Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

4 Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch : người bán thuốc...

24 truyện ngắn trên vietvanmoi:

CHUYỆN NGƯỜI BÁN THUỐC CÁI HÚT NƯỚC QUANH HỒ GƯƠM SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ CÂU CHUYỆN TẤT NIÊN MẸ TÔI LÀ Y TÁ LÁ THƯ TUYỆT MỆNH CHUYỆN VỢ CHỒNG BẠN HỌC ĐẠI HỌC VỤ ÁN CHIẾC NÚT ÁO CASMIA MẶC CẢM Ê-ĐÍP NGÀY BA MƯƠI MỐT VỤ  ÁN  XÁC  CHẾT  TRONG  BAO  TẢI KÝ  ỨC  LÀM  BÁO ĐÁM   CƯỚI   VÀNG KIM   NGÂN   ĐIỀN KÝ ỨC  MÙA  THI GIAI  ĐIỆU  MÙA  HÈ BẠN  VONG  NIÊN LẤY  VỢ  XẤU QUÂN  SƯ NGƯỜI  CÓ CON  MẮT  XANH CÁ CHUỐI  ĐẮM  ĐUỐI  VÌ CON
Trích:
CHUYỆN NGƯỜI BÁN THUỐC CÁI HÚT NƯỚC QUANH HỒ GƯƠM SỰ LỰA CHỌN NGHIỆT NGÃ
http://suckhoe365.net/wp-content/uploads/2011/08/thu%E1%BB%91c-g%C3%A2y-b%C3%A9o-v%C3%A0-c%C3%B3-hai-cho-tim-m%E1%BA%A1ch.jpeg

CHUYỆN NGƯỜI BÁN THUỐC

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
 
Lợi là con mồ côi cả bố lẫn mẹ, được ông chủ tịch xã thương tình đem về nuôi từ năm lên sáu tuổi, lúc Lợi đang lặn lội suốt ngày ngoài đồng mò cua bắt ốc. Làm con nuôi ông chủ tịch xã, nếu Lợi chịu khó học hành có lẽ đã được đi đây đi đó, thậm chí đi học nước ngoài vì nhiều năm phân bổ tiêu chuẩn cho xã nhưng chẳng có ai. Lợi mải chơi, suốt ngày chỉ chạy lông nhông ngoài đường cho nên ông bố nuôi xếp cho Lợi làm cái chân văn thư chạy công văn giấy tờ cho xã. Làm công việc này Lợi rất thích vì được đón tiếp vui vẻ. Nhưng có người nói với Lợi : “Cậu đã đến tuổi trưởng thành mà cứ lông nhông thế này thì khi ông bố nuôi nghỉ hưu, cậu vẫn hai bàn tay trắng, biết trông cậy vào ai ? Chi bằng đi học lấy một cái nghề thời nào cũng sống được …”. Người đó lại bảo Lợi nên đi học nghề thuốc vì thời nào cũng có người đau ốm, cần có thuốc men, vả lại cái nghề này cũng sạch sẽ, nhàn hạ. Thế là Lợi nói với bố nuôi cho đi học lớp y tá, có vài tháng đã ra trường, về làm việc ngay tại Trạm Y tế xã. Từ ngày làm ở Trạm Y tế xã, Lợi được dân làng săn đón, quý nể còn hơn cả ông chủ tịch xã, Lợi thích lắm !...
Nhưng , “niềm vui ngắn chẳng tày gang” : có một lần, Lợi cho người bệnh uống nhầm thuốc, gây tử vong ! Gia đình nạn nhân kiện Lợi, Lợi sợ hãi bỏ trốn. Người nhà nạn nhân biết được, đuổi theo bắt Lợi phải đền mạng. Đuổi đến một cái cầu bắc qua con sông lớn, nước chảy xiết thì Lợi luýnh quýnh thế nào rớt xuống sông. Người nhà nạn nhân thấy vậy thì hoảng sợ, chạy về ngay…
Số Lợi còn dài nên có một ông lão đang ngồi trên thuyền câu đã nhìn thấy Lợi rớt xuống sông. Ông lão thợ câu vớt Lợi lên, hỏi rõ đầu đuôi rồi nói:
- Mày có tướng “Quý nhân phò trợ”, không những không chết mà còn có thể phát rất mạnh. Trước hết, mày hãy vào thành phố, đến mấy cái bệnh viện mà xin việc làm, chỉ thời gian sau là thành triệu phú, rồi tỷ phú không chừng !...Lúc ấy đừng quên ông già câu cá này nhá !...
Nói rồi ông lão thợ câu cho Lợi vài đồng làm lộ phí. Lợi đi một mạch tới thành phố mà chưa tiêu hết một xu nào !..
*
Ngày đầu tiên ở thành phố, Lợi thuê một gường ở phòng trọ bình dân rồi thả bộ đi quan sát phố phường. Vừa đi Lợi vừa nghĩ : “Phố phường thật vui, cái gì cũng có, người xe như nước, áo quần như nêm…Suýt nữa thì ta chết già ở cái xóm nghèo heo hút !...May mà ta gặp nạn mới được tới thành phố như thế này. Đúng là trong cái không may lại có cái may !”…
Tới một phố vắng toàn nhà cao cửa rộng, hai bên đường có hai hàng cây cổ thụ rì rào gió mát, Lợi bỗng thấy có một cánh cổng sắt bật mở, một người đang bế một đứa bé chạy vội ra, một người đàn bà to béo chạy theo vừa khóc vừa kêu la rối rít. Lợi đi lại gần thì người đàn bà tóm lấy Lợi mà rằng :
- Cậu ơi, cậu chạy đi gọi xích lô cho tôi mau lên, con bé nhà tôi nó bị đau bụng dữ dội, nhanh lên không chết mất !...
Lợi nhìn đứa bé, nó khoảng năm sáu tuổi, người khỏe mạnh béo tốt, đang ôm bụng kêu la ầm ĩ. Lợi rờ tay vào bụng đứa bé và giật mình khi thấy cuộn lên một bó giun ! Giun trong bụng đứa bé nó đang nhảy múa đó mà ! Lợi nói với bà mẹ :
- Đứa bé bệnh rất nặng, nhưng tôi có thể cấp cứu và chữa được !...
- Cậu chữa được à ? Cậu là bác sĩ à ? – Bà mẹ níu chặt lấy tay Lợi hỏi dồn dập.
- Bình tĩnh, bà cứ bình tĩnh…Đưa em nó vào nhà đặt lên gường, cởi hết quần áo ra…
Người ta làm răm rắp theo Lợi. Khi đứa bé nằm trên gường rồi, Lợi day mấy cái huyện cho nó ngủ yên rồi bảo người nhà chạy ra hiệu thuốc mua thứ này một ít, thứ kia một ít…
Cuối cùng thì Lợi cũng làm được cái chuyện là lôi cổ đám giun đũa trong bụng đứa bé ra. Không hiểu tại sao lúc ấy Lợi lại nói năng, hành động rất mau lