Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

Thơ tặng vợ của nhà thơ Nguyễn Duy - Đỗ Ngọc Thạch

Thơ tặng vợ của Nhà thơ Nguyễn Duy
Đỗ Ngọc Thạch
Trong tập thơ VỀ (tập hợp những bài viết từ 1990 đến 1994) xuất bản cuối năm 1994, nhà thơ Nguyễn Duy đã thể hiện rất rõ quan điểm mỹ học “Về với cội nguồn “ của thơ Nguyễn Duy:
Rơm rạ ơi ta trở về đây
xin cúi lạy vong linh làng mạc
bà và mẹ hóa cánh cò cánh vạc
ông và cha man mác kiếp trâu cày
Rơm rạ ơi ta trở về đây
ngôi chùa cũ mái đình xưa khuất bóng
cỏ áy vàng bãi tha ma vắng
lòng ngổn ngang gò đống tổ tiên nhà...

(Về đồng)
Những câu thơ nặng trĩu hồn quê, lay động tận trong sâu thẳm tâm linh và như từ lúc nào đưa người đọc trở về với bản ngã, với những gì con người nhất. Một lần tôi hỏi Nguyễn Duy, tại sao một con người có máu lang bạt kỳ hồ rất mạnh như anh lại ra hẳn một tập thơ VỀ, anh nói rất rõ:”Đường về trên đồ thị thời gian của thơ tôi như một vòng luân hồi. Tôi đã thử theo nhiều nẻo đường thơ mong đi tìm cho mình một giọng điệu lạ, lòng vòng mãi, lại lần mò về chính cái điểm khởi đầu cuộc hành trình của mình, đó là thơ sáu tám. Kế đó là đường về trên đồ thị không gian thơ tôi, lang bạt hết miền đất này sang vùng trời nọ, rồi lại trở về với vũ trụ chính mình nơi có tất cả những gì gần gũi, thân thuộc, máu thịt nhất của mình. Thêm nữa là sự trở về trong tâm linh, làm thức dậy ký ức cùng những giá trị tinh thần đang rũ rượi ngủ mê hoặc đang chết dần trong lòng mình. Thêm nữa là… về già, về vườn, về nhà với vợ…”.
Và thế là chúng ta có tập thơ VỢ ƠI…Tập thơ VỢ ƠI…(tập hợp 18 bài viết từ 1971 đến 1994 do NXB Phụ nữ xuất bản cuối năm 1995) là sự về với vợ trăm phần trăm của thơ Nguyễn Duy. Những bài thơ này đã in rải rác trong các tập thơ trước đó của Nguyễn Duy, lúc đó, đặt bên cạnh những bài thơ có tinh thời cuộc bức xúc, nóng bỏng khác, những bài thơ về với vợ có vị trí khiêm nhường, tĩnh lặng, giản dị… Nhưng khi được tập hợp lại thành một chủ đề về với vợ thì tập thơ “VỢ ƠI…” khiến người đọc giật mình về độ lớn cũng như chiều sâu của hình tượng văn học NGƯỜI VỢ trong thơ Nguyễn Duy. Xin dẫn lại nguyên văn bài thơ “Vợ ơi…” và tôi tin rằng bất kỳ bậc mày râu nào cũng sẽ thấy mình bé nhỏ trước người vợ bình dị mà vô cùng lớn lao khi trở về với vợ :
Khi trong túi có mấy đồng ngọ nguậy
ta chạy rông như gì nhỉ - quên đời
lúc xơ xác bờm xơm từng sợi tóc
đói lả mò về
                  cơm đâu
                            vợ ơi…

*
Và tao tác bạn bè cơn hoạn nạn
đòn du côn tóe máu tâm hồn
Và tung tóe cả bướm vàng bướm trắng
này giọt cay giọt đắng giọt buồn nôn
móc họng mửa ra cầu vồng bảy sắc
vợ dìu ta
            từng bậc
                     thang mòn

*
Đêm huyền ảo một kinh kỳ se lạnh
một mình ta cô quạnh giữa muôn người
mặt sông lạ gợn nếp nhăn đuôi mắt
bủn rủn buồn
              ta thầm kêu
                             vợ ơi…
(Praha,7-1990 – Hà Nội,12-1990)
Về với vợ” là một nẻo về có vị trí đặc biệt quan trọng trong tâm linh thơ Nguyễn Duy được viết bằng những câu thơ ấn tượng mạnh. Nếu như ở tập thơ VỀ vừa nói ở trên con có gì đó trừu tượng, mông lung, huyền ảo thì ở đây vợ là Cõi về cụ thể:
Mải nưng nứng mộng siêu nhân
lên cơn giá vũ đằng vân giang hồ
Cuộc chơi hành hiệp lơ ngơ
vắt mình ra mấy giọt thơ nhạt nhèo
Dần mòn con chữ tong teo
liêu xiêu lều quán lèo tèo ven đê
Cánh buồm mây tướp chiều quê
Ruỗng
tênh hênh
        bịch
rơi
     về
          cõi em
( Cõi về )
Ta mơ màng ta uốn éo ta lả lơi
để mặc kệ mái nhà xưa dột nát
mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác
mặc kệ bàn tay mẹ nó xanh xao
Ta rất gần bể rộng với trời cao
để xa cách những gì thân thuộc nhất
nồi gạo hết lúc nào ta chả biết
thăm thẳm nỗi lo trong mắt vợ u sầu
Viên thuốc nào dành để lúc con đau
vợ nằm đó xoay xở mần răng nhỉ
cơn hoạn nạn bỗng làm ta tĩnh trí
ngọn gió tha hương lạnh toát gia gà
( Bán vàng )
Trong cuộc đời Nguyễn Duy, cái nạn lớn nhất là vợ ốm và có lẽ qua cái đại hạn này, nhà thơ mới hiểu hết vị trí cũng như giá trị của người vợ trong cuộc đời thi nhân:

1
Vừa một xuân lại một xuân
vợ ơi đại hạn đã gần một năm
một nhà là sáu mồm ăn
một thi nhân hóa phăm phăm ngựa thồ
2
Cái lưng em sụm bất ngờ
tứ chi anh lõng thõng quơ rụng rời
thông thường thượng giới rong chơi
trần gian choang choác sự đời tùy em
3
Nghìn tay nghìn việc không tên
mình em làm cõi bình yên nhẹ nhàng
thình lình em ngã bệnh ngang
phang anh xát bát xang bang sao đành
4
Cha con chúa Chổm loanh quanh
anh như nguyên thủ tanh bành quốc gia
việc thiên việc địa việc nhà
một mình anh vãi cả ba linh hồn…

( Vợ ốm )
Nguyễn Duy thường có những câu thơ mạnh cả về ngữ nghĩa và âm thanh và thường là thiên về cách nói cay độc, nhiều khi thái quá. Nhưng khi về với vợ, nhũng câu thơ của anh như được chuốt ra từ bàn tay diệu kỳ của người vợ thành những vần thơ lung linh – đó là những vần thơ “thi trung hữu họa” về chân dung người vợ :
Mùa xuân trở dạ dịu dàng
hoa khe khẽ hé nhẹ nhàng hương bay
Nhẹ nhàng lộc cựa nách cây
dịu dàng vương dải tím mây ngang chiều
Nhẹ nhàng tiếng bóng xiêu xiêu
em ngồi chải tóc muối tiêu dịu dàng
Má hồng về xứ hồng hoang
tóc rơi mỗi sợi nghe ngàn lau rơi
Dịu dàng vang tiếng mắt cười
bỏ qua sấm chớp một thời xa xăm
Bỏ qua tội tháng nợ năm
tự nhiên giọt nước mắt lăn nhẹ nhàng…

( Dịu và nhẹ )
Mỗi độ xuân về Tết đến  Nguyễn Duy đều có thơ cho vợ và phải nói đó là những cảm hứng thi ca đẹp nhất của hồn thơ Nguyễn Duy và cũng là những bài thơ được đông đảo bạn đọc đồng cảm nhất, bởi khi nhà thơ về với vợ là về với tình yêu vợ chồng bình dị mà vô hạn – đó mới chính là THƠ TÌNH trọn vẹn nhất, cao đẹp nhất:
Ứa nước mắt mà yêu nhau trọn vẹn
khấp khểnh đường dài thập thễnh bon chen
lắm lúc chữ nghĩa vô nghĩa tuốt
bàn tay bé con phủi bụi ưu phiền
Trời cho sống ta cũng già em ạ
con thương cha không bằng bà thương ông
tình như rượu chôn lâu đằm lịm lại
cuối đời đem ra nhấm mới mềm lòng

(Yêu)
Đỗ Ngọc Thạch

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch trên vannghechunhat.net

Trang chủ - Văn Nghệ Chủ Nhật

Thứ sáu, 10 Tháng 2 2012 22:22 TRUYỆN - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Tên tướng cướp hoàn lương

Tên tướng cướp hoàn lươngl. Khi còn làm việc ở Sở Văn hóa Thông tin của một tỉnh miền cao nguyên đất đỏ, tôi thường đi xuống các huyện (đi cơ sở) và đi họp ở Sài Gòn bằng xe ô tô (loại xe TOYOTA) với ông Giám đốc Sở. Đi đường dài tất xảy ra nhiều chuyện không thể lường trước, cũng giống như câu thành ngữ “Đi đêm nhiều tất có ngày gặp ma”.

Ba lần thoát hiểm

Năm 1961, tôi học lớp Năm ở trường Phổ thông cấp 2-3 Lương Ngọc Quyến, thị xã Thái Nguyên, nay là Thành phố Thái Nguyên. Tính đến nay (năm 2011) là đã chẵn 50 năm. Số bạn học cùng tôi ở lớp Năm hồi đó, suốt 50 năm qua tôi chưa hề gặp lại người nào.
Thứ sáu, 10 Tháng 2 2012 22:01 TRUYỆN - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Tứ đại mỹ nhân chân dài (Chùm truyện mini)

1. Bất đồng ngôn ngữ
Ông Trần Phương Nam và bà Lê Thị Cực Bắc đều có bằng Tiến sĩ khoa học, ông chuyên nghiên cứu về vũ trụ còn bà là nhà xã hội học chuyên nghiên cứu về tệ nạn xã hội.
Thứ sáu, 10 Tháng 2 2012 21:44 TRUYỆN - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Cô giáo vùng cao (chùm truyện mini)

Cô giáo vùng cao (chùm truyện mini)1. Mối tình đầu
Bà Hồng Nụ người ở làng Thượng xã X huyện Y tỉnh Z là một thôn nữ chính chuyên. Ngày tiễn người yêu lên đường ra trận, bà tặng anh chàng một cái khăn thêu có hai con chim đậu trên một cành đào …
Đọc thêm...

Cô giáo vùng cao (chùm truyện mini)

