài nở nang / Hoa cười ngọc thốt đoan trang / Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”. Biết bao văn nhân, tài tử, có cả quan chức, doanh nhân ngấp nghé ba chị em ! Bà mẹ thấy vậy thì nói với các con :

-  Bây giờ các con đều đã vào đại học, chuyện học hành không thể xem nhẹ, nhưng nếu không dứt điểm chuyện chồng con thì sẽ hỏng cả hai !

    Cả ba cô con gái cùng nói :

-  Ý mẹ là thế nào ? Cùng một lúc tiến hành cả hai à ?

Người  mẹ cười :

-  Thế là các con hiểu đúng ý mẹ rồi đó ! Lấy chồng xong thì việc học hành sẽ tốt hơn ! Các con phải nhớ câu  “Thuận vợ thuận chồng biển Đông  tát cạn” ! Có chồng hỗ trợ việc gì cũng xong !

Cô chị cả San Như nói :

-  Lỡ chồng nó bắt đẻ hoài thì học sao được nữa ?

Cô thứ hai nói tiếp:

-  Như thế thì chồng của chúng con phải có ít nhất ba tiêu chuẩn : Trình độ từ đại học trở lên, hình thức phải là một trang nam nhi  khôi ngô, tuấn tú và hạnh kiểm, đạo đức phải đạt điểm mười !  Trời ơi, thời buổi này kiếm đâu ra một người trai chưa vợ như vậy, mà ba chị em chúng con thì cần phải có ba người !

San Lai vừa dứt lời thì San Bồng nói như có ý kết  thúc :

-  Vậy là cuối cùng chúng con sẽ chỉ  ở  với mẹ được thôi !...- Người mẹ nhìn ba chị em chúng nó ôm nhau mà cười muốn vỡ nhà, ngoài miệng bà nói muốn chúng nó lấy chồng sớm đi nhưng nhiều lúc bà tự hỏi : Khi cả ba đứa cùng đi về nhà chồng thì bà sẽ chịu sao nổi sự cô đơn của người đàn bà đã ở vậy nuôi con mười tám năm trời ! Song nghĩ đến cái cảnh  đã lấy chồng  muộn lại chỉ được sống  cảnh vợ chồng đúng ba ngày của mình, bà lại củng cố quyết tâm cho chúng nó lấy chồng ngay trong năm thứ nhất của sáu năm học đại học (cả ba cô con gái bà Sơn đều học trường Y ).

    Lại nói về ba chị em San Như, San Lai và San Bồng. Ba chị em  có ngoại hình giống nhau đến từng tiểu tiết và tư tưởng, tình cảm nói chung cũng rất giống nhau nhưng những cái gọi là “tự do cá nhân”, “sở thích riêng tư” thì lại rất  khác biệt. Chẳng hạn khi ăn cơm, cô chị cả dứt khoát phải có  canh,  nếu không nấu canh cô lấy nước uống chan vào cơm ; còn cô thứ hai dứt khoát phải có nước chấm bằng nước mắm có chanh, ớt, tỏi đầy đủ, nếu không có nước chấm như thế, cô không ăn nổi một bát cơm ; cô em út lại khác hẳn hai cô chị, ở  bữa cơm chính, cô chỉ đụng  đũa mỗi thứ một lần, cơm cũng chỉ một bát, nhưng lúc ăn “tráng miệng” thì mới lúc cô làm  việc thực sự : chục quả chuối, ba quả táo to, một hũ sữa chua, một cái bánh bông lan loại sinh nhật, vài thanh sôcôla và một li sữa cũng chưa làm cô vừa bụng ! Ba cô ba sở thích riêng đó cộng với  điểm chung giống nhau là cả ba cô đều ăn rất khỏe đã khiến cho bà mẹ khá vất vả khi phải một mình nuôi con !  May mà bà Sơn “mát  tay” nhất nhì Viện Đông Y, phàm những ca bệnh nan y, khó chữa từ tứ xứ tìm về, bà đều chữa khỏi hoặc thuyên giảm rất nhiều. Vì  thế, bệnh nhân của bà ơn bà như Bồ Tát, thành tâm dâng lễ tạ ơn rất nhiều, có người đã khỏi bệnh đến hơn chục năm, dù ở rất xa, hàng năm nếu có dịp đều đến nhà bà dâng lễ tạ ơn. Thấy bà nhân từ, phúc hậu và không hề tính toán tiền nong, có tới mười đại gia hùn tiền xây nhà cho bà, một căn nhà hai lầu có sân, vườn rất đẹp !...Vì thế, có thể nói cuộc sống  kinh tế của ba chị em khá sung túc. Lại nhờ có được di truyền  thông minh, học giỏi của người bố, cả ba chị em đều học rất giỏi, chia nhau vị trí nhất, nhì , ba trong lớp và vào đại học cũng vậy !

    Trong khi bà mẹ cố công tìm kiếm người ưng ý để gả chồng cho ba cô con gái thì ba cô dường  như không hề để tâm đến chuyện chồng con ! Dường như ba cô con gái thừa hưởng hầu hết những đức tính tốt đẹp của người bố : hiếu thảo, hiếu học. Mặc dù mẹ các cô chưa tới năm mươi tuổi nhưng cả ba cô đều lo chăm sóc mẹ rất tận tình, chu đáo : các cô chia nhau đưa đón  mẹ đi làm ở Viện Đông Y, làm hết những công việc nội   trợ,  thậm chí thấy mẹ hơi nhức đầu, sổ mũi là xúm vào thuốc men…Còn việc học, ngoài việc học  rất  tốt chương trình của trường Y, các cô còn học thêm hai ngoại ngữ, tin học, võ thuật…

   Ngoài những cái chung đó, ba cô gái, mỗi  cô có một biệt tài riêng ở mức hơn hẳn người bình thường. Cô chị cả San Như có biệt tài xem bệnh: chỉ cần nhìn sắc diện và bắt mạch một người nào đó, cô chẩn đoán tình trạng bệnh lý một cách chính xác khiến cho mẹ cô và nhiều danh y cao niên phải thán phục hết sức! Cô thứ hai San Lai thì có sức khỏe phi thường: lúc ba tuổi cô đã có sức bóp nát quả cam như người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản thời Nhà Trần, lên mười tuổi cô đã có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh của Hạng Võ thời Hán Sở tranh hùng bên Tàu! Còn cô em út Sơn Bồng có khả năng ngoại  cảm kỳ lạ: năm lên sáu tuổi, tức năm l979, ở Hà Nội mà cô đã mô tả cuộc chiến tranh biên giới khá chính xác trước khi nó xảy ra đúng một tháng (song chẳng ai tin nổi điều này ngoài mẹ cô và hai người chị em sinh ba). Đặc biệt, cô có con mắt xanh giống như nhân vật Nguyễn Tịch ở Trung Quốc vào đời Tấn: khi tiếp khách, hễ vui vẻ, thiện cảm với ai thì nhìn thẳng lộ ra đôi tròng đen và cặp mắt xanh, còn hễ khinh bỉ, giận dữ ai thì nghiêng ngó trợn ngược để lộ ra hai tròng trắng! Vì thế, mẹ cô và hai người chị em chỉ cần nhìn vào mắt cô là biết người khách tốt hay xấu, thân tình hay lừa đảo!...