Thứ sáu, 10 Tháng 2 2012 21:44 TRUYỆN - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
Cô giáo vùng cao (chùm truyện mini)
1. Mối tình đầu
Bà Hồng Nụ người ở làng Thượng xã X huyện Y tỉnh Z là một thôn nữ chính chuyên. Ngày tiễn người yêu lên đường ra trận, bà tặng anh chàng một cái khăn thêu có hai con chim đậu trên một cành đào …
Thời gian thấm thoát thoi đưa, bà Hồng Nụ chờ người yêu chẵn bốn mươi năm trời, lúc tóc bà đã bạc thì anh chàng mới về. Lúc này anh chàng người yêu của bà không còn là anh lính binh nhì năm xưa, mà đã là một ông thiếu tướng ! Bà nhìn cái quân hàm cấp tướng trên ve cổ áo và nói : “Người yêu tôi là anh lính binh nhì, quân hàm cũng có một sao, nhưng cái “miếng tiết” không màu mè như cái “miếng tiết” của ông này ! Cái khăn thêu tôi tặng ông năm xưa đâu rồi ?” Ông thiếu tướng lúng túng nói : “Tôi làm mất rồi !...” Bà Hồng Nụ buông một tiếng thở dài , nhìn về nơi xa xăm và nói nhỏ: “Ông không phải là người tôi đã chờ đợi bốn mươi năm, ông không phải là mối tình đầu của tôi !”
2.Tà rích…Tà rích
Có một người chuyên đi bắt dế để bán cho những người chơi chọi dế. Kinh nghiệm mà anh ta đúc rút được qua thời gian dài đi bắt dế là: hễ thấy trong đám cỏ xanh mướt có tiếng dế gáy “Tà rích…Tà rích…Tà…rich”, tiếng gáy thứ ba nhỏ hơn và kéo dài, thì đích thị là có một, hoặc hai chú dế chọi vào loại cao thủ! Lần ấy, anh ta lùng sục đã lâu mà chưa gặp con dế nào. Quá chán nản, người bắt dế định bỏ về thì bỗng có tiếng dế phát ra từ một đám cỏ xanh mướt:”Tà rich…Tà rích”. Người bắt dế thoáng nghĩ:”Quái, sao hôm nay chỉ có hai tiếng gáy?” Tuy thế, anh ta vẫn tiến đến chỗ có tiếng dế phát ra… Một con rắn độc đang nuốt chú dế tội nghiệp, thấy người bắt dế tiến lại gần sát thì phóng tới, mổ một nhát trúng bắp đùi người bắt dế!...
3.Phỏng vấn các nhà thơ
Một nhà báo thường thích phỏng vấn kiểu đột kích, chớp nhoáng vì nhà báo cho rằng chỉ có những lúc ấy mới nhận được lời nói thực, còn nếu hẹn hò, chuẩn bị trước thì chỉ nhận được sự tô vẽ, làm dáng! Một lần, ngẫu nhiên nhà báo gặp Năm nhà thơ đang ngồi uống bia ở một quán bia có tiếng. Tức thì, nhà báo cầm vại bia tới, cụng li rồi hỏi nhà thơ thứ nhất: "Anh thường làm thơ khi nào?" Trả lời: "Tôi làm thơ khi thấy ngứa ngáy, cứ như là những câu thơ đang bò dưới da, như con dế trũi ủi đất thành những đường hào!" Nhà thơ thứ hai cũng được hỏi câu hỏi trên, và trả lời: "Những câu thơ như là đang chui vào trong tóc tôi làm tóc tôi lúc thì dựng ngược, lúc thì rối bời…và tôi chỉ việc nhặt chúng ra đặt lên trang giấy, như người đàn bà bắt chấy!". Cũng câu hỏi ấy, nhà thơ thứ ba uống cạn vại bia rồi mới nói:"Tôi làm thơ lúc tôi mất trí, lúc tôi phát điên!" Nhà thơ thứ tư nói tiếp:"Những câu thơ như một con ma vô hình cứ như là đang từ từ nuốt tôi, tôi đau đớn rên la, và tôi đã bảo vợ tôi – người thư ký đắc lực – ghi âm lại những âm thanh rên la đó, đó cũng chính là thơ!" Còn nhà thơ thứ năm thì nói ngập ngừng: "Tôi luôn cảm thấy bất lực trước ngôn từ, nhưng trái tim thì như bị búa máy đập vào!"…
Năm năm sau, nhà báo kia đã nổi danh thành nhà phê bình văn học độc đáo, muốn đi tìm gặp lại năm nhà thơ nọ. Đi hỏi thăm mãi mới gặp được nhà thơ thứ nhất: anh ta đang nằm điều trị ở Bệnh viện Da liễu, toàn thân lở loét! Còn nhà thơ thứ hai thì đã xuống tóc được bốn năm, sắp lên chức sư thầy! Nhà thơ thứ ba thì không thể nói chuyện được câu nào, anh ta đang bị nhốt trong buồng giam đặc biệt, cửa sắt, song sắt nặng chịch. Nhà thơ thứ tư không kém phần thê thảm: anh ta đang phải xạ trị ở Bệnh viện ung thư, bệnh đã ở vào giai đoạn cuối! Tìm mãi không thấy nhà thơ thứ năm đâu, nhà báo đang định viết bài tiểu luận “Gặp lại năm nhà thơ năm năm trước, nhưng nhà thơ thứ năm đang mất tích” thì nhận được cú điện thoại của chính nhà thơ thứ năm:”Tôi được người nhà, bạn bè báo tin anh đang tìm tôi. Vậy hãy đến ngay quán bia năm năm trước, tôi sẽ đọc anh nghe trường ca “Lên rừng, xuống biển”, mới viết xong tức thì, còn nóng hổi, vừa thổi vừa đọc!”. Nhà báo – tức nhà phê bình, nghe điện thoại xong thì đi ngay, vừa đi vừa lẩm bẩm:"Có thế chứ! Tất nhiên là thế chứ!"…
4. Cô giáo vùng cao
Thanh Lan là một cô gái thành phố trăm phần trăm và thuộc dạng gia đình “gia giáo”, cô là đời thứ tư làm nghề sư phạm. Vì thế, khi tốt nghiệp Đại học Sư phạm, cô bị phân công về một trường huyện vùng cao, vùng sâu, vùng xa, cô vẫn lặng lẽ khăn gói lên đường, chẳng lẽ lại bỏ nghề sư phạm cao quý mà dòng họ cô đã đeo đuổi bổn thế hệ?
Ngày đầu tiên đến huyện có trường học mà Thanh Lan sẽ nhận nhiệm vụ, cô bị lạc vào một vùng đồi đúng như cái bài hát nào đó đã mô tả “bạt ngàn cao su, bạt ngàn cà phê”! Cô loay hoay tìm đường ra nhưng cứ như là đi trong mê cung, đi hoài, đi mãi lại trở về chỗ cũ! Cô tuyệt vọng , trào nước mắt thì bàng hoàng cả người khi thấy một thanh niên người dân tộc, to khỏe như võ sĩ quyền anh da đen đứng sừng sững trước mặt! Cô đã kinh hoàng đến ngất xỉu!...Khi tỉnh lại, Thanh Lan thấy mình nằm trên một tấm vải nilon trải trên khoảng đất trống giữa các lô cà phê…Cô đang ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra với mình thì có tiếng nói nghe quen quen:”Thanh Lan tỉnh rồi kìa!”… Hồi lâu, Thanh Lan mới trở lại bình thường. Cái giọng nói nghe quen quen đó chính là của chị Thanh Cúc, học trên Thanh Lan ba khóa và cũng là họ hàng xa với Thanh Lan. Thấy Thanh Lan cứ ngơ ngơ ngác ngác như người bị ma –lai nhập, chị Thanh Cúc đã cho cô uống một chén rượu mật ong để “tăng lực” và nói:”Chị về đây đã ba năm, đẻ được ba thằng “oẳn-tà-roằn” khỏe như gấu con và hiện làm bà chủ một trại cà phê, cao su bạt ngàn! Em định hỏi chị tại sao lại bỏ nghề sư phạm hả! Chúng ta không thể chọn nghề nghiệp mà nghề nghiệp nó chọn chúng ta. Ngay ngày đầu tiên lên lớp, chị đã bị thằng Kso Tạ nhìn chằm chặp như muốn nuốt sống, và ngay đêm hôm đó, nó đã lẻn vào phòng ngủ của chị… Nó khỏe lắm, chịu thua nó thôi!...Sau đó một tuần, nó bỏ học và bắt chị bỏ nghề cô giáo về làm vợ nó!...”
Chín tháng mười ngày sau cái buổi “lạc đường” đó, Thanh Lan đã sinh hạ một thằng bé “oẳn-tà-roằn” đầu tiên!...Người ta đến chúc mừng “Đệ nhị Phu nhân” Trại chủ bằng những lẵng hoa cà phê thật độc đáo!...
5.Chuyện về ba nhà thơ …
Có ba nhà thơ cùng đi thực tế ở vùng nông thôn, cùng ở trọ trong một nhà. Ba nhà thơ này có ba sở trường khác nhau : Một nhà thơ chuyên viết Trường ca dài hàng ngàn câu, nhà thơ thứ hai chuyên viết thơ Trữ tình muôn vàn xúc động, đắm say lòng người, nhà thơ thứ ba chuyên viết thơ Tứ tuyệt ngắn gọn mà sâu sắc. Sau một tuần, cả ba nhà thơ đều phát hiện ra rằng : Cô chủ nhà cùng “Yêu” cả ba nhà thơ ! Ba nhà thơ cùng nghĩ : Thế mới hay không biết “mèo nào cắn mỉu nào”, Trường ca, thơ Trữ tình và thơ Tứ tuyệt không biết ai hơn ai? Và cùng nói : “Sau chín tháng nữa, đứa bé được sinh ra thì mới phân rõ ai thắng ai!” Ba nhà thơ trở về và cùng nôn nao ngóng đợi kết quả. Đúng sau chín tháng ba ngày, ba nhà thơ nhận được bức điện báo: “Em đã sinh con, đứa bé rất bụ bẫm, kháu khỉnh! Nó được đặt tên là Hoàng Lê Nguyễn Tứ Tuyệt !”
Thế mới biết , ngắn gọn và sâu sắc mới có hiệu quả !...
6. Luận bàn thế sự
Có bốn ông bạn già, sàn sàn tuổi nhau, cùng thích chơi cờ và luận bàn thế sự nên ngày nào cũng hết chơi cờ lại luận bàn thế sự không bao giờ dứt ra được!... Thấm thoát thoi đưa, cả bốn người vẫn không thay đổi việc làm hàng ngày là chơi cờ và luận bàn thế sự, mặc dù đã hơn trăm tuổi ! Mọi người xung quanh thấy lạ, bèn “Bắc thang lên hỏi Ông Trời” tại sao lại như vậy? Ông Trời nói:”Bốn ông già ấy chơi cờ không phân thắng bại, nên coi như chưa chơi! Khi luận bàn thế sự, họ chỉ nói chuyện phòng chống Tham nhũng, nên coi như chưa nói gì! Vậy thì họ đã sống hơn trăm tuổi mà cũng như chưa sống, làm sao bắt họ chết được!”                               
Đỗ Ngọc Thạch
http://img.m.vietgiaitri.com/2011/12/3/nhung-chan-dai-duoc-khao-khat-nhat-the-gioi-c8ed31.jpg

Tứ đại mỹ nhân chân dài (Chùm truyện mini)

Thứ sáu, 10 Tháng 2 2012 22:01 TRUYỆN - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
1. Bất đồng ngôn ngữ
Ông Trần Phương Nam và bà Lê Thị Cực Bắc đều có bằng Tiến sĩ khoa học, ông chuyên nghiên cứu về vũ trụ còn bà là nhà xã hội học chuyên nghiên cứu về tệ nạn xã hội.
Khi hai ông bà cưới nhau ai cũng khen đẹp đôi, đám cưới đông vui nhất nhì thành phố, khách mời toàn những vị giáo sư khả kính, các nhà khoa học ở mọi lĩnh vực…Nhưng chỉ một năm sau, hai ông bà dắt nhau ra tòa xin ly hôn. Vị thẩm phán hỏi : “Lý do hai người đưa ra là bất đồng ngôn ngữ, tôi thấy không rõ, yêu cầu nói cụ thể hơn?” Ông Nam nói : “Bà ấy suốt ngày toàn nói chuyện tệ nạn xã hội như xì ke ma túy, trộm cướp, cưỡng bức, v.v…Tôi nghe nhức cả đầu, điếc cả tai không thể nào chịu nổi!” Bà Bắc nói : “Còn ông ấy thì lúc nào cũng hành tinh nọ hành tinh kia, còn nói Trái Đất sẽ đụng vào Sao Hỏa, Sao Kim gì đó! Không là người tâm thần thì cũng là đồ vô tích sự, tôi không thể chịu nổi!” Thẩm phán lại hỏi : “Vậy tại sao hai ông bà lại đồng ý cưới nhau?” Ông Nam nói : “Khi tôi đang nghiên cứu về chòm sao Bắc Cực thì có người quen giới thiệu bà Cực Bắc. Tôi cho đó là duyên số nên đồng ý cưới, chứ thực tình tôi chẳng yêu đương gì hết!” Bà Cực Bắc nói ngay : “Tôi cũng đâu có yêu ông ấy, chỉ tại người bạn mối mai nói rằng ông ấy rất tốt, chưa hề phạm tội bao giờ! Thời buổi bây giờ kiếm được người chưa hề phạm tội khó lắm, hiếm lắm, nên tôi đồng ý theo sự sắp đặt của bạn bè!” Tòa đành phải cho hai người ly hôn vì không thể hòa giải nổi, không lý lẽ nào thuyết phục được hai cái bằng Tiến sĩ này!...
Nửa năm sau, ông Thẩm phán lại gặp bà Cực Bắc đòi xử ly hôn với người chồng mới, là đồng nghiệp cùng ở Viện Xã Hội học. Thẩm phán hỏi : “Lần này thì hai người cùng ngành cùng nghề, cùng bằng cấp như thế thì làm gì có chuyện bất đồng ngôn ngữ nữa, tại sao lại phải ly hôn?” Bà Bắc nói : “Ngày nào ông ấy cũng cãi nhau với tôi về đủ thứ chuyện: Tội phạm nào nặng hơn, hình thức xử phạt như thế đã thích hợp chưa, rồi ông ấy đòi xử bắn mấy vụ cưỡng dâm trẻ con! Ông ấy chẳng hiểu pháp luật gì cả!” Ông chồng mới, tên gọi Thiết Cương, nói : “Bọn tội phạm hầu như không biết hối cải, cho nên xử nhẹ tức là dung túng tội ác, có người nào mà không tái phạm, dân gian có câu thành ngữ “Ngựa quen đường cũ” mà chẳng ai hiểu gì cả, bà Cực Bắc nhà tôi càng không hiểu!” Tòa đành phải cho ly hôn vì cũng không thể hòa giải, cũng không lý lẽ thuyết phục được hai cái bằng Tiến sĩ này!...
Bà Cực Bắc còn đến tòa xin ly hôn hai lần nữa với những lý do tương tự! Cuối cùng thì bà đành sống độc thân vì bà đã lên tới chức Viện phó, chẳng lẽ cứ đi ra tòa hoài thì còn mặt mũi nào mà lãnh đạo cơ quan nữa!...
2. Gieo gió gặp bão
Ông Tư Láu mở quán sửa chữa xe máy bên xa lộ, cần cù làm việc cũng đủ sống cho cái gia đình bé nhỏ của ông. Nhưng rồi cái xấu chui vào ông từ lúc nào không biết, ông đem đinh ra rải ở ngoài lộ…Một tuần trôi qua, số người vào quán ông Tư Láu vá xe ngày càng nhiều, ông tha hồ chặt chém! Một hôm, hai vợ chồng ông Tư Láu đang ngồi đếm tiền thì bỗng “Rầm!” , một chiếc xe tải loại nhẹ lao thẳng vào cái quán sửa xe của ông, ông chưa kịp hiểu chuyện gì đã xảy ra thì hồn đã lìa khỏi xác, còn vợ ông thì chết trong Bệnh viện!...Thì ra, chiếc xe tải kia phóng nhanh quá, lại cán phải mấy cái đinh lớn nên vỏ xe bị bể, xe bị mất tay lái, lao vào nhà ông Tư Láu. Nhưng làm sao mà nói cho ông Tư Láu biết được rằng chính ông đã “Gieo gió” nên phải “Gặt bão” !
3.Tứ đại mỹ nhân chân dài
Làng Hủi là cách gọi tên tự ti của người xưa chứ chẳng có ai bị cùi, hủi cả. Tên người cũng vậy, toàn lấy các loài sinh vật hạ đẳng, thấp hèn để đặt tên như Cóc, nhái, chẫu chàng, ễnh ương,… Con nít thì suốt cả tuổi ấu thơ toàn gọi theo cái bộ phận sinh dục mà nó có, như con trai thì gọi thằng Cu, thằng Cặc, thằng buồi, con gái thì gọi con bướm, con hẽm. con hĩm, con Lờ… Không hiểu vì lí do gì mà người làng Hủi phần lớn là người có thân hình cao lớn và gày gò và đều bị coi là xấu xí, thô kệch. Những người cao lớn lòng khòng bị coi là xấu xí thô kệch đó (thường cao từ một mét bảy dến một mét tám) xấu hổ, mặc cảm tự ti nên chẳng bao giờ rời khỏi làng đi làm ăn xa! Và con số tồn đọng lại ở làng cứ lớn dần theo năm tháng! Và làng Hủi còn có những tên gọi khác là làng cao kều, làng cà kheo, làng người vượn,v.v…
Nhưng một ngày kia, có một ông Huấn luyện viên Bóng chuyền, HLV Bóng rổ tới, bốc đi cả chục cô cậu hẽm, cu. Tiếp sau đó là ông bầu Người mẫu thời trang, cũng bốc đi một tá (12) cô cậu hĩm, buồi! Và rồi cái gì đến đã đến, các cô, các cậu được bốc đi ngày nào đã trở về làng với nghi thức “Vinh qui bái tổ” thật là long trọng, bởi các cô, các cậu hĩm , cu đã là những tuyển thủ quốc gia của bóng chuyền, bóng rổ, đã là những người mẫu thời trang chân dài đắt giá! Và đặc biệt, trong số người mẫu thời trang chân dài, có tới bốn cô nàng đạt danh hiệu “Siêu người mẫu” với số đo cả ba vòng đều “Bốc lửa”, người ta đều gọi bốn cô là “Tứ đại mỹ nhân chân dài!”
Thế đấy, chuyện làng Hủi thay da đổi thịt có thể kể “ngàn lẻ một đêm” không hết, sự huyền diệu của Con Tạo xoay vần làm sao cắt nghĩa nổi! Nhưng có mấy người độc mồm độc miệng lại nói không thiện ý về làng Hủi rằng “Thời đại cóc nhái lên làm người!”. Vì thế, phải đưa chuyện này lên Mạng để xin ý kiến chư vị!
4. Thủ lĩnh băng cướp đường sông
Tôi có anh bạn là cảnh sát hình sự, thường kể cho tôi nghe những vụ án, trong đó có nhiều vụ án rất ly kỳ, công việc phá án cũng thật khó khăn và hấp dẫn, không thua kém gì những vụ án nổi tiếng đã thành phim của thế giới. Tôi đặc biệt chú ý đến vụ án “Băng cướp đường sông” mà thủ lĩnh là một bà già đã gần 60 tuổi. Lúc này, vụ án “Băng cướp đường sông” đang ở giai đoạn cuối, việc phá án sắp hoàn tất. Hôm ấy tôi đang định hỏi anh bạn xem việc phá án tới đâu rồi, thì anh bạn nói ngay : “Đi với tôi ngay, hôm nay chúng tôi sẽ bắt sống thủ lĩnh “Băng cướp đường sông”, anh sẽ được chứng kiến những pha gay cấn, hồi hộp chưa từng thấy!”…
Chúng tôi xuất phát và hành quân thần tốc ,nhưng cũng phải gần hai giờ đồng mới tới nơi. Đó là một khu miệt vườn ven sông, cây cối um tùm… Theo kế hoạch, lực lượng phá án sẽ ém quân làm thành ba vòng vây bao quanh nhà của mẹ đối tượng, khi đối tượng xuất hiện sẽ “cất vó”! Đối tượng ở đây tức là Thủ lĩnh băng cướp đường sông, nổi tiếng xuất quỷ nhập thần, đến không ai biết, đi không ai hay, theo tin của nội gián thì hôm nay, đối tượng sẽ đến thăm mẹ. Vì thế mới có cuộc giăng lưới này!
Cuộc mai phục đã trôi qua bốn tiếng đồng hồ, mọi người đã thấy mỏi mệt, chán nản. Tôi nói với anh bạn:”Tôi không phải cảnh sát hình sự, nhưng cảm thấy có gì đó bất thường…Sự linh cảm của tôi thường rất chính xác!” “Anh nói rõ hơn xem sao?” – người bạn nói.”Tôi nghĩ rằng đối tượng đã vào căn nhà này. Anh có quan sát kỹ những người đã vào, ra căn nhà này không?” – “Có chứ!- Anh bạn nói nhanh rồi hai cánh mũi phập phồng, như là đang đánh hơi ở một chỗ cách xa chứ không phải xung quanh chỗ chúng tôi đang đứng, rồi anh nói nhỏ mà rõ từng tiếng – Mẹ của đối tượng là một bà lão đã gần tám mươi tuổi, còn khỏe nhưng đi lại hơi chậm chạp, và luôn luôn dùng loại dầu gió ”Con Ó”. Còn đối tượng chỉ mới gần sáu mươi tuổi, sức khỏe còn rất tốt , đi lại rất nhanh nhẹn, và luôn dùng dầu sức đặc biệt, loại tự chế!”Tôi nói ngay:”Nếu thế thì bà lão khoảng tám nươi mới vô nhà, và khi đi qua để lại mùi dầu sức đặc biệt lọai tự chế chính là đối tượng của chúng ta?!” Người bạn vỗ tay vào đùi, nói:”Chính xác! Đối tượng vừa mới đi vào nhà trong hình dạng một bà lão! Chúng ta ập vào nhà bắt ngay!” Khi chúng tôi bước gần tới cửa thì thấy có một ông lão đi ra, khi gặp chúng tôi thì nói:”Hai mẹ con bà lão muốn mời các anh vào nói chuyện!”
Chúng tôi vào trong nhà, cả tôi và anh bạn đều nhận ra mùi dầu gió Con Ó tràn ngập, và anh bạn tôi cánh mũi phập phồng, nói nhỏ:”Dầu gió đặc biệt loại tự chế vừa đi ra, chính là ông lão vừa đi ra đó!”. Tôi hỏi:”Sao không đuổi theo bắt lại?” Anh bạn nói chậm rãi:”Muốn bắt phải xin lệnh của Sếp! Sếp vừa điện ra lệnh rút quân!” Tôi nhăn nhó:”Tại sao lại rút quân? Phá án kiểu gì lạ vậy?”. Anh bạn ngần ngừ một lát rồi nói chỉ đủ tôi nghe:”Lạ bởi vì như là tôi đã ngửi thấy cả mùi dầu gió Con Ó và mùi dầu gió đặc biệt loại tự chế này ở nhà của Sếp ngày hôm kia?!”…
5. Diễn viên đóng thế
Ông Hoàng Cao Đại là một nhân vật VIP, hôm ấy loạng quạng thế nào, lái xe và đụng phải hai cô nữ sinh áo dài trắng đang chở nhau đi học! Lúc ấy bà vợ ông, ngồi bên cạnh tay lái nói : “Vọt lẹ đi ! Bữa tiệc chiêu đãi này mà đến muộn là không được đâu!...” Ông Đại ngoái nhìn, thấy hai cô nữ sinh đã nằm lăn ra đường, không biết sống chết thế nào, nhưng lệnh của “Quan Bà” không thể trái ! Ông còn nghe thấy Quan Bà lẩm bẩm : “Lại tốn tiền sơn sửa vết xước !...”
Hôm sau, Quan Bà nhận được tin có người nhìn thấy xe của Quan Ông đụng phải hai cô bé học sinh, mà hai cô bé phải vào bệnh viện cấp cứu chưa biết nặng nhẹ thế nào, nên đã báo công an, Quan Bà lo lắm ! Nghĩ mãi không ra cách giải thoát cái vụ đụng xe này thì Quan Bà sực nhớ có thằng cháu họ xa, nghe nói làm nghề đóng thế rất phiêu lưu mạo hiểm mà nó không sợ chết, cứ tỉnh khô! Bà liền gọi điện cho thằng cháu, nhờ nó “đóng thế vai đụng xe”! Lúc đầu, thằng cháu không chịu, bà phải thuyết phục mãi và cho nó một món tiền nó mới nhận lời
Sau khi nhận nhiệm vụ đóng thế vai đụng xe người cháu, tên gọi Yên Thế, liền tới bệnh viện chỗ hai cô học sinh cấp cứu . Khi gặp hai cô học sinh rồi, Yên Thế thở phào, vì hai cô nữ sinh chỉ bị xây xát nhẹ, đã trở lại bình thường, nói cười rất vui vẻ. Yên Thế tính đón tắc xi đưa hai cô về nhà thì một cô nói : “Lúc ấy em chỉ thoáng nhìn nhưng thấy rất rõ hai người ngồi trong xe, một đàn ông một đàn bà đã đứng tuổi và có dáng vẻ quan chức chứ không phải là một thanh niên như anh chàng này ? Yên Thế bèn nói thật : “Tôi vốn làm nghề đóng thế cho Hãng Phim Sao Mai , nên khi được nhờ làm việc đóng thế người đụng xe tôi không thể từ chối!...” Một cô lại nói : “Tội của anh là bao che tội phạm, lại còn định đánh lừa cơ quan điều tra ! Nếu anh không muốn tôi tố cáo thì phải nhận làm vệ sĩ suốt đời cho tôi!” Đương nhiên là Yên Thế nhận lời ngay, và chỉ sau một năm Yên Thế cưới cô học sinh đó ! Đi vào “Cửa Tử” mà có được vợ đẹp, chỉ có một anh chàng Yên Thế mà thôi !...
6. Mùa hè nồng cháy
Những ngày nghỉ cuối tuần trước đây, một tháng đôi lần, vợ chồng ông Trung Hạ và bà Nắng Mới đều tổ chức cho cả nhà đi “Pic-nic”, mùa hè thì đi tắm biển cho mát mẻ, mùa lạnh thì đi leo núi cho ấm người. Nhưng từ khi mấy đứa con vụt lớn, có người yêu cặp kè thì những cuộc chung vui của đại gia đình không còn nữa mà chia ra thành các “Thế giới riêng” các “Tiểu vương quốc Ái tình “ của từng người!...”Không biết ông ấy (bà ấy) có “Thế giới riêng” không nhỉ?” – đó là ý nghĩ ở trong đầu của cả hai vợ chồng ông Trung Hạ và bà Nắng Mới, nhưng làm sao mà “Đăng nhập” vô được?
…Mùa hè năm nay sao mà nắng nóng hơn mọi năm rất nhiều? Nếu như là trước đây, cả nhà đã kéo nhau ra bãi biển. Nhưng năm nay thì…Ông hỏi bà:”Sao bà không nói đến chuyện đi tắm biển nữa?”. Bà khẽ buông một tiếng thở dài, nói nhỏ:”Người tôi giờ ục ịch quá, mặc đồ tắm không coi được… Với lại tôi thấy từ ngày ông lên chức Sếp Lớn, suốt ngày ngồi trong phòng máy lạnh, không chừng có cả bể tắm ở trỏng, thì thiết gì đi tắm biển nữa!?” Ông ấp úng không nói gì, bà nghĩ rằng đã nói “trúng phóc” nên ông “giật mình” chăng? Cái chuyện mấy ông Sếp Lớn có bể tắm trong phòng rồi đưa “bồ nhí” vào tung tăng bơi lội như trẻ nhỏ tuy không phát tán rộng khắp trên “mạng” nhưng đã là câu chuyện cửa miệng của đẳng cấp Phu nhân, bà Nắng Hạ quá rành mấy trò chơi đó của các Sếp Lớn!...
…Ngày nghỉ cuối tuần lại đến, nghe nói ông mắc bận họp đột xuất, bà lẳng lặng kêu taxi ra bãi biển. Ngồi trong taxi rồi, bà mới giở cái bikini của một “người giấu mặt” gửi tặng hôm qua ra coi. Quả là hàng xịn, không chê vào đâu được, chắc là sẽ rất đẹp, rất nổi trên bờ biển!... Tới bờ biển, bà Nắng Mới mặc bộ bikini vào và thong thả đi dạo một vòng, quả nhiên ai nhìn bà cũng trầm trồ!...Thì ra mình đã “hồi xuân” thiệt chứ không rỡn! Nghĩ vậy, bà mỉm cười mãn nguyện và đi đến tảng đá lớn ở cuối bãi tắm, nơi mà ba mươi năm trước bà đã gặp ông ở đây để rồi trở thành vợ ông? Tới bên tảng đá lớn, bà đang loay hoay tìm chỗ ngồi thư giãn thì giật thót khi có người đàn ông chỉ mặc cái “xì-líp” đột ngột xuất hiện trước mặt bà! Bà thấy mắt hoa lên, đầu óc quay cuồng rồi ngất xỉu, không biết trời đất gì nữa!...Khi bà Nắng Mới tỉnh lại, chỉ thấy hai cô y tá áo trắng toát, nghe các cô nói đưa bà tới đây là một ông mặc xilip còn bà thì mặc bikini, bà bật khóc khi nghĩ rằng bà đã bị thằng cha mặc xilip kia làm nhục! Nhưng khi nghe hai cô y tá nói ông mặc xilip nói là chồng bà, đang đi thay đồ và sẽ trở lại ngay thì bà lại bật khóc, nhưng lý do khóc lần này là vì bà thấy thật hạnh phúc!...