* * *

   Mặc dù ba chị em San Như, San Lai và San Bồng  không hề tơ tưởng đến chuyện chồng con và bà mẹ cũng không tìm được người ưng ý, chuyện tình duyên không phải vì thế mà sóng yên biển lặng . Ngược lại, chuyện tình duyên của chị em  sinh  ba này lại đầy sóng  gió  bởi  “cây muốn lặng  nhưng  gió  chẳng  đừng”  !...

    Có một nhân vật  VIP, mà  khởi  đầu sự nghiệp quan chức bằng chức Xã  trưởng, nên mặc dù đã kinh qua lãnh đạo cấp huyện, cấp tỉnh rồi lên Trung ương tới hàm Thứ  trưởng, giới quan chức vẫn gọi ông VIP này  bằng cái tên “thân mật” : ông  Xã  trưởng . Bản tính con người  khó  thay đổi, vì  thế, dù  đã là quan chức cấp cao ở  Trung  ương, ông  Xã  trưởng vẫn giữ nguyên tác phong sinh hoạt  thời còn làm Xã trưởng . Chẳng hạn, giữa cuộc họp dù long trọng cỡ nào, ông  cũng lấy  ống điếu thuốc lào ra  rít  sòng  sọc  rồi  ngửa mặt  nhả  khói  bay  vô tư khiến nhiều vị quan  khách ho sặc sụa ! Chưa hết, ông  còn có tật  khạc nhổ tùy tiện khiến cho nhiều người vô ý  té ngã vì dẵm đạp lên bãi  khạc nhổ của ông ! Không ít người kêu ca, phàn nàn về tác phong sinh hoạt của ông Xã trưởng , cấp trên của ông cũng đã  “chỉnh đốn tác phong”  ông nhiều lần, nhưng sau những câu  “vâng, vâng, dạ dạ, em xin sửa chữa” thì ông vẫn chứng nào tật ấy, tức vẫn là ông Xã Trưởng !  Chẳng lẽ cách chức, cho nghỉ  hưu non chỉ vì  những  “tật xấu”  ấy ?  Cũng có lúc, cấp trên của ông  muốn  trừng trị  thẳng  tay  nhưng không hiểu sao, vào những  lúc đó, ông đều đang giữ nhiệm vụ đặc biệt quan trọng  : phụ trách  công tác thanh tra, chống tham nhũng ! Mà  tội tham nhũng  mới  cần  ra tay mạnh mẽ chứ mấy cái tật xấu của ông  Xã  trưởng  chưa là gì  !

    Song, trong giới quan chức ít người biết một cái tật xấu rất Xã Trưởng  của ông  Xã Trưởng, đó là ham mê  tửu sắc. Thông thường, đã là đàn ông, khi nhìn thấy gái đẹp ai mà chẳng  thích. Nhưng ông Xã Trưởng  không chỉ dừng  ở mức độ ngắm nhìn  rồi trầm trồ khen đẹp, rồi nuốt nước miếng, rồi ao ước hão…mà ông nghĩ ngay kế sách để chiếm đoạt bằng được người đẹp !  Từ thời ông còn làm Xã  trưởng , ông đã chiếm đoạt không ít người đẹp và không hiểu sao chẳng có ai kiện cáo ông về chuyện này ? Nếu có ai gặng hỏi người vợ nhà quê của ông (làm vợ ông từ lúc ông mới mười lăm tuổi và sau này, khi ông lên làm việc ở Trung ương, bà vẫn ở nơi lũy tre xanh)  thì sẽ được bà trả lời sau nụ cười tủm tỉm : “Khi nào ông ấy làm tới chức “Công công Đại tổng quản”  thì tôi sẽ nói tại sao không có cô gái nào kiện cáo ông ấy, thậm chí còn thích ông ấy, bám theo ông ấy hoài !” . Chuyện về ông Xã  Trưởng, nếu Vũ Trọng Phụng sống lại, hẳn người đọc sẽ có được cuốn tiểu thuyết hoạt kê rất hay, có thể vượt qua cả Giông tố, Số đỏ ! Nhưng rõ ràng là điều đó không xảy ra ! Ở cái truyện ngắn này chỉ nói đến ông có hơn một ngàn chữ vì có liên quan tới chị em sinh ba. Đầu đuôi câu chuyện như sau.

     Thông  thường , sau mỗi lần làm việc căng thẳng , ông Xã Trưởng thường đi tản bộ tới Viện Đông Y để xoa bóp, day huyệt, châm cứu. Không hiểu sao, cơ thể ông rất thích hợp  với cách chữa bệnh không cần thuốc này, riết thành thói quen, thiếu nó là không chịu được ! Thường là đích thân Viện phó làm việc với ông, vì ông đã cứu Viện phó thoát khỏi vụ án lớn cỡ  “chu di tam tộc” !  Nhưng hôm đó, Viện phó lại đang bận làm việc với một nhân vật  VIP khét  tiếng  khác, nên ông Xã Trưởng đành phải nhường . Viện Phó chợt nghĩ tới bà Sơn, liền nói :

-    Báo cáo anh, hôm nay để em giới thiệu với anh một Lương y cũng rất cao thủ, chắc chắn là sẽ làm anh hài lòng !

Và quả nhiên khi bà Sơn tác nghiệp, ông Xã Trưởng không những rất hài lòng mà còn rất động lòng ái mộ ! Trong khi bà  Sơn  tác nghiệp, ông Xã Trưởng quan sát rất kỹ từng chi tiết trên người bà Sơn : mới nhìn thì không có gì đặc biệt,  nhưng càng nhìn càng thấy cuốn hút. Rồi sóng tình trong ông Xã Trưởng nhanh chóng dâng cao, ông vòng tay qua eo bà Sơn tính kéo bà xuống giường ! Khi tay ông Xã  Trưởng vừa chạm vào eo bà Sơn, ông bỗng giật mình kinh ngạc khi có cảm giác như có một con trăn đang quấn quanh bụng bà Sơn ! Đúng lúc đó, trong khi ông Xã Trưởng chưa hết bàng hoàng thì bà Sơn gỡ tay ông ra và đi nhanh ra ngoài ! Hai phút sau, ông Xã Trưởng mới bình tĩnh lại và gọi điện thoại cho ông Viện phó. Viện phó tới ngay, nghe xong câu chuyện thì cười ngặt nghẽo một hồi rồi nói nhỏ, vừa cho ông Xã Trưởng đủ nghe :

-    Ông anh gặp may lớn rồi ! Bà Sơn này có tướng cách cực quý, vượng phu ích tử, rất hiếm ! Cái  “con trăn” mà anh rờ thấy đó là một giải thịt nổi lên quanh eo bụng mà các  thầy tướng gọi là “Ngọc đới yêu vi”, có nghĩa là “Cái đai ngọc xung quanh  eo bụng”, chủ về ấn tướng đại quý !  Ở Trung Quốc, người ta còn truyền tụng câu chuyện về người có cái đai ngọc ấy tên là Âu  A  Muội, nhà rất nghèo túng , ở với mẹ nơi làng quê hẻo lánh thuộc tỉnh Quảng Đông . Có nhà nho tên là Hà Nghiêu Luân, thi mãi không đỗ đạt gì, đã chán nản chuyện công danh . Sau được một vị thầy tướng  chỉ lối đưa đường cho tới cưới nàng Âu A Muội, tức thì  kỳ thi sau đó họ Hà đỗ thủ khoa, rồi theo Tăng Quốc Phiên dẹp loạn Thái Bình Thiên Quốc, được phong tới chức Tướng quân. Bà vợ  thì sinh được ba con trai, về sau đều thi đỗ Tiến sĩ !...