Đỗ Ngọc Thạch

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012

BA LẦN THOÁT HIỂM; TƯỚNG CƯỚP HOÀN LƯƠNG - Đỗ Ngọc Thạch

BA LẦN THOÁT HIỂM
Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Năm 1961, tôi học lớp Năm ở trường Phổ thông cấp 2-3 Lương Ngọc Quyến, thị xã Thái Nguyên, nay là Thành phố Thái Nguyên. Tính đến nay (năm 2011) là đã chẵn 50 năm. Số bạn học cùng tôi ở lớp Năm hồi đó, suốt 50 năm qua tôi chưa hề gặp lại người nào. Những tưởng đó chỉ còn là ký ức xa mờ thì thật diệu kỳ, trong dịp lễ kỷ niệm 30-4 và 1-5 vừa rồi, tôi đã bất ngờ gặp lại không chỉ một mà tới ba người bạn học cùng lớp Năm từ hồi năm 1961 đó. Có cuộc hội ngộ không tiền khoáng hậu này bởi mấy người bạn học của tôi đã đứng ra tổ chức một buổi họp lớp “Bạn học thời cởi truồng”. Tại sao không phải là bạn học Đại học hoặc cấp học nào tương đương hay cao hơn? Chỉ là bởi bà vợ của chủ nhà đăng cai hiện đang là Hiệu trưởng một trường Tiểu học mà những người bạn học cũ cùng muốn hùn vốn đầu tư nâng cấp cho ngôi trường bé nhỏ này. Sự có mặt của tôi ở buổi họp lớp “Bạn học thời cởi truồng” này là hoàn toàn ngẫu nhiên: người cung cấp thường xuyên chè Thái cho tôi cũng là “nhà cung cấp” loại trà đặc sản này cho những người bạn học lớp Năm đó của tôi. Hôm ấy, khi đưa trà cho tôi, ông ta hỏi: “Ông nghiện trà Thái như thế, không biết đã từng ở Thái Nguyên hay chưa?” - “Tất nhiên là đã từng. Trong hai năm 1960, 1961 tôi đã ở Huyện Đồng Hỷ rồi Thị xã Thái Nguyên” - “Nếu vậy thì hẳn là ông cùng lứa tuổi với những người bạn trà Thái của tôi!”. Rồi ngay ngày hôm sau, người bán trà đưa tôi tới dự buổi họp lớp “Bạn học thời cởi truồng” có một không hai này.
Chuyện họp lớp “Bạn học thời cởi truồng” này có nhiều chuyện rất thú vị, chẳng hạn mấy người bạn của tôi đã gặp lại được cả những bạn học từ thời lớp Một, lớp Hai, lớp Ba, lớp Bốn. Mỗi khi gặp lại nhau, họ như được sống lại tuổi ấu thơ… Biết bao nhiêu là chuyện như là cổ tích trong những “chuyến tàu ngược thời gian” ấy, tôi sẽ kể dần vào dịp khác, ở đây chỉ xin nói về ba người bạn cùng học lớp Năm hồi năm 1961 với tôi. Người thứ nhất là Phan Thị Tiên Nữ, hiện là chủ một doanh nghiệp chuyên về Hậu táng. Người thứ hai là Lê Văn Chiến Công, hiện là chủ một doanh nghiệp chuyên về đóng hòm tủ và chủ yếu là đóng quan tài. Và người thứ ba là Trần Văn Thạch, chuyên về chạm khắc trên đá, chủ yếu là bia mộ. Ba người này, chỉ có họ Trần là trùng tên với tôi nhưng cả bốn chúng tôi không chỉ đều cùng tuổi Mậu Tý mà trùng cả tháng sinh và ngày sinh, chỉ khác giờ sinh mà thôi.
Còn có nhiều điểm trùng hợp nữa của bốn người bạn cùng học thời lớp Năm chúng tôi là: đều vào đại học được vài tháng thì nhập ngũ (năm 1966), nhưng ba người bạn tôi sau đó đều trở lại trường đại học ngay với quân phục áo lính (như Phan Thị Tiên Nữ thì từ Dân Y chuyển sang Đại học Quân Y, Chiến Công và Văn Thạch thì từ Đại học Bách Khoa chuyển sang Đại học quân sự, người chuyên ngành cầu đường, người thì chuyên ngành kỹ thuật vô tuyến), không như tôi, khi trở lại trường đại học thì đã không còn là quân nhân nữa. Hoặc có sự giống nhau rất cơ bản là cuộc đời cả bốn người đều có nhiều biến động lớn, bảy nổi ba chìm đủ kiểu!... Có một sự trùng hợp khá kỳ lạ của bốn người bạn chúng tôi là trong cuộc đời hơn 60 năm qua đã có ít nhất ba lần thoát hiểm rất đặc biệt: khi chỉ còn cách cái chết đường tơ kẽ tóc! Ba lần thoát hiểm của người bạn nữ Phan Thị Tiên Nữ dường như độc đáo hơn cả!
*
Lần thoát hiểm thứ nhất là khi xảy ra chuyện Cải cách Ruộng đất (CCRĐ; 1954-1956): cô bé Phan Thị Tiên Nữ tuy còn nhỏ nhưng dám chống đối Đội Cải cách quyết liệt (không những không tham gia đấu tố mà còn lén đem cơm cho những địa chủ đang bị giam) nên đã bị đem xử bắn cùng với người ông nội bị kết tội là đại địa chủ cường hào gian ác (người cha của cô bé Tiên Nữ lúc đó đang là bộ đội, đóng quân ở xa, nếu có về nhà lúc này cũng sẽ bị Đội CCRĐ bắt giam luôn). Khi những người trong đội tự vệ xã nhận được lệnh “Chuẩn bị!... Ngắm bắn!” thì có hai tiếng súng nổ liên tiếp “Đoành!... Đoàng!”. Thì ra hai người làm nhiệm vụ hành quyết nghe tới chữ “bắn”, tưởng là lệnh bắn, liền bóp cò. Nhưng, trước khi hai người kia bóp cò chỉ trong tích tắc, thì có một cơn gió lốc ào tới, khiến cả hai người theo phản xạ tự nhiên, xoay người 180 độ để tránh cát bụi do cơn lốc bay tới, táp vào mặt. Chính cái xoay người đó đã khiến cho cả hai nòng súng hướng vào phía những người chủ tọa, hai viên đạn đã găm vào mặt hai người lãnh đạo của tòa án nhân dân đặc biệt (*)! Trong lúc người ta cuống quýt đưa hai người trúng đạn đi cấp cứu thì có ai đó đã đưa hai ông cháu cô bé Tiên Nữ thoát khỏi pháp trường!... Mãi năm năm sau, cô bé Tiên Nữ mới biết hai người đã đưa ông cháu cô thoát khỏi pháp trường chính là hai người lính, bạn chiến đấu của bố cô, lúc đó đã lên tới chức Tiểu đoàn trưởng của một Trung đoàn chủ lực. Một trong hai người lính đó sau này đã trở thành phu quân của Tiên Nữ!
Lần thoát hiểm thứ hai của Phan Thị Tiên Nữ là vào cái ngày cô tới trường Đại học Y khoa nhập học. Lúc đó, năm 1966, trường Y sơ tán ở trong một khu rừng xanh bạt ngàn thuộc địa phận huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên. Đường tới khu sơ tán của trường đương nhiên là xa cách ngàn trùng và phải băng rừng lội suối miên man. Song, điều đáng sợ hơn cả là con đường tới trường đó hoang vắng rợn người và tai họa luôn rình rập: không rắn cắn hổ vồ thì cũng bị bọn lục lâm thảo khấu chặn đường! Hôm ấy, Tiên Nữ cùng một người bạn gái nữa rủ nhau đi cùng. Từ thị xã Thái Nguyên tới nơi trường sơ tán, đi nhanh cũng phải hết một ngày đường. Vì thế, phải khởi hành từ năm giờ sáng thì năm giờ chiều tới nơi, trước khi trời tối. Hai cô gái, người thì cầm gậy, người cầm dao luôn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, nhưng đi suốt nửa buổi mà không thấy có vấn đề gì? Hai người thấy chân mỏi rã rời và bụng thì réo sôi, liền ngồi xuống bãi cỏ ven đường, giở cơm nắm ra ăn. Nhưng, cả hai cô gái chỉ vừa nuốt xong miếng cơm đầu tiên thì thật bất ngờ, hai cái bao tải như từ trên trời ụp xuống đầu. Hai thằng chụp bao tải xem chừng rất khỏe, nhẹ nhàng xốc cái bao tải lên rồi lấy dây buộc túm miệng bao rất nhanh gọn, rất lành nghề. Hai cô gái không kịp phản ứng gì và khi kịp nhận ra cảnh ngộ của mình thì nghe tiếng hai thằng nói với nhau: “Lần này chúng ta bắt được hai tiên nữ chứ không phải người trần gian! Đại ca sẽ có thưởng lớn!” - “Mày thì lúc nào cũng Đại Ca, Đại Tẩu! Lần này, chúng ta hưởng lộc trước đã! Chẳng lẽ chúng ta suốt đời chỉ toàn ăn sái?” - “Mày đừng có ý định làm phản, Đại Ca mà biết là bị lột da chứ không đùa bỡn đâu!”. Hai thằng không nói gì nữa, vác hai cái bao lên vai rồi lách vào đám cây rừng. Đi được chừng năm phút, bỗng có tiếng quát lớn: “Đứng lại! Để hai cái bao tải xuống rồi biến thì ta tha chết!”. Thì ra có hai thằng lục lâm khác chặn đường, muốn đoạt hai cái bao tải của hai thằng kia. Hai thằng đang vác bao tải, thấy vậy thì quẳng cái bao tải xuống và nhất tề lao vào hai thằng chặn đường nhanh như hổ báo. Bốn thằng cuốn cuộn lấy nhau mà đấm đá với những chiêu thức rất tàn độc. Vì thế, không phải đợi lâu, chỉ năm phút sau thì cả bốn thằng cùng hồn lìa khỏi xác. Tiên Nữ không thấy động tĩnh gì thì gỡ cái kẹp tóc ba lá (**), nhẹ nhàng rạch cái bao tải rồi chui ra. Vừa ra khỏi cái bao tải, Tiên Nữ cũng thấy cô bạn đường của mình đang đứng cạnh cái bao tải rách, nhìn thấy cô thì reo lên “Thoát rồi!”…
Lần thoát hiểm thứ ba xảy ra khi Phan Thị Tiên Nữ là Bác sĩ, đang làm việc tại một Đội điều trị dã chiến ở chiến trường thời kháng chiến chống Mỹ. Lần ấy, BS Tiên Nữ cùng một y tá đi công tác thì gặp ổ mai phục của bọn lính biệt kích. Khi tới một khu rừng thưa, cả hai người cùng vừa phát hiện ra “mùi biệt kích” thì đã nghe tiếng súng nổ như pháo giao thừa xung quanh! Hai người tìm chỗ ẩn nấp và phán đoán tình hình thì tiếng súng ngừng lại rồi vang lên tiếng loa “chiêu hồi”, nghe rất gần: “Hãy đầu hàng đi, hỡi các em gái Việt Cộng!... Chúng tôi đã biết rõ chỉ có hai em gái rất xinh đẹp, vì thế chúng tôi không nỡ sát hại người đẹp! Các em sẽ được đón tiếp như Nữ hoàng!”. Lụa, cô y tá đi cùng Tiên Nữ không kìm được tức giận khi chợt phát hiện ra cái loa chiêu hồi đang lấp ló trong một bụi cây, liền kéo cò súng khẩu AK, hai tiếng nổ đinh tai, đầu đạn xé không khí lao đi. Có vẻ như Lụa đã bắn trúng cái loa chiêu hồi, tức thì tiếng súng của tốp biệt kích lại rộ lên như một tràng pháo nổ, đầu đạn bay vèo vèo, cắm vào các thân cây phầm phập. Lụa nói với Tiên Nữ: “Bác sĩ rút đi, tôi sẽ ở lại ăn thua đủ với chúng!”. Tiên Nữ nói ngay: “Không được, sống cùng sống, chết cùng chết! Tôi không thể bỏ Lụa chết ở đây mà sống một mình!”. Nói rồi Tiên Nữ vừa bắn vừa tiến sát hơn tới quân địch chứ không phải là rút lui như Lụa nói. Lụa thấy vậy thì như con rắn, vừa bắn vừa bò tới sát mục tiêu… Khi hai người nhìn rõ mặt từng thằng lính biệt kích, có lẽ chỉ cách khoảng ba mươi mét, thì thật bất ngờ, tiếng súng của tốp biệt kích ngưng hẳn rồi có tiếng nói yếu ớt vang lên: “Tốp lính biệt kích đã bị tiêu diệt hoàn toàn…Tôi là Y tá Huỳnh Lương Y, hãy chôn tôi tại đây và sau này xin báo về cho gia đình tôi theo địa chỉ trong túi áo ngực!...”. Thấy lạ, cả Tiên Nữ và Lụa cùng ngừng bắn, chạy tới chỗ phát ra tiếng nói kia thì thấy một người lính biệt kích đang ngồi tựa lưng vào một gốc cây, ngực đầm đìa máu!
*
Sau khi gặp lại ba người bạn cùng học hồi lớp Năm, tôi cứ nghĩ mãi không hiểu tại sao công việc mà họ làm hiện nay lại có liên quan với nhau, tức là lo việc mai táng. Đây có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là họ rủ nhau cùng làm cái công việc này? Ba ngày sau buổi gặp mặt, tôi đang tính đến gặp từng người để hỏi cho ra nhẽ thì nhận được điện thoại của Phan Thị Tiên Nữ hẹn đến dự tiệc tiễn đưa cô con gái út của Tiên Nữ đi đào tạo Tiến sĩ ở nước ngoài, về chuyên ngành Thần kinh. Khi tiệc rượu đã ngà ngà, Tiên Nữ nói: “Ba người chúng tớ từ hồi gặp lại nhau, làm ăn với nhau rất tâm đầu ý hợp, cứ tưởng là đã có một bộ ba hoàn chỉnh tuyệt vời. Nhưng từ ngày gặp thêm cậu, tớ mới nhận ra cái cảm giác “còn thiếu cái gì đó” của bộ ba chúng tớ là có thật: chúng tớ thiếu một người chuyên viết điếu văn thiện nghệ! Người đó chính là cậu, chúng ta sẽ làm thành Bộ Tứ tuyệt vời!”. Nghe Tiên Nữ nói, tôi giật mình, chưa kịp “phân tích” tình hình ra sao thì Lê Văn Chiến Công nói: “Lâu nay, khi thực hiện tang lễ cho khách hàng, tớ để ý thấy những điếu văn được đọc ở những tang lễ ấy có gì đó bất ổn: tớ có cảm giác như là người nằm trong quan tài không chịu được, muốn bật nắp mà bay ra!”. Và Trần Văn Thạch, người bạn trùng tên với tôi kết luận: “Nói tóm lại là chúng ta sẽ nhận cả phần viết điếu văn cho khách hàng, tức bao trọn gói! Cậu cứ suy nghĩ kỹ, nếu thấy có cảm hứng thì mới nhận làm, không ai bắt ép cậu!”. Nghe mấy người bạn học lớp Năm nói vậy, tôi cũng chưa biết trả lời thế nào thì cô con gái của Tiên Nữ, nhân vật chính của buổi tiệc nói: “Cháu thấy điếu văn là khó viết nhất và cũng là thể văn quan trọng nhất bởi nó phải kết tinh, thâu tóm được cả cuộc đời của người đã chết! Viết điếu văn không phải là sự kết thúc mà là sự khai mở một cuộc đời mới cho người vừa chết!”. Tôi định hỏi cô gái một câu gì đó đại loại như, còn cháu, tại sao lại chọn nghiên cứu Thần kinh, thì cô gái đã cụng li với tôi và nói: “Cháu biết chú định hỏi cháu cái gì rồi! Cháu xin trả lời trước: hiện tại và và sẽ là cả tương lai, bệnh Thần kinh sẽ rất phát triển và trở thành nan y. Vì thế, biết nghề này sẽ hái ra tiền!”.
Nhìn phong cách rất tự tin của cô gái, tôi định hỏi thêm câu nữa, rằng theo cháu, chú có nên nhận làm cái công việc viết điếu văn hay không? Nhưng tôi không có cơ hội để hỏi vì dường như tất cả đều đang xúm vào cụng li với cô gái!
Lòng bối rối vô cùng, không biết cậy nhờ ai tháo gỡ, tôi đi ra về. Trong đầu tôi bỗng vang lên những câu văn bi hùng của cụ Đồ Chiểu trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”:
…Khá thương thay!
Vốn chẳng phải quân cơ, quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;
Chẳng qua là dân ấp, dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ

Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi,
Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chỉ nài sắm dao tu, nón gõ.

Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng một ngọn dao phay, cũng chém đặng đầu quan hai nọ.

Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Mặc kệ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ…

Tới đầu ngõ hẻm, gặp một ông già hát xẩm đang ngồi ngâm nga:
“Thương thay thập loại chúng sinh
Hồn đơn phách chiếc lênh đênh quê người!
Hương lửa đã không nơi nương tựa
Hồn mồ côi lần lữa bấy niên
Còn chi ai khá ai hèn
Còn chi mà nói kẻ hiền người ngu”
“Sống thời tiền chảy bạc ròng
Thác không đem được một đồng nào đi”!
Khi ông già ngừng, tôi vụt nghĩ: Đó là đoạn kết của “Văn tế thập loại chúng sinh”, có nghĩa là bàn tay của Định mệnh đã “xếp đặt” nên “cuộc chơi” cuối cùng này?
Sài Gòn, đầu tháng Năm 2011
Đỗ Ngọc Thạch
----
Chú thích:
(*) Các buổi đấu tố thường được tổ chức vào ban đêm. Số lượng người tham gia đấu tố được huy động từ vài trăm đến cả ngàn người, và thời gian đấu tố từ một đến ba đêm tùy theo mức độ tội trạng của địa chủ. Trong đêm đấu tố, các bần nông bước ra kể tội địa chủ đã bóc lột họ như thế nào. Tại các tỉnh có tổ chức CCRĐ, người ta cho ra tờ báo lấy tên là Lá Rừng (ngụ ý tội ác địa chủ nhiều như lá rừng) tường thuật chi tiết các vụ đấu tố. Sau khi bị đấu tố các địa chủ được tạm giam trở lại để chờ tòa án nhân dân xét xử, cũng có người bị đánh chết ngay trong lúc đấu tố. Gia đình và thân nhân người bị đấu tố thì bị cô lập, bị bỏ đói và chịu nhiều sự phân biệt đối xử và nhục hình.
Tại các huyện, một tòa án nhân dân đặc biệt được lập ra và đi về các xã xét xử các địa chủ. Sau khi kết án, địa chủ bị xử bắn trước công chúng do đội tự vệ xã hành quyết. Những người không bị xử bắn thì bị cô lập trong các làng xã, một số bị thiệt mạng vì bị bỏ đói.
(**) Loại kẹp tóc ba lá thời này rất phổ biến, có ba miếng kim loại mạ kền sáng bóng, ngoài công dụng kẹp tóc có thể dùng làm dao dọc giấy, làm cái luồn dép cao su và nhiều công dụng khác!
TƯỚNG CƯỚP HOÀN LƯƠNG
Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