     Ông Xã Trưởng nghe nói vậy thì ngớ người, một lúc lâu mới nói được mấy câu ấp úng :

-   Phải cưới nàng  “Ngọc đới yêu vi” !

 Và ngay lập tức, một “kế hoạch” khá tỉ mỉ đã được bàn định kỹ càng . Ngay ngày hôm sau, ông Viện phó nói với bà Sơn đến nhà riêng của ông Xã Trưởng để xem bệnh cho một nhân vật quan trọng . Bà Sơn thật thà tuân lệnh ngay, về nhà nói với cô con gái San Như đi cùng vì bà rất tin tưởng ở tài xem bệnh, bắt mạch của cô. Hai cô em cũng muốn học thêm chút ít cách chẩn  đoán bệnh của chị và mẹ nên cũng đi theo. Thế là cả bốn mẹ con cùng đến nhà ông Xã Trưởng .

    Khi đến nhà ông Xã  Trưởng , ông đang giả bệnh nằm rên hừ hừ trên giường , ba người con trai ông đon đả đón tiếp bốn mẹ con bà Sơn. Bà mẹ bảo Sơn Như bắt mạch. Nghe tiếng rên, cô đã biết ngay đó không phải là tiếng rên của người có bệnh  và khi vừa chạm vào mạch của ông Xã  Trưởng , cô đã biết ngay là ông này giả bệnh ! Tại sao ông ta làm vậy ? Cô chưa tìm được câu trả lời và vội nhìn vào mắt cô em út San Bồng  và cô giật mình khi thấy San Bồng đang ngó nghiêng trợn ngược để lộ ra hai tròng trắng ! Cả  bà Sơn và cô San Lai cũng đã nhìn thấy hai tròng trắng trong mắt cô San Bồng , đó là tín hiệu báo động có kẻ xấu. Linh tính của người có năng  khiếu  võ thuật của San Lai còn báo cho cô biết rằng kẻ xấu này sẽ ra tay rất tàn độc !  Quả nhiên, khi bà Sơn vừa nói “Người này không có bệnh, chúng tôi xin cáo từ” thì ông Xã Trưởng từ trên giường bật dậy thét lớn : “Bắt trói tất cả !”. Tức thì, ba người con trai ông Xã Trưởng và ba người lực lưỡng nữa chạy vào nhất tề ra tay. Nhưng ba chị em đã có chuẩn bị, San Lai dùng miếng võ “Liên hoàn cước” khiến cả sáu người kia tối tăm mặt mũi, còn San Như và San Bồng nhanh chóng  đưa bà Sơn thoát ra ngoài !  Ông  Xã Trưởng chỉ biết trố mắt kinh ngạc, không nói được lời nào !

     Tất nhiên bố con ông  Xã Trưởng chưa chịu bó tay một cách ê chề như vậy, họ tiếp tục tìm mưu kế khác, “thua keo này bày  keo  khác”  là câu nói cửa miệng  của ông Xã Trưởng !...

* * *

    Lại nói về ông  Tướng về hưu có người con trai trùng tên với ông Hoàng Trung Dũng, bố của ba chị  em sinh ba. Ông ngày ngày theo dõi tin tức chiến trường xem thằng con trai có lập được công  trạng gì không , vì bản thân ông thời trai trẻ như  nó, ngay trận đầu đã lập công lớn ! Ông chờ mãi mà chẳng thấy gì, đột nhiên một hôm ông nhận được thư của con trai gửi từ nước ngoài, nó nói đang học một lớp sĩ quan đặc nhiệm, vào khoảng năm bảy sáu sẽ về nước ! Ông Tướng về hưu giận quá, gọi điện ngay cho ông bạn ở Bộ Tổng Tham mưu, nhưng ông này đang đi chiến trường. Viên sĩ quan trực ban hỏi ông có nhắn chuyện gì cho Tướng X  không  thì  ông hét lên : “Hỏi  ngay ông  X  cho tôi rằng tại sao thằng Hoàng Trung Dũng con tôi không đi chiến đấu ở chiến trường mà lại đi học nước ngoài ?”  Viên sĩ quan trực ban là bạn thân của Thiếu Tá Quân trợ lý của tướng X nên có biết chuyện gửi gắm này, bèn gọi điện hỏi bên quân lực. Bên quân lực trả lời rằng đã điều Hoàng Trung  Dũng từ trại huấn luyện tân binh  đến đơn vị chiến đấu của tướng Y và đã hành quân vào chiến trường  ngay sau đó !  Người sĩ quan phụ trách tuyển quân lần giở tập hồ sơ tuyển quân đợt đó và phì cười khi thấy có tới hơn hai mươi cái  tên là  Dũng, trong đó có mười cái tên là Hoàng Trung  Dũng ! Khi ông Tướng về hưu nhận được thông tin về sự nhầm lẫn do trùng tên, ông chỉ còn biết giậm chân kêu Trời !...

    Bẵng đi một thời gian, tới một ngày kia, ông Tướng về hưu thấy trên báo có đăng danh sách tuyên dương Anh hùng quân đội có cái tên Hoàng Trung Dũng, ông bàng hoàng nhìn mãi chữ Liệt sĩ bên cạnh cái tên đó rồi gọi thằng con trai Hoàng Trung Dũng, lúc này đang làm đội trưởng một đội đặc nhiệm :

-  Người liệt sĩ Anh hùng này trùng tên với con và chuyến đi vào chiến trường mười sáu năm về trước của người đó đáng lẽ ra là của con !...Thời gian trôi đi, nhưng không thể bỏ qua hết mọi chuyện ! Con hãy tìm địa chỉ gia đình người liệt sĩ này, bố con mình phải đến gặp vợ con người liệt sĩ này !...

    Chỉ  sau hai ngày, Dũng đặc nhiệm đã tìm được địa chỉ, đó chính là bốn mẹ con bà Sơn. Ông Tướng về hưu và người con là Dũng đặc nhiệm đến ngay nhà bà Sơn và gặp cả bốn mẹ con.Hồi lâu ông mới nói được vài câu ấp úng:

- Tôi thật không ngờ sự thể lại như vậy. Tôi muốn đền bù phần nào sự mất mát của gia đình. Con trai tôi đây sẽ tình nguyện làm vệ sĩ cho bà và ba cô suốt đời! Và nếu bà gặp bất cứ khó khăn, trở ngại nào trong cuộc sống, bà cứ cho tôi biết, tôi sẽ giúp bà giải quyết bằng mọi giá, thậm chí phải hy sinh tính mạng của bố con tôi!...

   Bà Sơn  nghe nói vậy thì không nói được gì vì hình ảnh người chồng chung sống có ba ngày ngắn ngủi lại hiện về rõ mồn một…Bà không muốn khóc mà nước mắt cứ trào ra! …Ba cô con gái chưa biết mặt bố nên chẳng hiểu mẹ đang nghĩ gì? Cô em út San Bồng lộ rõ cặp mắt xanh, hai cô chị thấy vậy thì vui lắm. Cô San Lai nói:

- Vậy thì chú Dũng đặc nhiệm làm bố nuôi của chúng cháu. Bố bảo vệ con là đương nhiên rồi! Bố có việc ngay đây!