l.
Khi còn làm việc ở Sở Văn hóa Thông tin của một tỉnh miền cao nguyên đất đỏ, tôi thường đi xuống các huyện (đi cơ sở) và đi họp ở Sài Gòn bằng xe ô tô (loại xe TOYOTA) với ông Giám đốc Sở. Đi đường dài tất xảy ra nhiều chuyện không thể lường trước, cũng giống như câu thành ngữ “Đi đêm nhiều tất có ngày gặp ma”.
Sau này, nhớ lại mới thấy sao những lúc ấy mình không biết sợ là gì khi biết bao hiểm nguy, tai biến luôn rình rập. Chẳng hạn như khi đi qua đèo An Khê, một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực thẳm sâu hun hút như miệng con quái vật khổng lồ. Có đến ba lần, khi xe đang vượt đèo, tôi đã nhìn thấy những cái xe xấu số đang lăn xuống vực y như những cảnh tai nạn có rất nhiều trong các phim hành động của Mỹ, Hồng Kông… Những lúc ấy, tôi nhìn tất cả những người trong xe (thường là người lái xe, ông Giám đốc Sở và một, hai người nữa) thì thấy ai cũng lặng thinh như tượng nhưng bên thái dương (nơi có tóc mai) thì rịn ra những giọt mồ hồi, không biết là nóng hay lạnh? Hình như có tiếng nói rất nhỏ của ông Giám đốc Sở: “Cầu Bồ Tát…”. Người lái xe có lẽ đã nói câu này rất nhiều trước khi khởi hành nên mím môi và cầm chắc tay lái! Còn những va quẹt lẻ tẻ và “suýt” đụng vào những xe khác đang lưu thông thì nhiều vô kể, nó xảy ra thường xuyên giống như ai cũng không ít lần vấp ngã hoặc ăn cơm mà nghẹn nấc hoặc cắn phải lưỡi! Nhưng chuyện gặp cướp đường mà tôi sẽ kể dưới đây thì chỉ xảy ra một lần (mới chỉ tính những khi có tôi đi trong xe) và ông Giám đốc đã tuyên bố ngay sau đó là “Không hề xảy ra chuyện bị cướp đường” nên hầu như tôi cũng như đã quên luôn. Nhưng, như có một nhà văn bậc thầy về truyện ngắn đã nói đại ý, trí nhớ như cái Rây Thần, nó cho qua đi tất cả những chuyện vụn vặt và chỉ giữ lại những hạt vàng, đó là những “Hạt Vàng ký ức”. Những năm qua tuổi 60, những ký ức của tôi thường hiện về rất nhiều, trong đó có chuyện gặp cướp đường. Tôi nghĩ hẳn đây là một “Hạt Vàng ký ức” nên viết thành cái truyện ngắn này…
2.
Lần ấy, có một cuộc họp về văn hóa, văn nghệ các tỉnh khu vực phía nam, do tỉnh Cửu Long đăng cai. Đoàn chúng tôi gồm có ông Giám đốc Sở VH-TT, một chuyên viên bên Ban Tuyên huấn của tỉnh và tôi (lúc đó đang phụ trách công tác xuất bản và Tạp chí Văn nghệ của Sở, chưa có Hội Văn nghệ như bây giờ). Đi họp thì có ba người và đi chơi thì có một người, tức bà vợ ông Giám đốc, muốn xuống Sài Gòn “đổi gió”. Tổng cộng trên xe có 5 người, ngồi vừa khít hai hàng ghế: bà giám đốc ngồi phía trước, cạnh lái xe, ông Giám đốc, người của Ban Tuyên huấn và tôi ngồi ở hàng ghế sau (đây là “đội hình” phổ biến mỗi khi đi họp do Trung ương triệu tập). Hôm ấy, không hiểu sao, tôi lại “ngứa mồm” tranh luận với ông Ban Tuyên huấn hết chuyện nọ qua chuyện kia, và không biết bao giờ mới ngừng khi trước mặt bỗng xuất hiện một cây tre dài chắn ngang đường và ở hai đầu cây chắn là bốn người mặc đồng phục kiểu kiểm lâm, hai người cầm hai đầu cây tre còn hai người đeo tiểu liên AK trước bụng, đứng bên cạnh.
Khi xe chỉ còn cách cây chắn khoảng 30 mét, người lái xe dừng xe và nhìn ông Giám đốc như muổn hỏi phải xử trí thế nào? Ông Giám đốc nói: “Cậu xuống xem sao?”. Tôi vụt nghĩ: cho dù là đội kiểm soát cơ động cũng phải dựng cây chắn đàng hoàng chứ không thể cầm tay như thế, hơn nữa, nhìn thoáng qua tướng tá bọn này giống như cướp đường chứ không phải kiểm lâm? Tôi nói nhanh với Giám đốc: “Bọn này giống như cướp đường, ta nên ào qua là xong!”. Giám đốc nói: “Không thể manh động, chúng nó bắn theo hỏng xe thì sao?”. Thấy người lái xe chần chừ, giám đốc lại giục xuống xe xem sao! Người lái xe cầm theo mấy thứ giấy tờ như lệ thường mỗi khi qua trạm kiểm soát rồi xuống xe, đi tới chỗ chắn đường. Khi người lái xe đi được chục mét thì bọn kia bỏ cây chắn xuống mép đường rồi cùng tiến lại phía người lái xe, hai thằng có súng thì một tay cầm báng súng, một tay nâng nòng súng về phía trước như sẵn sàng nhả đạn!
Khi bốn thằng tới sát người lái xe, tôi đã nhìn thấy rất rõ: ba thằng da mặt nửa đen nửa nâu như người dân tộc, tuy mặc đồng phục kiểm lâm nhưng bộ dạng lớ ngớ, lóng ngóng chứ không oai phong đạo mạo như các chiến sĩ kiểm lâm. Ngay cả một thằng đeo súng cũng không có dáng dấp lính chiến gì cả và điều này mới quan trọng: khẩu súng thi thoảng lại đung đưa trước bụng mỗi khi nó thò tay gãi lưng, gãi gáy nhưng không thấy lấp lánh ánh thép mà đen sì như súng gỗ của mấy đoàn kịch! Tôi thầm nghĩ, đeo súng gỗ đi ăn cướp thì quả là coi thường thiên hạ quá! Thằng còn lại thì từ khuôn mặt cho đến bộ dạng đều giống như những tay anh chị trong đám giang hồ hảo hán, lại còn đeo mắt kiếng đen nhìn càng ngang tàng, dữ tợn! Tôi lại nghĩ; bọn này đúng là cướp đường giả dạng kiểm lâm! Vừa nghĩ tới đó thì vang lên tiếng thằng đeo mắt kiếng đen: “Chúng tao là băng cướp “Tia chớp” khét tiếng giết người trong chớp mắt! Trái lời hoặc chậm trễ là bắn bỏ!...Bây giờ lái xe vào trong khu đồi kia, nhanh lên!”. Nòng khẩu súng AK lấp lánh ánh thép chĩa thẳng vào ngực người lái xe khiến anh ta lẳng lặng làm theo…
Tất cả những người trong xe không ai nói gì và như đang hướng cả cái nhìn vào bốn tên cướp. Còn tôi, vụt nhớ đến câu “Tùy cơ ứng biến” và câu “Nhất biến ứng vạn biến”! Và câu này nữa: những cái gì phải đến ắt sẽ đến!
Đoạn đường chúng tôi bị chặn không biết thuộc địa phận tỉnh nào mà hoang vắng đến rợn người, hai bên đường là đồi hoang miên man, chỉ có những lùm cây dại lúp súp cao không quá đầu người. Khi người lái xe đưa cái TOYOTA tới một bãi đất rộng có trải sẵn một tám vải bạt lớn thì thằng đeo mắt kiếng đen (Từ đây gọi là Tướng cướp vì nó đã lộ nguyên hình là Tướng cướp) quát lớn: “Đem tất cả hành lý, đồ đạc trên xe xuống để vào tấm vải bạt trên bãi đất! Tất cả tiền bạc, đồng hồ, đồ trang sức cũng phải cống nạp, không chừa một đồng, một món!”. Tất cả im lặng, lầm lũi làm theo hiệu lệnh của thằng Tướng cướp như là cùng một ý nghĩ: đến nước này thì đành bỏ của chạy lấy người chứ biết làm sao?
Không hiểu sao, hình ảnh hình ảnh người khuyết tật tay chân co quắp, lèo khoèo mà vẫn phải đi bán vé số ở bến xe Liên tỉnh mà tôi mới gặp tuần trước bỗng vụt hiện lên trước mắt tôi! Như là có sự điều khiển của ma quỷ (hay thần linh?), tôi chui ra khỏi xe với bộ dạng như thằng khoèo bán vé số ở bến xe Liên tỉnh, di loanh quanh bên cái TOYOTA và cái mồm thì làm bộ méo xẹo, phát ra những âm thanh ú ớ! Thằng Tướng cướp thấy tôi như vậy thì hỏi người lái xe: “Nó làm sao thế?”. Người lái xe nhìn tôi rất nhanh và nói: “À, nó bị tật nguyền từ nhỏ. Nghe nói ở Thành phố có người chữa khỏi, thử đem xuống xem sao!”. Thằng Tướng cướp tới sát bên tôi, nhìn tôi bằng ánh mắt thương cảm rồi nói: “Tao cũng có người anh ruột bị tật nguyền như thế này! Tội nghiệp!”. Có lẽ vì vậy mà nó rất tin là tôi bị tật nguyền và lấy trong túi ra một quả xoài đưa cho tôi! Trong khi nó vỗ vai tôi biểu lộ tình cảm thân mến thì tôi lại nghĩ làm sao để đoạt được khẩu súng AK trên tay nó?
Khi tất cả hành lý đã xếp thành một đống trên tấm vải bạt, bà vợ ông giám đốc nói: “Chúng tôi đã nộp đủ tiền mãi lộ rồi, thả người đi chứ?”. Thằng Tướng cướp cười hề hề rồi nói: “Chưa đủ! Bây giờ mới là lúc tới đoạn hấp dẫn nhất của cuốn phim “Cướp đường” này!...Thoát y vũ! Xin mỹ nhân trình diễn một màn thoát y vũ để bọn cướp đường vô học chúng tôi được mở rộng tầm mắt!”. Thằng Tướng cướp nói xong thì nhìn chòng chọc vào bà vợ ông giám đốc khiến người đẹp sợ run rồi bất ngờ múa màn thoát y như trong phim Mỹ khiến cả bốn thằng cướp đứng ngây ra như tượng!
Xong màn thoát y vũ, thằng Tướng cướp chỉ vào người của Ban Tuyên huấn, nói: “Thằng kia, vào nhảy điệu Lambada với người đẹp đi!”. Vừa nghe nói vậy, ông người của Ban Tuyên huấn tức thì nhào tới ôm chầm lấy bà vợ ông Giám đốc và tức thì bị bà vợ ông Giám đốc đẩy mạnh ngã lăn quay! Thằng tướng cướp thấy vậy thì la to: “Không phải như thế! Để tao nhảy cho mà xem!” Dứt lời, thằng tướng cướp nhào tới người đẹp! Được hai bước, khẩu AK lủng lẳng trước bụng làm cho thằng Tướng cướp thấy vướng víu và rất nhanh, nó lấy khẩu AK ra và treo vào cổ tôi, làm như tôi là cái giá súng của nó! Khi khẩu AK chạm bịch bịch vào bụng tôi, dường như hơi thép lạnh của khẩu súng đã làm tôi bừng tỉnh: một tay cầm lấy báng súng, một tay kéo quy-lát nghe roạt roạt và thét lớn: “Tất cả đứng im! Nhúc nhích là bắn bỏ!”. Thằng Tướng cướp thốt giật mình, đứng khựng rồi quay ngoắt lại, trố mắt nhìn tôi kinh ngạc! Song, chỉ chưa đầy một phút bàng hoàng, thằng Tướng cướp gầm lên rồi nhào tới tôi như hổ vồ mồi! Nói thì chậm làm thì nhanh, khi thấy thằng Tướng cướp lao tới, tức thì tôi kéo cò súng, hai tiếng nổ ù tai và hai viên đạn bay ra khỏi nòng súng, cắm phập vào đùi thằng Tướng cướp khiến nó đổ vật xuống đất!
*
Những tưởng là tôi sẽ không bao giờ gặp lại thằng Tướng cướp hôm đó, nhưng bởi vì “quả đất tròn” nên năm năm sau, tôi đã gặp lại người xưa song không phải như cảnh cũ. Lúc này, tôi không còn làm việc ở Sở VHTT của cái tỉnh cao nguyên đất đỏ đó nữa mà về Sài Gòn sống kiểu “Giang hồ vặt”. Khi tôi đang làm việc cho một tờ báo ở Sài Gòn thì bất ngờ gặp lại một người bạn học cũ, mới nhận chức TBT một tờ báo ngành. Tuy là báo ngành nhưng có rất nhiều chủng loại: tuần ba số, số cuối tuần và cả nguyệt san, tức báo tháng. Còn nội dung thì không chỉ là chuyện “nội bộ” trong ngành mà có đủ mọi chuyện cuộc đời, cổ kim đông tây, trên trời dưới biển không thiếu chuyện gì. Người bạn đưa cho tôi mấy số báo mới ra nhờ góp ý và mời cộng tác. Tôi mới lật các trang báo xem lướt qua thì thấy có một cái truyện nhiều kỳ đáng chú ý, viết về chuyện hoàn lương của những người đã từng dính vòng lao lý, trong đó có một kỳ viết về một tướng cướp chuyên chặn cướp những người đi qua những khu đường vắng. Câu chuyện chặn xe của tên tướng cướp này được kể lại gần giống như chuyện đã xảy ra với chuyến xe của chúng tôi đã nói trên, chỉ khác ở đoạn kết là: bà vợ ông Giám đốc đã dùng mỹ nhân kế, cùng nhảy điệu Lambada với tên tướng cướp rồi tới khi tên tướng cướp đê mê trong vòng tay nóng bỏng của mỹ nhân mới ra tay hạ thủ, cùng với sự trợ giúp của người lái xe!
Tôi nghĩ ngay rằng tác giả của cái chuyện dài kỳ về đề tài “Hoàn lương” này chính là tên tướng cướp ngày xưa, liền gọi điện thoại hỏi người bạn về tác giả của loạt truyện dài kỳ? Người bạn nói tác giả đúng là một tướng cướp hoàn lương và nói thêm: Không những anh ta đã hoàn lương mà hoàn lương rất tích cực, bây giờ anh ta không chỉ là cây bút viết truyện ký, phóng sự rất hấp dẫn về đề tài xã hội mà viết về các vấn đề chuyên sâu của ngành cũng không thua kém các chuyên gia lâu năm trong ngành. Sắp tới, báo của tớ sẽ thành lập cơ quan thường trực ở Phía nam, sẽ giao cho anh ta phụ trách!
*
Chỉ ba tháng sau, tôi nhận được điện thoại của người bạn mời đến dự lễ khai trương của cơ quan thường trực phía Nam của tờ báo của ông ta, mà Lê Nguyễn Tân Báo, người Trưởng đại diện chính là tướng cướp của băng cướp “Tia chớp” ngày xưa. Khi tiệc rượu đã gần tàn, tôi hỏi Trưởng đại diện Tân Báo: “Ông có thể kể cho tôi nghe về lai lịch cái chân què của ông được không?”. Tân Báo: “Từ khi tôi lành vết thương đến nay, chưa có ai hỏi tôi câu hỏi như thế. Bây giờ có xu hướng “quên đi quá khứ để hướng tới tương lai” nên tôi cũng muốn quên đi vì sao tôi đã bị hai viên đạn găm vào chân. Nhưng mỗi khi vết thương cũ đau nhức, tôi lại nhớ như in cái hình ảnh người bắn tôi lúc ấy: đó chỉ là một người tật nguyền và có vẻ như tâm thần nữa. Chính nhờ hai phát đạn này mà tôi đã làm lại cuộc đời, đã có cuộc sống mới… Cuộc đời thật nực cười: cái ông sếp của tôi, người được xã hội trọng vọng lại đẩy tôi vào con đường giết người cướp của, vì ông đã đã cưỡng bức người vợ trẻ xinh đẹp của tôi. Còn cái người tật nguyên, tâm thần kia lại giúp tôi trở lại cuộc sống lương thiện!”.
 Nghe Tân Báo nói vậy, tôi thấy chẳng cần thiết phải nói cho anh ta biết sự thật về cái người tật nguyền lại tâm thần đó. Mới đây, tôi nghe người bạn nói, hai vợ chồng anh ta cùng vài người bạn nữa, hùn vốn lập ra một nhà an dưỡng cho những người tật nguyền, với ngụ ý muốn tìm gặp lại người tật nguyền đã bắn hai phát đạn AK trúng vào chân anh ta ngày ấy. Như thế thì lại càng không nên nói rõ sự thật ra làm gì, bởi anh ta, Tân Báo,  tức Tướng cướp băng cướp “Tia chớp” đã tin chắc chắn rằng người khiến anh ta hoàn lương chính là một người tật nguyền và tâm thần! Nhưng như thế sẽ có người hỏi tôi, tác giả truyện ngắn này, vậy tại sao lại có cái truyện ngắn này? Xin nói ngay, mới hôm qua, tôi nhận được Mail của người bạn báo tin: Tân Báo đã bị một băng cướp nhí tấn công và bắn chết tại chỗ khi đến nhìn ngắm lại nơi đã xảy ra vụ cướp do anh ta thực hiện ngày xưa!...
Sài Gòn, 6-5-2011
Đỗ Ngọc Thạch

Thứ Sáu, 3 tháng 2, 2012

Chuyện tình ngày Valentine; Cá chuối... - Đ.N.Thạch

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiK_LHUYEACNjoPY8EYvVQTJviE2gx52KMyczw1JwMxOE8TmROfKR4vqKF9htrFp95d8_6K-HzJlz73Y6Rcnq0gRDbTnWfnWMIkOeTPXGvokcGs-usdOch9PF9qTiwLJm-bEQ6jznlKZn8/s320/Valentine500.gif
CHUYỆN TÌNH NGÀY VALENTINE
Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch


Quê, Quang và Quả là bạn học lớp 12 trường Trung học Phổ thông. Vì cùng có chữ “Qu” mà ba người trở thành bộ ba thân thiết. Song, khi học hết lớp 12 thì số phận đã tách ba người ra: Quê vào Đại học, học ở thành phố, còn Quang và Quả thì nhập ngũ, đóng quân ở một huyện ngoại thành. Vì thế, họ vẫn liên lạc với nhau và vào những dịp đặc biệt như ngày Lễ, ngày Tết, vẫn có thể gặp nhau.

Thu Hương, Thu Minh và Tim Tim là ba cô gái của một tỉnh vùng cao, cùng đỗ đại học và học cùng trường ĐH, cùng lớp Công nghệ Thông tin với chàng trai tên Quê của nhóm bạn vừa nói trên. Vì chữ Quê ghép với chữ Hương thành ra bài hát Quê Hương mà Hương rất hay hát và hát rất hay nên bạn bè gán ghép mà thành đôi, thành cặp. Nhìn đôi tình nhân líu ríu bên nhau, ai cũng khen đẹp đôi, như là đã hẹn nhau từ kiếp trước!

Gần tới ngày Valentine, Hương nói với Quê: “Chúng ta phải tổ chức buổi gặp gỡ rồi đi dã ngoại nhóm bạn thân nhân ngày Valentine. Ai có Tình yêu rồi thì yêu nhau hơn, ai chưa có Tình yêu thì ta sẽ làm Ông Tơ Bà Nguyệt xe duyên cho họ!”. Quê nói ngay: “Gặp gỡ thì đương nhiên rồi, nhưng xe duyên thì khó lắm đó. Bắn không nên phải đền đạn là không dễ dàng đâu!”. Hương nói giọng cương quyết: “Càng khó thì càng phải làm! Việc khó mà thành công mới có ý nghĩa! Mà bạn nên nhớ phong cách sống của chúng ta là “Không có việc gì khó / Chỉ sợ lòng không bền / Đào núi và lấp biển / Quyết chí ắt làm nên”!. Quê nói: “Thôi được rồi, xin “Tuân chỉ”! Vậy thì chúng ta tổ chức cho hai nhóm bạn của chúng ta gặp nhau đi! Tôi cũng đã nghĩ đến chuyện này từ lâu mà chưa có dịp!”. “Thì lần này là dịp tốt đó - Hương nói giọng chắc chắn, - Hai nhóm đều có ba người, một người đã thành cặp thì hai người còn lại cũng dễ “lây nhiễm” lắm, sẽ không khó khăn gì đâu!”. Nói rồi Quê gọi điện thoại cho Quang và Quả, còn Hương thì đi tìm Thu Minh và Tim Tim…

*

Quang và Quả vừa đi làm công tác giúp nhân dân vùng bị lũ lụt khắc phục hậu quả về tới đơn vị thì nhận được điện thoại của Quê.

- Chào hai anh bộ đội thời bình! Cuộc sống người lính thế nào?

- Thời bình là không có bom đạn thôi, chứ cường độ “chiến đấu” thì không thua gì thời chiến! Chúng tớ vừa đi giúp nhân dân khắc phục hậu quả của đợt lũ lụt vừa rồi, đến đúng khu vực bị nặng nhất, tất cả thành bình địa! Không biết Tết này có kịp ăn Tết trong nhà không hay là “Màn trời chiếu đất”?

- Thôi được rồi, chuyện thiên tai lũ lụt tớ cũng theo dõi trên ti-vi thường xuyên, có lẽ lực lượng sinh viên cũng sẽ đi giúp nhân dân vùng lũ, nhưng phải sau Tết! Giờ hỏi đến chuyện “Riêng tư”: đã “kết nối” được với cô thôn nữ nào chưa?

- Thôn nữ ở đây thì nhiều như hoa mùa xuân, nhưng toàn là “Hoa hồng có gai”, thậm chí các loài hoa khác cũng có gai, và hình như trong hương hoa có “mê hồn tán” nên không thể “hái hoa” được! Cô đơn vẫn hoàn cô đơn!

- Thôi được, sẽ giải quyết tình trạng cô đơn của hai cậu trong ngày Valentine tới đây!

- Valentine!... Sắp tới ngày Valentine rồi cơ à? Vậy mà ở đây bọn mình không thấy ai nói tới cả? Có vẻ như Valentine chỉ là chuyện của dân thành phố? Thế bọn mình sẽ gặp nhau chứ? Nhưng…

- Nhưng hai cậu chưa có Tình nhân chứ gì? Tớ và Thu Hương sẽ bày binh bố trận để hai cậu sẽ có người yêu đúng ngày Valentine!

- Các cậu làm được việc đó à? Tớ tưởng đó là việc của Thần Tình yêu chứ?

- Thì Thần Tình yêu ủy quyền cho chúng tớ, được chưa?

- Thôi được! Vậy kế hoạch gặp gỡ “coi mắt” sẽ như thế nào?

- Rất thuận tiện: hai cô nàng là bạn thân của Thu Hương, còn hai cậu là bạn thân của tớ thì coi như đã thành công một nửa! Kế hoạch là chúng ta sẽ tập kết ở nhà tớ rồi sau đó đi cắm trại ở một khu vườn trái cây nổi tiếng nào đó, Lái Thiêu chẳng hạn! Đến lúc đó sẽ chi tiết hóa sau!

- OK! Rất may là bọn tớ mới đi công tác dân vận về, chắc chắn là ngày đó sẽ được nghỉ!

- Vậy nha! Đúng Tám giờ sáng ngày Valentine hội ngộ! Bye!...

- Bye!...

Quê vừa nói chuyện điện thoại với Quang và Quả xong thì Thu Hương tới, thông báo mọi chuyện đều tốt đẹp. Hai người chụm đầu phác thảo kế hoạch cụ thể …


*

Mới bốn giờ rưỡi sáng, Quang và Quả đã dậy. Chuông nhà thờ ngân vang, phá tan không gian tĩnh lặng của cả khu dân cư vùng ven. Thực ra, dân ở đây đã thức dậy từ trước bốn giờ sáng, lục tục “hành quân” vào nội thành kiếm sống với đủ các “binh chủng” từ thô sơ đến hiện đại! Quang và Quả cũng đã tỉnh giấc từ bốn giờ nhưng còn nằm trên giường để tự sáng tác ra giấc mơ về buổi gặp mặt người đẹp này!

Từ chỗ đơn vị Quang và Quả đóng quân đi đến chỗ hẹn là nhà Quê chỉ mất một giờ đi xe máy. Như thế, hẹn Tám giờ thì Bảy giờ khởi hành là vừa khít. Chiếc xe máy Dream mượn được của ông “anh kết nghĩa” rất tốt, sẽ không có trục trặc gì. Nhưng không hiểu sao, cả hai người đều thấy cần phải đi từ Năm giờ, tức dôi ra hai giờ dự phòng, bởi thà đến sớm ngồi chờ còn hơn đến trễ lại hỏng chuyện! Hơn nữa, cả hai người đều linh cảm thấy sẽ có điều gì đó bất thường xảy ra trên đường đi! Tuy không nói ra sợ xui sẻo, nhưng cả hai người đều có cảm giác bất an!

Và cái cảm giác bất an ấy đã thành sự thực khi mới đi được hai mươi phút, tức mới Năm giờ hai mươi phút, hai người đã nhìn thấy trên con đường phố còn vắng teo, có bốn thằng thanh niên đang vây đánh hai cô gái. Hai cô gái hình như trình độ võ thuật cũng tương đối nên đôi bên đang quần thảo nhau như trong phim võ thuật Hồng Kông mà chưa phân thắng bại. Song rõ là hai cô gái không thể đánh thắng bốn thằng kia! “Giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha”, không nghĩ lâu, hai chàng trai Quang và Quả dừng xe và nhảy vọt vào giữa đám người đang đánh lộn, cùng hô lớn: “Chúng tôi trợ giúp hai cô đây!”. Bốn thằng kia hình như là dân trộm cướp chuyên nghiệp, thấy Quang và Quả nhảy vào với bộ pháp nhà nghề thì biết là gặp phải cao thủ, liền tháo chạy rất bài bản! Sau khi được giải thoát, hai cô gái cám ơn rồi tiếp tục hành trình, đi bộ! Quang và Quả cũng không hỏi han gì nhiều, chào tạm biệt rồi lên xe đi tiếp! Mới được một phần ba quãng đường, chắc đây chưa phải là sự cố mà hai người lo ngại!

Quả nhiên, cái cảm giác đó chưa tan thì hai cô gái, vừa đi được hơn chục mét, đã vội chạy ngược trở lại, đúng lúc Quang vừa cho xe nổ máy. Quang liền tắt máy thì nghe một cô gái nói: “Hai anh nhìn kìa, một bọn gần chục thằng, tay cầm mã tấu, chắc muốn lấy mạng người!”. Quang và Quả nhìn về hướng hai cô gái vừa quay lại, quả nhiên có tới sáu thằng, tay lăm lăm mã tấu, đang lừ lừ tiến đến chỗ bốn người! Quang và Quả nhanh chóng hội ý “phương án tác chiến” rồi Quả nói: “Hai cô lên xe và bám cho chắc!”. Nói thì chậm, làm thì nhanh, Quả cởi phăng cái áo lính, cầm áo quay tít mù như múa đao. Còn Quang thì chờ cho hai cô gái lên xe, bám chắc thì rồ ga, vọt lên như tên bắn. Cùng lúc, Quả như bay tới đám người đang cầm mã tấu!

Khi Quang lao vút đi, thoát khỏi “khu vực nguy hiểm” thì để hai cô gái xuống xe ở trước cửa một trụ sở Công an Phường, rồi quay trở lại chỗ bọn người cầm mã tấu. Song, chỉ thấy có mình Quả đang ngồi băng vết thương trên vai, bên cạnh là một đống mã tấu lấp lánh ánh đèn đường! Nhìn thấy Quang đã tắt máy, Quả nói: “Luyện mãi chiêu thức “Nhung y thu đao kiếm”, hôm nay mới có dịp thực hành! Chỉ bị một nhát đao sướt qua vai thôi, không sao cả!”. Còn Quang thì thán phục bạn vô cùng, luôn mồm nói: “Cao thủ võ lâm! Đệ nhất Nhung y thu đao kiếm!”.

Quang và Quả đem mớ mã tấu thu được của bọn kia tới Công an Phường giao nộp thì không thấy hai cô gái kia đâu. Đồng chí Công an trực ban nói hai cô gái gửi lời cám ơn rồi đi luôn vì có việc gấp. Quang và Quả lại lên xe, tiếp tục “hành quân” .
*

Quang nhìn đồng hồ: sáu giờ ba mươi! Còn một giờ ba mươi phút nữa là tới giờ hẹn, quá rộng rãi, thoải mái, cứ túc tắc, đủng đỉnh đi cũng thừa thời gian! Nhưng vừa nghĩ như vậy thì có tiếng “Uỵch! Oạch!” và một chiếc xe máy phân khối lớn phóng vút qua trước mặt, tiếng động cơ như xé rách … màng nhĩ người đi đường! Tiến lên phía trước khoảng chục mét, Quang và Quả nhìn thấy một người đi bộ, là đàn ông, đã lớn tuổi, đang quằn quại trên mặt đường. Thì ra chiếc xe phân khối lớn kia đã đụng phải người đi đường và bỏ chạy luôn! Không suy nghĩ nhiều, Quang ngoắc một chiếc xích lô, đưa người bị nạn tới Trung tâm cấp cứu.

Lại nói về hai cô gái đi bộ đã bị bọn người xấu tấn công và đã được hai anh chàng Quang và Quả giải thoát. Đó chính là Thu Minh và Tim Tim, bạn học của Thu Hương và đang đi đến chỗ “gặp mặt nhóm bạn” theo lời hẹn của Thu Hương. Tại sao hai cô gái này lại đi bộ? Rất đơn giản, như nhưng người khác mê bóng đá, bóng chuyền hay võ thuật thì hai cô gái này mê môn…đi bộ! Khi có ai hỏi lý do tại sao các cô mê môn thể thao Đi bộ, các cô trả lời ngay: vì môn này có thể “chung thủy” với nó suốt đời! Các cô còn nói thêm: Đi bộ là môn thể thao giản dị, không tốn kém tiền mua “đồ nghề”, mà tác dụng của nó với sức khỏe con người thì lại lớn vô cùng! Còn riêng với Tim Tim, hầu như ai cũng thắc mắc khi nghe tên cô gái lại có vẻ kỳ kỳ như vậy? Nếu ai đã đọc qua truyện tranh Tin Tin hoặc xem phim hoạt hình Tin Tin thì sẽ hiểu ra ngay: bố cô rất mê nhân vật Tin Tin, nhưng chẳng nhẽ lại “rập khuôn” theo nguyên mẫu, và nữa là lại đặt tên cho con gái, cho nên biến đổi đi một chút, thêm một nét vào chữ “n”, thành ra Tim, Tim tức là Trái Tim, con gái rất phù hợp với biểu tượng Trái Tim! Chính việc đặt tên này có liên quan tới chuyện Tình yêu của cô gái Tim Tim.

Có phải là có sự trùng hợp kỳ lạ không thể giải thích không, khi đúng vào thời điểm Sáu giờ ba mươi phút, khi Quang và Quả vừa đưa người bị tai nạn xe máy đi cấp cứu thì hai cô gái Thu Minh và Tim Tim cũng gặp một người bị tai nạn và cũng phải đưa người này đi cấp cứu ở Trung tâm cấp cứu! Song lý do người bị tai nạn lại khác: đó là một người phụ nữ già yếu, do đi xe máy không giỏi, nên khi tránh một xe máy khác đi ngược chiều, đã tông vào … cột điện và ngã lăn kềnh xuống mặt đường, nơi hai cô gái Thu Minh và Tim Tim vừa đi tới!

Khi đưa người bị nạn tới Trung tâm cấp cứu, làm mọi thủ tục xong, hai cô gái Thu Minh và Tim Tim vừa đi ra tới cổng thì cũng vừa gặp Quang và Quả dắt cái xe máy Dream từ chỗ gửi xe ra cổng! Khi nhìn thấy hai cô gái, cả Quang và Quả cùng thốt lên ngạc nhiên: “Lại là hai cô gái này?”. Trong khi đó, cả hai cô gái cũng kinh ngạc thốt lên: “Lại là hai anh chàng này?”. Bốn người nhìn nhau, vừa ngạc nhiên vừa lúng túng không biết nói gì với nhau thì chuông ở điện thoại di động của cả Thu Minh và Quang cùng reo!

- A lô! Thu Minh đó à? Thu Hương đây! Cậu đang ở đâu đấy?

- Chào! Mình và Tim Tim đang ở Trung tâm cấp cứu Thành phố!

- Có chuyện gì vậy? Ai phải cấp cứu?

- À, bọn mình đưa người đi đường bị tai nạn tới chứ không phải bọn mình bị tai nạn!

- Vậy thì được rồi! Bây giờ đã là Bảy giờ rưỡi rồi, cứ ở đó sẽ có taxi tới đón! Bye!

Cùng thời gian, cùng nội dung với cuộc điện thoại của Thu Hương và Thu Minh là cuộc điện thoại của Quê và Quang! Nói chuyện điện thoại xong, bốn người lại đứng nhìn nhau bởi không ai biết “Mào đầu” câu chuyện như thế nào cho thật …tế nhị!

*

Khi chiếc taxi sáu chỗ ngồi có sáu số Một đỗ xịch trước cổng Trung tâm cấp cứu và cả bốn người đều nhìn thấy Quê và Thu Hương trên xe thì tình trạng “khó nói” của bốn người mới được giải tỏa! Chiếc xe máy Dream được dắt trở lại chỗ gửi xe (đến tối sẽ quay lại lấy), tất cả lên taxi và Thu Hương tuyên bố: “Chúng ta khởi hành trước thời gian đã định mười lăm phút! Nhằm hướng Lái Thiêu xuất phát!”.

Khi đã đến Lái Thiêu, như là có sự sắp đặt từ trước của bàn tay Tạo hóa: Quả và Tim Tim lúc nào cũng líu ríu nô giỡn với nhau, Quang và Thu Minh thì luôn tranh luận với nhau về thơ ca, dường như không có câu kết! Còn Thu Hương thì cứ nói hoài với Quê câu này: “Còn kêu khó nữa không? Tớ đã bảo là hai đôi này như là đã hẹn nhau từ kiếp trước! Thì cứ nghe tên của họ là có thể ghép thành đôi, thành cặp được rồi: Quang ghép với Minh thành “Quang minh chính đại”, một cụm từ đẹp nhất của tuổi trẻ; Quả ghép với Tim không thành Quả Tim thì thành Trái Tim hay sao?”