   Nói rồi cô gái chạy vào buồng lấy ra ba tờ giấy. Dũng đặc nhiệm đọc xong tức giận run cả tay, răng thì nghiến ken két:”Thật là ngang ngược, đểu cáng! Không khác gì bọn quan lại, địa chủ thời phong kiến!”. Ông tướng về hưu cầm lấy ba tờ giấy từ tay người con, xem xong thì giận muốn ngạt thở, ông ngồi lặng người không nói được lời nào! San Lai lại nói:

- Tại sao ông ta lại cho mình cái quyền bắt người khác phải nghe theo ý mình? Chú Dũng và ông có biết cháu tức điên lên khi nhận được những tờ giấy này không? Trời đất, bốn bố con ông ta đòi cưới bốn me con cháu! Lại còn gửi “Tối hậu thư” nữa chứ! Cháu muốn phóng tới cho bố con ông ta một cú đá vào mặt!..

   Tất cả im lặng giây lát. Bỗng nhiên Dũng đặc nhiệm đứng phắt dậy, moi trong túi quần ra cái điện thoại di động, ấn số rồi nói rõ từng tiếng:”Toàn đội đặc nhiệm tập hợp!”. Ông tướng về hưu cũng đứng dậy, moi trong túi quần ra cái điện thoại di động và nói to:”Tướng X đó hả? Đến nhà tôi ngay có chuyện khẩn cấp!”.

   Không biết ông tướng về hưu và người con điều binh khiển tướng thế nào để đối phó với những mưu ma chước quỷ của ông Xã trưởng, chỉ biết  rằng cuộc chiến đó đến nay vẫn chưa chấm dứt! Ba chị em sinh ba năm l973, đến nay đã hơn ba mươi tuổi, người me tức bà Sơn đã hơn sáu mươi tuổi, tuy không bị tổn thất gì đáng kể nhưng thời gian cứ từng ngày, từng tháng, từng năm lấy dần đi tuổi xuân của họ! Lúc đầu, không ai để ý đến chuyện này, nhưng khi nghe được ông Xã trưởng tuyên bố rằng “Bố con ta sẽ trường kỳ mai phục, Thời gian sẽ ủng hộ chúng ta!”, thì cả hai bố con ông Tướng về hưu và bốn mẹ con bà Sơn đều giật mình! Thời gian cứ mải miết trôi đi, hai bố con ông Tướng về hưu vẫn chưa tìm ra được một giải pháp hữu hiệu! Còn ba chị em sinh ba thì đang mải mê với việc bảo vệ luận án Tiến sĩ Y khoa! Riêng bà mẹ, tức bà Sơn, ngoài thời gian chữa bệnh cứu người, bà lại ngồi tụng kinh niệm Phật. Giống như mẹ chồng bà trước đây, bà thành tâm cầu khấn Phật tổ Như Lai  và Quan âm Bồ Tát phù hộ cho mẹ con bà tai qua nạn khỏi, ba cô con gái của bà nhanh chóng tìm được người chồng xứng đáng!...

* * *

  Bố con ông Tướng về hưu có thực lực rất mạnh, vì ông bị thương mà nghỉ sớm, nhưng bạn bè, đệ tử còn tại ngũ số lượng quân hàm tướng tá rất nhiều, có mặt ở khắp các quân binh chủng, ông chỉ hô một tiếng là họ có mặt ngay! Nhưng đây là cuộc chiến không tuyên bố, giống như “chiến tranh lạnh” nên rất khó cho ông điều binh khiển tướng! Vả lại, bố con ông Xã trưởng không phải là tay vừa, gian ngoan, xảo quyệt, lắm mưu nhiều kế, lại có “ô dù” che chắn! Vì thế bố con ông Tướng về hưu luôn ở thế bị động, chỉ biết ngồi chờ hành động của đối phương rồi mới “tùy cơ ứng phó”! May mà con ông, tức  Dũng đặc nhiệm phản ứng mau lẹ và cô gái San Lai võ nghệ cao cường, nếu không thì đã sa bẫy, mắc mưu của ông Xã trưởng không chỉ một lần !...

     Một hôm, nhân buổi gặp gỡ đầu xuân, ông Tướng X nói với bạn :

-  Ông cứ bị động đối phó với người ta như vậy không phải là thượng sách ! Thời còn chỉ huy đánh đông dẹp bắc, ông có như vậy đâu ?  Tôi có một kế này chắc chắn sẽ thắng “nốc-ao”. Ông hãy đứng tên thành Công ty vệ sĩ, tuyển một đội thám tử điều tra thật giỏi, ông hãy theo dõi từng bước chân của đối phương, thế nào cũng có tuồng hay ! Tôi không tin là ông ta, tức ông Xã Trưởng  không  có những “phốt” rất lớn khác !  Đã tha hóa về nhân cách ,đạo đức thì việc gì cũng dám làm !

    Ông Tướng về hưu như bừng tỉnh. Thế là Công ty vệ sĩ  Như Sơn được thành lập, ông Tướng về hưu làm Giám đốc, hai Phó giám đốc là Dũng đặc nhiệm và cô San Lai. Quả nhiên, đúng như lời ông Tướng X  tham mưu, chỉ sau ba tháng hoạt động của Công ty vệ sĩ, đội thám tử đã lần ra một đường dây  tham  ô, hối lộ lớn mà ông Xã Trưởng , lúc đó đang giữ chức Thứ trưởng ở một  Bộ, là một mắt xích quan trọng !...

    Mối đe dọa từ ông Xã Trưởng đã không còn, ba chị em sinh ba chỉ còn chờ người đến đón lên xe hoa, nhưng người đó là ai,  thì không phải là chuyện đơn giản. Và càng không hề đơn giản khi phải có tới ba người! Chuyện này xem chừng còn khó hơn cả chuyện “mò kim đáy biển”!...

Đỗ Ngọc Thạch.
< Lùi Tiếp theo >
 
nguồn: vannghechunhat.net

Tìm tag: truyện ngắn

Thứ Hai, 5 tháng 12, 2011

Đỗ Ngọc Thạch - Thư viện Tác giả (nhavantphcm.com)

ĐỖ NGỌC THẠCH - NHÀ VĂN - Thư viện

NHÀ VĂN ĐỖ NGỌC THẠCH
Đỗ Ngọc Thạch sinh ngày 19 tháng 5 năm 1948, quê quán ở  Phú Thọ. Ông đã tham gia quân đội từ 1966 đến 1970. Tốt nghiệp Khoa Ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1976. Làm công tác giảng dạy, nghiên cứu văn học, biên tập viên báo chí tại các cơ quan: Trường Dự bị đại học Dân tộc Trung ương, Viện Nghiên cứu văn học, Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, Sở Văn hoá - thông tin tỉnh Gia Lai - Kon Tum (cũ), Báo Lao Động & Xã Hội,...
Hiện ông sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Tác phẩm đã xuất bản:
- Người tạc tượng nhà mồ (tập truyện ngắn, in chung - NXB Văn hóa - Dân tộc, 1986)
- Quà tặng tuổi hai mươi (tập truyện ngắn, NXB Công an Nhân dân, 1994 và 2005).
Quan niệm văn học:
- "Văn học là nhân học".
TÁC PHẨM TRÊN NVTPHCM:
ẢNH TƯ LIỆU CỦA ĐỖ NGỌC THẠCH:


Sài Gòn, 1994


Hà Nội, Mùa Đông 1996
T
ĐỖ NGỌC THẠCH - NHÀ VĂN - TP.HCM
Xem thêm:
Tác giả: 55.
Vĩnh Phúc
133 tác phẩm


  1. ĐỖ NGỌC THẠCH

    newvietart.com/DONGOCTHACH_saigon.htmlBản lưu - Tương tự
    NHÀ VĂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI, WRITERS - BIOGRAPHIES,
  2. Đỗ Ngọc Thạch - trieuxuan.info

    trieuxuan.info/?pg=tgdetail&id=495Bản lưu
    25+ mục – Đỗ Ngọc Thạch. Sinh ngày l9-5-1948, tại Phú Thọ. Tốt nghiệp ...
  3. :: PHONGDIEP.NET :: PHONGDIEP.NET :: - ĐỖ NGỌC THẠCH

    ĐỖ NGỌC THẠCH. Sinh ngày l9-5-1948, tại Phú Thọ. Tốt nghiệp ĐH Tổng hợp ( Khoa Ngữ Văn) năm l976; đã tham gia quân đội 4 năm và làm việc tại các cơ ...

4. Đỗ Ngọc Thạch - Tho Luc Bat

lucbat.com/index.php?tab=news&id=1532Bản lưu
5 Tháng 2 2009 – Tác giả Đỗ Ngọc Thạch sinh ngày 19-5-1948. Quê quán: Yển. Khê - Bà Triệu- Thanh Ba- Phú Thọ. Cựu sinh viên Khoa Toán trường Đại học ...

Tác phẩm đã hoàn thành bản thảo:

1. Phê bình và Tiểu Luận và... (Phê bình văn học)
2. Bão giập mưa vùi ( Tiểu thuyết)
3. Thân gái dặm trường (Tiểu thuyết Mini)
4. Chuyện tình đồi hoa sim (Tiểu thuyết Mini)
5. 100 truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch (Tập Truyện ngắn)

Nguồn: nhavantphcm.com.vn, Google

Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2011

4 bài PB, TL của Đ.N.Thạch- trích: PBVH và "40 năm nói Láo" của Vũ Bằng


4 bài PB, TL của Đ.N.T trên trieuxuan.info

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjdCIcd74mXB9D5oDeQAySsbzgUlGL4s4Vp0Ct2TqL0kMpEq_yEAT8kEUxN8GOPJkDTZY_nYGURPGendxUEeljvBsXY_qgeWK8wM4L1JEz7z1SSlvfWHVtmVNpVfCV8G64VksL6icVYlzkg/s1600/image001.jpg
Đỗ Ngọc Thạch, Sài Gòn - 2010


4 bài Phê Bình, Tiểu Luận của Đỗ Ngọc Thạch - trích:
Phê bình Văn học - một cơ chế đặc thù của văn hóa;
Đọc "40 năm Nói Láo" của Vũ Bằng

Đỗ Ngọc Thạch
Một cơ chế đặc thù của văn hóa
Đỗ Ngọc Thạch
GS Đỗ Đức Hiểu và tác phẩm Đổi mới phê bình văn học
Đỗ Ngọc Thạch
Đọc Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng
Đỗ Ngọc Thạch
Kịch nói và cuộc sống hôm nay

Đỗ Ngọc Thạch
Một cơ chế đặc thù của văn hóa
Đỗ Ngọc Thạch
GS Đỗ Đức Hiểu và tác phẩm Đổi mới phê bình văn học

* *
P h ê   b ì n h   V ă n   h ọ c
http://images.trantruongca.multiply.com/image/1/photos/upload/300x300/SH4mdwoKCtcAAEKTEKg1/banha-tuky.jpg?et=4JRBj8odnFAOJaV%2CQvv9bA&nmid=0Bá Nha, Tử Kỳ
Lý luận phê bình văn học