Sài Gòn, 2010-2011
Đỗ Ngọc Thạch
http://lamtheo.com/articles_intro/files/d550216afpost_c39311a95dcb0f5b1a92d6e23c2b42cb.jpg

CÁ CHUỐI  ĐẮM  ĐUỐI  VÌ CON 

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

Hai vợ chồng ông Chín sống ở một vùng quê nghèo, vùng sâu vùng xa, chỉ có một cậu con trai nên vợ chồng tằn tiện chắt bóp, làm thuê làm mướn đủ kiểu quyết nuôi con thi vào đại học mới chịu, giống như câu thành ngữ "Cá chuối đắm đuối vì con"(*) vậy... Ngày cậu con trai "lều chõng đi thi", cậu đứng trước cái cổng được buộc ghép bằng mấy cây tre, cây trúc, giơ tay thề : “Đứng trước bố, mẹ con thề / Không đỗ đại học không về quê hương!”… Bà mẹ khóc hết nước mắt, ông Chín thì như là hóa thành tượng đá!... 
Song, sự đời không hề đơn giản chút nào, không phải cứ “Thề độc” là mọi sự như ý! Mặc dù cậu con trai ông bà Chín đã cố gắng hết sức, học theo cả gương của người xưa là buộc tóc lên xà nhà để khi học không ngủ gật, nhưng cái tuổi ăn tuổi ngủ của cậu đã thắng cả ý chí hiếu học từ ngàn xưa: mặc dù bị treo đầu lên xà nhà, cậu vẫn ngủ như thường! Chủ nhà trọ gọi cậu là “Anh học trò ngủ treo đầu”! Và điều kỳ lạ xảy ra là, sau mỗi lần “Ngủ treo đầu” như vậy, khi tỉnh dậy cậu thấy bài vở, chữ nghĩa như là bay đi đâu hết! Vì thế, mỗi lần sờ đến sách vở là cậu lại như là phải “Làm lại từ đầu”, tức là phải “học ôn” lại từ…lớp Một! 
Chủ nhà trọ thấy vậy thì nói với cậu học trò : “Tôi cho học trò trọ học thi đã gần hai chục năm nay, chưa thấy ai học hành vất vả như cậu! Tôi khuyên cậu chân tình câu này: tướng tá cậu khỏe mạnh, chân tay cơ bắp nổi như đô vật, cậu chỉ thích hợp với việc bắt cướp, trừ gian! Vậy cậu hãy về quê xin làm công an xã, từ đó phấn đấu dần lên, thế nào cũng thành đạt, không tới tướng soái thì cũng phải là sĩ quan úy tá!”. Cậu học trò đáp: “Nhưng cha mẹ tôi chỉ có một ước nguyện là tôi phải thi đỗ vào đại học! Tôi không thi đỗ đại học là mang tội bất hiếu!”. Chủ nhà trọ thấy vậy thì thở dài, nghĩ cảm thương cho hai bậc sinh thành của cậu học trò ở quê nên mỗi khi cậu học trò nộp tiền nhà, tiền ăn thì chủ nhà trọ lại gửi về quê cho hai ông bà Chín, nói dối là tiền của Hội Khuyến học gửi hỗ trợ người hiếu học! 
*
Thời gian cứ trôi đi… Một năm trọ học của cậu con trai ông bà Chín trôi qua. Như bao sĩ tử thi trượt thì đổ cho câu “học tài thi phận”, cậu con trai ông bà Chín thi trượt là điều tất nhiên. Nhưng cậu không dám báo về cho bố mẹ tin thi trượt mà lại báo tin là đã đỗ vào đại học nhưng vì tiền học phí rất cao nên phải tranh thủ đi làm thêm ngay để có tiền đóng học phí. Chỗ làm thêm là một nhà hàng khách sạn lớn, công việc liên tục 24/24 nên không có cả thời gian rảnh để về quê. Trước mắt, đành “hy sinh chuyện tình cảm nhỏ bé” để hoàn thành “đại sự nghiệp”, khi tốt nghiệp Đại học, tức Đại đăng khoa sẽ “Vinh quy bái tổ” một lần cho gọn gàng! Ông bà Chín nhận được tin như vậy thì mừng “không nói nên lời”, lại âm thầm đi làm thuê làm mướn khắp nơi để gửi tiền cho cậu con trai đóng học phí vì hai ông bà nghĩ, nó phải vừa học vừa đi làm kiếm tiền thì học sao nổi? 
*
  Năm năm sau, vợ chồng ông bà Chín nhẩm tính thằng con đã sắp ra trường, bèn nhờ một người bà con có việc lên thành phố, nhân tiện tìm gặp thằng con giùm!...Người bà con tìm mãi mới gặp cậu con trai ông bà Chín, sau khi hỏi rõ ngọn ngành sự việc thì thở dài, nói: "Sao cậu giấu mãi thế, thi trượt thì đi làm việc khác, có sao đâu! Năm năm nay, cha mẹ cậu cứ nghĩ rằng cậu học hành rất vất vả, đói khổ, ai ngờ!..." Người con trai ông Chín nói:"Em tính chỉ cần giấu một, hai năm nhưng không ngờ thi hoài không đậu, vút cái đã năm năm, làm cho cha mẹ thất vọng lại phải lao động cực nhọc vì em…chắc em chỉ còn cách chết cho hết chuyện!" Người bà con suy nghĩ hồi lâu rồi nói:"Cha mẹ cậu giờ đã già yếu rồi, chỉ sống với hi vọng ở chuyện cậu vào đại học! Cậu mà làm tắt hi vọng đó tức cậu đã giết cha mẹ mình!... Chỉ có một cách như thế này: Tôi sẽ dắt cậu đến một ông thầy dạy đại học, bái lạy ổng làm sư phụ, ổng sẽ luyện thi cho cậu và khi vào học rồi, ổng sẽ kèm cậu học "nhảy cóc", tức chương trình 4 năm chỉ cần học trong 2 năm! Khi nào lấy được bằng Tốt nghiệp, cậu mới được về nhà!...Còn bây giờ, tôi sẽ về nói dối tiếp dùm cậu là cậu được chọn làm tiếp luận văn Thạc sĩ!..." 

Quả nhiên, vợ chồng ông Chín rất sung sướng, tự hào vì chuyện con mình được chọn làm tiếp luận văn Thạc sĩ, chờ ngày "vinh quy bái tổ" thì mười năm vợ chồng ông cũng chờ được!... 
*
Mặc dù ông thầy chuyên luyện thi đại học nổi tiếng “Không đỗ không lấy tiền” rất nhiệt tình “luyện thi” cho cậu học trò con trai ông bà Chín, nhưng sau ba ngày “làm việc” với cậu học trò này cũng phải nói thiệt tình với cậu: “Cậu có biết câu có bột mới gột nên hồ không? Đại loại là đầu óc cậu phải có một chút gì đó gọi là trí khôn thì tôi mới có thể giúp cậu vượt lên từ khôn ít thành khôn nhiều! Đằng này cậu nghe tai này thì nó chạy qua tai kia bay đi mất tiêu, có giữ lại trong đầu được chữ nào đâu!”. Cậu học trò năn nỉ: “Nhưng bố mẹ tôi nhất quyết rằng tôi phải đỗ vào đại học, nếu tôi không đỗ hai người sẽ chết vì đau khổ, thất vọng! Vậy xin thầy làm sao để tôi có thể trở thành sinh viên và chỉ sau hai ba năm có thể tốt nghiệp! Lúc ấy tôi mới có thể về quê gặp song thân được!”. Ông thầy “Vua luyện thi đại học” nghe cậu học trò nói vậy thì bảo: “Thôi được! Muốn có bằng Tốt nghiệp đại học ngay cũng được, nhưng cậu phải lo kiếm được một số tiền lớn, đến lúc ấy ta sẽ tính”. Ông thầy “Vua luyện thi” nói vậy là dùng kế “hoãn binh” cốt đuổi cậu học trò “không thể thi đỗ” này đi cho khuất mắt, nhưng cậu học trò lại nghĩ rằng đó là lời nói thật bèn đến xin làm bảo vệ cho một nhà hàng khách sạn lớn, với sức khỏe của cậu, cậu có thể kiếm thêm được bộn tiền nhờ mang vác đồ cho khách và làm vệ sĩ cho những khách sộp! 

Thời gian cứ vùn vụt trôi đi, cậu học trò con trai ông bà Chín đã kiếm được một món tiền lớn mà theo như sự tìm hiểu của cậu thì có thể mua được một cái bằng Tốt nghiệp Đại học loại xịn. Đúng ngày cậu học trò con ông bà Chín đến nhà ông thầy “Vua luyện thi” để giải quyết dứt điểm câu chuyện “Vào đại học” thì xảy ra một sự cố ngoài sức tưởng tượng của cậu: Cha mẹ cậu ở quê đã lên thành phố tìm cậu một tuần nay và đang làm thuê cho “Trung tâm luyện thi siêu tốc” của ông thầy “Vua luyện thi”: bà mẹ thì nấu cơm, đun nước cho đám trọ học còn ông bố thì làm bảo vệ, dọn vệ sinh nơi luyện thi! Cậu con trai ông bà Chín không nhận ra được cha mẹ mình ngay vì năm năm trôi qua đã khiến tóc cả hai ông bà bạc trắng và khuôn mặt thì chằng chịt những nếp nhăn!... 
Khi hai người cha mẹ tức vợ chồng ông bà Chín nhận ra người con trai, bà mẹ ôm lấy cậu con trai mà khóc ngất, còn người cha thì đứng lặng như tượng đá! Phải đến năm phút sau, người cha mới nói được mấy câu nghẹn ngào: “Con ơi!... Vì chuyện thi đại học mà gia đình bé nhỏ của chúng ta phải chia lìa, sống trong nỗi khắc khoải nhớ thương thì không đáng! Con bỏ cái trường đại học ấy đi, về nhà với cha, mẹ!...Mẹ con không sống được bao lâu nữa đâu!...”. Còn người mẹ thì vừa khóc vừa cười, kéo tay cậu con trai đi mà rằng: “Về nhà với mẹ, mẹ sẽ nấu cho con một nồi canh chua cá lóc thật ngon!...Rồi mẹ sẽ cưới vợ cho con!”. Và người mẹ cứ thế lôi tuột cậu con trai ra bến xe đò Liên tỉnh! Cậu con trai bước đi theo mẹ mà không có phản ứng gì vì thực ra, ước muốn lớn nhất mà cậu luôn nghĩ tới là được ngồi trước nồi canh cá lóc thơm phức và sau khi no nê rồi thì có cô vợ khéo chiều chồng kế bên!...
Sài Gòn, tháng 7-2010 
Đỗ Ngọc Thạch

___________________________

(
*) Cá chuối đắm đuối vì con:  Cá chuối đắm đuối vì con là câu thành ngữ chỉ sự chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ quên mình vì con cái của cha mẹ. Cá chuối (còn gọi là cá tràu, cá quả, người miền Nam gọi là cá lóc)  có tên khoa học là snake-head là loại cá nước ngọt sống phổ biến ở ao hồ và các khúc sông tĩnh lặng. Mùa đẻ trứng của cá từ tháng 5 đến tháng 10. Mỗi lần cá đẻ khoảng 7000-8000 trứng. Trước khi đẻ, cá làm một cái tổ bằng cây thủy sinh, rồi đẻ vào bên trong. Trứng nổi thành đám. Cá mẹ nấp ở dưới để canh chừng không cho cá khác ăn mất trứng. Cá con nở ra, sống thành đàn ở mặt nước gọi là "tổ rồng rồng". Tổ rồng rồng ở đâu là cá mẹ ở đó.

Có câu chuyện xưa kể rằng: " Có đàn cá chuối non mới nở ở ao. Chúng theo cá mẹ đi kiếm ăn nhưng vì ao nhỏ, cá lại nhiều nên thức ăn chẳng có mấy. Đàn cá con cứ nhao nhao lên mặt nước, mà chẳng kiếm được gì. Một hôm, có một con cóc ngồi trên bờ ao, thấy đàn cá con bị đói quá mới nói với cá Chuối mẹ rằng : “Ở trên bờ nhiều kiến lắm. Chị mà lên đấy thì no cả tháng”. Cá Chuối mẹ mới hỏi : “ Ở trên ấy, chị còn nhảy đi kiếm được, chứ như tôi, không tay, không chân bắt thế nào được chúng?”.Cóc mới bảo : “Kiến nó thích cái nhớt của chị lắm! Chị chỉ cần nằm ở trên bờ một lúc là chúng bu đến. Chị tha hồ ăn”. Cá chuối nghe có lý lại nghĩ đến đàn con đang đói, nó bèn liều mình nhảy lên bờ ao, nằm giả chết. Một con kiến thấy mùi cá tanh, chạy đến, rồi hai, ba con, chỉ một lúc cả đàn bu lại. Cá Chuối mẹ bị kiến cắn đau, lại thêm lên cạn, da khô tưởng muốn chết nhưng vẫn nghiến răng chịu đựng. Nó đợi cho đàn kiến bu đầy mới quăng mình nhảy tõm xuống nước. Hàng trăm con kiến nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Đàn cá chuối con tha hồ ăn. 
...Một hôm, trời nóng nực, Cá Chuối mẹ nhảy lên bờ, chờ cho đàn kiến đến bu đầy người, da khô rộp cả. Cá Chuối mẹ vẫn kiên trì chịu đựng đau đớn vì đàn con đang đói ăn. Đàn kiến đã bu đầy, Cá Chuối mẹ giẫy mạnh lại gần bờ nhưng sức đã kiệt, tới ao thì nó đã cạn sức, chìm xuống tận đáy và chết... 
Vì thế mà có câu "Cá Chuối đắm đuối vì con".