Đỗ Ngọc Thạch
Một cơ chế đặc thù của văn hóa
                    
   Tất cả những biểu hiện của hoạt động thẩm mỹ của con người mà chúng ta quen nói nôm na là “đời sống văn hóa- văn nghệ”  được bộ môn lý luận văn hóa  xác định trong một cấu trúc tổng thể theo một hệ thống với khái niệm văn hóa nghệ thuật – là một hệ thống, một thể thống nhất khép kín. Trong  hệ thống văn hóa nghệ thuật đó, có nhiều hệ thống phụ, hệ thống con, thể hiện cơ chế hoạt động của những lĩnh vực khác nhau của đời sống thẩm mỹ. Một trong những hệ thống phụ đó của văn hóa nghệ thuật là bộ môn phê bình nghệ thuật.
 Các hệ thống phụ trong cấu trúc của văn hóa nghệ thuật đều vận hành theo những quy luật đặc thù, có cơ chế hoạt  động riêng nhưng đều có mối quan hệ qua lại hữu cơ với nhau. Nếu chỉ nhìn vào qui luật đặc thù thì dễ dẫn đến những quan niệm cực đoan, phiến diện. Nếu bị những biểu hiện của mối quan hệ qua lại chồng chéo che lấp thì sẽ không nhìn rõ đặc trưng loại biệt của từng đối tượng quan sát. Vì thế, dưới đây chúng ta sẽ quan sát cơ chế hoạt động của một quá trình hoạt động nghệ thuật, trong đó sẽ làm nổi rõ bộ môn phê bình nảy sinh từ đâu, nó có chức năng gì, tác động như thế nào vào quá trình này?
    1.   Hình thái đầu tiên, công đoạn đầu tiên của một quá trình hoạt động nghệ thuật là sản xuất nghệ thuật (theo chữ dùng của C.Mac). Trong cơ chế sản xuất nghệ thuật hiện đại , bên cạnh “nhân vật chính” là nhà sáng tác còn có một “công cụ sản xuất” rất quan trọng là nhà biên tập. Nhiệm vụ lớn nhất của họ là thẩm định, đánh giá trước nhất tác phẩm nghệ thuật, giúp nhà sáng tác hoàn chỉnh tác phẩm  trước khi nó được ra mắt công chúng với tư cách là một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Trước đây, người ta ít chú ý đến bàn tay của nhà biên tập, dấu ấn lao động nghệ thuật của họ trong việc cho ra đời một tác phẩm nghệ thuật. Phải nói rằng quá trình làm việc giữa nhà biên tập và nhà sáng tác diễn ra khá công phu và  đó chính là một biểu hiện của hoạt động phê bình nghệ thuật. Hoạt động phê bình ở “khâu yếu” này như thế nào, đến nay vẫn còn là “chuyện hậu trường”,chưa được chú ý nghiên cứu. Tuy vậy, cũng có thể nhận xét sơ bộ rằng, hoạt động phê bình đã có nhu cầu nảy sinh, nhu cầu tồn tại ngay từ khi tác phẩm nghệ thuật chuẩn bị ra đời, thậm chí nó còn thai nghén trong ý đồ sáng tác của nhà sáng tác. ở khía cạnh khác có thể nói, đây chính  là cơ sở nảy sinh của kiểu phê bình tình cảm -  cá tính sáng tạo, chủ yếu dựa vào công việc bếp núc của nhà sáng tác mà nhà phê bình (hình thành từ trong đội ngũ nhà biên tập) nắm bắt tường tận. Những nhà phê bình này thiên về lý giải, phân tích tác phẩm trong quá trình “mang nặng đẻ đau” của nhà sáng tác, chú ý nhiều đến cuộc đời của nhà sáng tác và cố tìm mối quan hệ giữa tác phẩm và chính cuộc đời của nhà sáng tác. Kiểu phê bình này thường là tạo ra được những chân dung sinh động về nhà sáng tác hơn là sự “mổ xẻ” lạnh lùng  và khách quan tác phẩm của nhà sáng tác.
   2. Tác phẩm nghệ thuật ra đời, nó tồn tại trong đời sống thẩm mỹ với tư cách là một vật thể mang giá trị nghệ thuật. Giá trị này được quyết định bởi  nội dung tinh thần của nó và   phẩm chất của hình thức mang giá trị đó. Đồng thời nó cũng được qui định bởi tính chất của những nhu cầu xã hội và bởi  mức độ đáp ứng của tác phẩm đối với những nhu cầu ấy. Nói cách khác, giá trị nghệ thuật này tùy thuộc vào lý tưởng thẩm mỹ của thời đại (hệ tư tưởng chính thống của hoàn cảnh lịch sử - xã hội mà tác phẩm nghệ thuật ra đời). Vì thế, nó mang tính cụ thể - lịch sử và đương nhiên biến đổi theo biến động lịch sử - xã hội. Thước đo giá trị của tác phẩm nghệ thuật này nằm trong lý tưởng thẩm mỹ của thời đại. Thước đo này là “công cụ thẩm mỹ” đặc biệt nhằm đánh giá giá trị tác phẩm nghệ thuật. Như vậy là, từ trong bản thân tính chất của tác phẩm nghệ thuật đã nảy sinh nhu cầu tất yếu đánh giá giá trị tác phẩm nghệ thuật: đó là hoạt động  phê bình nghệ thuật. Như thế, nhà phê bình nghệ thuật chính là “công cụ thẩm mỹ” đặc biệt để một lần nữa xác định giá trị tác phẩm nghệ thuật khi nó tồn tại trong đời sống thẩm mỹ với tư cách là một vật thể mang giá trị nghệ thuật. Giá trị tự thân của tác phẩm nghệ thuật và sự đánh giá của nhà phê bình có trùng khớp hay không, đó là một công việc lớn cùa phê bình nghệ thuật.
Sự đánh giá này của hoạt động phê bình nghệ thuât mang tính chất tổng  quát và nó thể hiện lý tưởng thẩm mỹ của thời đại, nhà phê bình nhân danh người phát ngôn cho tư tưởng  thẩm mỹ của thời đại. Vì thế người ta thường nói đó là sự đánh giá có tính chất triết học, hoăc  triết mỹ. Đây chính là cơ sở nảy sinh kiểu phê bình triết hoc, có từ lâu với cách gọi “Phê bình triêt học truyền thống” (hoặc còn gọi phê bình là “mỹ học vận động”) do V.G.Biêlinxki sáng lập ở Nga. Kiểu phê bình này thường nhìn tác phẩm dưới con mắt triết mỹ,chú ý nhiều tới việc  tìm ra sự phù hợp giữa tác phẩm và  thời đại với sự tồn tại của giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mỹ (thực ra không thể tách bạch ra như thế!). Và như trên đã nói, giá trị này tùy thuộc vào lý tưởng thẩm mỹ của thời đại, cho nên nó chỉ chấp nhận những tác phẩm nào “hợp gu”, hợp “khẩu vị” với nó và đương nhiên, nó gạt ra ngoài những tác phẩm nào vượt quá “khuôn phép” mà nó – cái lý tưởng thẩm mỹ của thời đại – ngầm qui ước! Vì thế, khi thời đại có biến đổi, các tác phẩm có sự “đảo lộn” giá trị vì có sự “đảo lộn các thang giá trị”!... 
     Như C. Mác nói  “Tác phẩm nghệ thuật  - và mọi sản phẩm khác cũng thế - đều tạo ra một thứ công chúng sính nghệ thuật  và có khả năng thưởng thức cái đẹp”. (C. Mác: Về văn học và nghệ thuật -  Nxb Sự thật. H.1997 ,tr.96). Công chúng nghệ thuật là nhóm người có trình độ cảm thụ những tác phẩm nghệ thuật. Việc hình thành công chúng nghệ thuật, từ tự phát đến tự giác, từ giáo dục nghệ thuật đến giáo dục thẩm mỹ. ở một nền văn  hóa nghệ thuật phát triển cao, việc giáo dục nghệ thuật cũng như giáo dục thẩm mỹ (giáo dục nghệ thuật là một bộ phận hợp thành của hệ thống giáo dục thẩm mỹ) được chú trọng thì công chúng nghệ thuật càng phát triển, nâng cao. Công chúng ấy có nhạy cảm về nghệ thuật, am hiểu nghệ thuật, tức là có kiến thức về nghệ thuật mới có khả năng thưởng thức nghệ thuật, họ tiếp nhận được giá trị của tác phẩm nghệ thuật. Mà giá trị của tác phẩm nghệ thuật luôn luôn biến đổi và đa nghĩa, lại được “mã hóa” bằng cấu trúc nghệ thuật phức tạp, ngôn ngữ nghệ thuật đặc thù, v.v… Việc tiếp nhận giá trị của tác phẩm nghệ thuật đối với công chúng không dễ dàng gì. Tác phẩm nghệ thuật như là có “lớp vỏ” đặc biệt bao bọc . Vì thế,có thể nói, chính nhu cầu cảm thụ nghệ thuật của công chúng đã làm nảy sinh nhu cầu giáo dục nghệ thuật một cách chủ động cho công chúng, nhu cầu  “giải mã” tác phẩm để cho công chúng tiếp nhận hết giá trị của tác phẩm. Điều này nảy sinh tất yếu bộ môn phê bình nghệ thuật: gồm những nhà phê bình có trình độ, kiến thức nghệ thuật cao làm “phiên dịch”, “môi giới” giữa  công chúng với tác phẩm. Đây cũng chính là cơ sở của kiểu phê bình chủ yếu dựa vào văn bản cấu trúc của tác phẩm nghệ thuật. Kiểu phê bình này tập trung  vào việc phát hiện những cái “ẩn tàng” , “ẩn ngôn” , “ý tại ngôn ngoại” trong những cấu trúc “ đa tầng”, “đa nghĩa”, “ đa thanh” của tác phẩm nghệ thuật.
 3. Mặt khác, xét ở giác độ tâm lý tiếp nhận, hoạt động cảm thụ của công chúng đồng thời xảy ra với hoạt động đánh giá giá trị tác phẩm. Nói cách khác, đánh giá giá  trị tác phẩm nghệ thuật là một nhu cầu tất yếu của cảm thụ nghệ thuật. Nhu cầu đánh giá này không chỉ dừng lại ở sự phản ứng trực tiếp (bản năng của trạng thái xúc cảm thẩm mỹ) của công chúng nghệ thuật mà lan truyền, tích tụ thành  những “làn sóng dư luận công chúng”. Làn sóng này tồn tại và phát triển trong đời sống thẩm mỹ, đến độ nào đó sẽ nảy sinh thành nhu cầu phát ngôn thành những quan điểm thẩm mỹ. Điều này nảy sinh  tất yếu bộ môn phê bình nghệ thuật mà nhà phê bình là những đại biểu ưu  tú nhất của công chúng nghệ thuật . Việc chọn lọc những người tiếp nhận nghệ thuật có tài năng nhất  (theo cách nói của Xtanixlapxki) - những người vừa có một cảm quan nghệ thuật phát triển, tinh tế, được tôi luyện hẳn hoi lại vừa có khả năng biểu đạt bằng ngôn ngữ các ấn tượng và thể nghiệm nghệ thuật của mình. Những người này sẽ trở thành những nhà phê bình chuyên nghiệp . Chính vì thoát thai từ bộ phận ưu tú nhất của công chúng , những nhà phê bình này bao giờ cũng coi trọng hiệu quả của sự tác động thẩm mỹ của tác phẩm nghệ thuật vào công chúng, coi trọng mối quan hệ giữa tác phẩm và công chúng, đương nhiên không thể không có dấu ấn cá nhân của nhà phê bình. Đây chính là cơ sở của kiểu phê bình xã hội học: tình trạng tiếp nhận tác phẩm của công chúng thu hút sự chú ý của nhà phê bình. “Công chúng là vi quan tòa thông minh nhất” – câu nói nổi tiếng này là chỗ dựa vững chắc cho kiểu  phê bình xã hội học này. Lâu nay, người ta thường dè bỉu kiểu phê bình là “xã hội học dung tục” bởi bộ môn xã hội học nghệ thuật chưa phát triển, nhà phê bình chưa thực sự là đại diện của bộ phận công chúng ưu tú… 
*
        Đến đây, ta có thể hình dung được rằng: trong cơ chế vận hành của một quá trình hoạt động nghệ thuật gồm 3 bộ phận: sáng tạo nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật và cảm thụ nghệ thuật – ba hệ thống phụ của cấu trúc một quá trình hoạt động nghệ thuật – đều có những cơ sở nảy sinh, những nhu cầu tất yếu của sự có mặt của bộ môn phê bình nghệ thuật. Bộ môn phê bình nghệ thuật nảy sinh từ trong quá trình vận hành của ba hệ thống phụ đó và ngay lập tức quay  trở lại tác động vào quá trình vận hành  ấy. Như vậy, có thể nói: Phê bình nghệ thuật là hệ thống phụ thứ tư của hệ thống văn hóa nghệ thuật – một thể thống nhất khép kín.
    Điều cần nhấn mạnh ở đây là: phê bình nghệ thuật là một cơ chế đặc thù của văn hóa, nó là một bộ phận thiết yếu thuộc hệ thống văn hóa nghệ thuật. Nó có chức năng tạo nên cái “bình thông nhau”, cái cầu nối giữa cảm thụ nghệ thuật và sản xuất nghệ thuật, nó giải quyết nhiệm vụ xác định giá trị của tác phẩm nghệ thuật và do đó nó điều chỉnh định hướng tư tưởng và thẩm mỹ của sản xuất nghệ thuật. Đồng thời nó có khả năng tác động trở lại vào bản thân việc cảm thụ nghệ thuật, vào ý thức thẩm mỹ và cảm quan nghệ thuật của công chúng. Điều này qui định tính biện chứng của quan hệ qua lại giữa nhà phê bình và công chúng nghệ thuật.
   Chức  năng vừa nêu của phê bình nghệ thuật, về nguyên tắc nó không thể lẫn lộn với các bộ môn khoa học chuyên nghiên cứu về nghệ thuật như mỹ học, lý luận nghệ thuật, xã hội học nghệ thuật, v.v…. Các bộ môn khoa học về nghệ thuật này không nảy sinh từ nhu cầu nội tại tất yếu của một quá trình hoat động nghệ thuật mà chúng chỉ quan sát, nhìn vào nền văn hóa này từ bên ngoài, từ thế giới của các khoa học. Do đó, toàn bộ nền văn hóa nghệ thuật, trong đó có cả phê bình nghệ thuật, đều nằm ở trong tầm bao quát của các bộ môn khoa học về nghệ thuật vừa nêu với cái nhìn khách quan lạnh lùng của tư duy khoa học. Vì mối quan hệ giữa phê bình nghệ thuật và các khoa học nghiên cứu về nghệ thuật có nhiều mối quan hệ mật thiết cho nên lâu nay người ta vẫn xếp phê bình nghệ thuật   vào khu vực các bộ môn khoa học về nghệ thuật như lý luận nghệ thuật, nghiên cứu nghệ thuật, lịch sử nghệ thuật,v.v… Thậm chí người ta đã đặt câu hỏi: “Phê bình là khoa học hay nghệ thuật?”, song sự trả lời tính nước đôi: "Phê bình là bộ môn có hai quốc tịch, vừa là khoa học vừa là nghệ thuật !" đã khiến cho câu chuyện chưa thể có hồi kết !
*
    Qua việc trình bày cơ sở nảy sinh và chức năng của bộ môn phê bình nghệ thuật nói trên, chúng ta thấy người làm phê bình nghệ thuật phải đồng thời đáp ứng được tất cả những yêu cầu đã nêu với những phẩm chất , trình độ,kiến thức, cảm thụ nghệ thuật, v.v… không thể ở mức bình thường!... Chính vì vậy mà Lưu Hiệp, nhà phê bình trác việt của Trung hoa cổ đại, đã nói về phê bình nghệ thuật rằng: “Tri  âm  thực là khó thay. Cái âm thực là khó biết, người biết thực là khó gặp. Gặp được người tri âm ngàn năm mới có một lần” (Văn tâm điêu long). /.
Đỗ Ngọc Thạch
Tác giả gửi www.trieuxuan.info

Số lần xem: 5885 alt bản để in

http://vnmusic.com.vn/images/truyenkieu.jpg Rằng hay thì thật là hay...
p h ê   b ì n h   v ă n   h ọ c

http://vanvn.net/upload/news/Anh_Van_Hoc_Cuoc_Song/VuBang.jpg
Chân dung Nhà văn Vũ Bằng

Lý luận phê bình văn học
16.02.2009
Đỗ Ngọc Thạch
Đọc Bốn mươi năm nói láo của Vũ Bằng
Vũ Bằng sinh năm 1914, mất năm 1984, năm nay là 95 năm ngày sinh và 25 năm ngày mất của ông. Thắp một nén nhang tưởng nhớ đến ông, càng suy ngẫm về ông, về những tác phẩm của ông  để lại ta càng phát hiện ra thêm nhiều bài học bổ ích…
          Vũ Bằng quê gốc ở Hải Dương, mảnh đất vốn được mệnh danh là  “địa linh nhân kiệt”. Sinh ra trong một gia đình Nho học nổi tiếng, Vũ Bằng đã đứng vững trên mảnh đất Việt giàu văn hiến để tiếp thu một cách sáng tạo những tinh hoa của văn hóa phương Tây trong  “cuộc biến thiên vĩ đại” của lịch sử văn hóa dân tộc. Từ nhỏ đã theo học trường Albert  Sarraut  - một trường trung học của người Pháp nổi tiếng toàn Đông Dương thời đó, Vũ Bằng  đã nhanh chóng tiếp cận văn hóa phương Tây và nghề viết báo – một nghề hoàn toàn mới lạ đối với trí thức Việt Nam hồi đó. Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường – 16 tuổi – Vũ  Bằng đã say mê viết văn, viết báo và đã là cộng tác  viên thường xuyên của những tờ báo nổi tiếng lúc đó như tạp chí Hữu Thanh và nhật báo Trung Bắc Tân văn .Cũng thời gian này, Vũ Bằng đã trinh làng tập tùy bút châm biếm Lọ văn – được người đọc đương thời xếp ngang hàng với  Essais cuả nhà văn Pháp Montaigne. Theo nhà báo Thượng Sĩ, người bạn chí cốt của  Vũ Bằng thì tác phẩm của Vũ Bằng đã được in ra mới có khoảng hai chục cuốn gồm đủ các loại: tùy bút, phóng sự , truyện dài, truyện ngắn, dịch thuật, hồi ký, khảo luận. Nhưng tác phẩm của Vũ Bằng nếu được tuyển chọn, thu thập những cái đã đăng rải rác trên  khắp các báo chí suốt gần nửa thế kỷ thì ít nhất cũng được khoảng một trăm cuốn nữa… Có thể nói, sức viết của Vũ Băng thật là lớn…
   Kết thúc tập sách Bốn mươi năm nói láo, Vũ Bằng đã có những lời thật tâm huyết, “thật là Vũ Bằng”: “Tôi biết rằng nếu một ngày kia, Trời xử phiên án cuối cùng, hỏi tôi nếu cho trở lại làm người thì sẽ làm gì, tôi cũng sẽ nói không cần suy nghĩ gì hết và chỉ trả lời một câu: Người mẹ nào sinh ra con lại chẳng muốn cho con sau này ăn nên làm ra, có vai có vế, nhưng mẹ ơi, con đành chịu tội bất hiếu với mẹ: nếu trở lại làm người, con cứ lại xin làm báo!”
      Chỉ với hai cuốn sách Thương nhớ mười hai và Bốn mươi năm nói láo, Vũ Bằng đã hoàn toàn chinh phục người đọc và khẳng định được vị trí độc đáo của mình trong làng văn, làng báo từ những năm ba mươi đến những năm bảy mươi. Có thể dẫn lại đây lời nhận xét của nhà báo Thượng Sỹ về cuốn “Bốn mươi năm nói láo” mà theo như nhiều nhà phê bình kỳ cựu thì đó là nhận xét khá chính xác:
        “Với một lối diễn tả giản dị, thân mật, chan chứa tính cách trào lộng, Vũ Bằng đã phác lại thật độc đáo, thật linh động, những khuôn mặt của mấy thế hệ làm báo, những nhân vật nổi danh một thời, đã làm lịch sử, và đi vào lịch sử, hoặc chết đi, hoặc còn sống, hiện có mặt  ở đây hay nơi khác. Những nhân vật này lần lượt xuất hiện mỗi người hiến cho độc giả một vài mẩu chuyện vui có, buồn có, nhưng thật mới lạ. Cho nên có thể nói, đọc “Bốn mươi năm nói láo” chẳng  khác đọc lịch sử báo chí xứ này trong vòng già nửa thế kỷ 20”.
   Đó chính là nói về biệt tài viết chân dung nhân vật của Vũ Bằng. Thể loại  Chân dung văn học là hoàn toàn mới trong làng văn làng báo VN. Vì thế, có thể nói rằng, Vũ Bằng chính là một trong những người đi tiên phong trong thể loại chân dung văn học với những trang viết  độc đáo về những nhà báo, nhà văn VN đầu thế kỷ như: Nguyễn Văn Vĩnh, Phùng Tất Đắc, Ngô Tất Tố, Vũ Đình Long, Tam Lang, Vũ Trọng Phụng, Thâm Tâm, Thanh Châu, Nguyễn Tuân, v.v… Chẳng hạn như những đoạn về Vũ Trọng Phụng viết như thế này:
   “Vũ Trọng Phụng không bao giờ có thời giờ để viết quá mười trang giấy. Cứ gần đến ngày phải nạp bài cho Hà Nội báo – tiểu thuyết Giông tố bắt đầu viết từng kỳ trên báo này – Vũ Trọng Phụng lại ngồi ì ra một đống, hút thuốc lào và hỏi ầm lên có ai biết kỳ trước Giông tố đã viết đến đoạn nào rồi không. Chẳng ai trả lời cả, bởi vì chẳng có ai đọc Giông tố hết. Vũ Trọng Phụng chán đời hết sức, đành phải đi tìm Hà Nội báo để đọc xem mình đã viết đến câu gì, bấy giờ mới phủ phục xuống giường như con voi viết tiếp, mắt hiếng hẳn đi mà lưỡi thì lè ra như lưỡi con thằn lằn, có khi vừa viết vừa chửi thề sao mình lai khổ đến thế này, cứ phải viết mới có tiền sanh sống. Bây giờ Phụng đã ra người thiên cổ; nhắc đến anh, người ta thường kể lại một câu nói của anh: “Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bí tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này!”. Và một đoạn văn khác nói về phong thái Vũ Trọng Phụng:
  “Về sau này, Vũ Trọng Phụng mòn mỏi đi, một phần lớn cũng là vì thức đêm thức hôm để viết cho nhiều báo như Tiểu thuyết thứ bảy, Tiểu thuyết thứ năm, Hà Nội tân văn, lấy tiền, nhưng cuộc sống của anh ở bên ngoài đối với những người lạ, không có vẻ gì vất vả; trái lại, anh lại ra cái dáng nhàn nhã, ung dung là khác. Dù bận rộn viết  lách đến mấy đi nữa, tuần nào anh cũng đọc hàng chục tờ báo Pháp để học thêm. Trong anh em, có thể nói anh là người hiểu rõ tinh thần của giọng văn “Canard  Enchainé” nhất, mà anh cũng am hiểu nhất chính trị ở nước Pháp và thế giới lúc bấy giờ”.
         Vũ Bằng không chỉ đa tài, đa năng trong cái nghiệp “viết lách” mà ông còn là một nhà biên tập mẫu mực của làng báo. Sự ảnh hưởng của ông đến độc giả và những nhà văn, nhà báo tương lai không chỉ bằng tác phẩm mà bằng cả phong cách làm việc của ông trong 40 mươi năm làm việc cho nhiều tờ báo. Ông có “con mắt tinh đời”và tấm lòng nhân hậu nên đã nhanh chóng phát hiện chính xác những khả năng còn mới đang nhú mầm và đã tận tình chăm sóc, nuôi dưỡng nó. Nói dài về điều này e không hay nên chỉ có thể  “tóm lại” bằng cách dẫn lại đây lời nói của nhà văn Lý Văn Sâm – một nhà văn  “chuyên viết truyện đường rừng” nổi tiếng của làng văn Sài Gòn: “Nếu không có Vũ Bằng thì cũng không có nhà văn Lý Văn Sâm!”.
Đỗ Ngọc Thạch       
Số lần xem: 4878 bản để in
nguồn: trieuxuan.info
http://farm4.static.flickr.com/3305/3272778483_f96516e73c.jpg
Đ.N.T trước Văn Bia, Hà Nội- Mùa Đông 1996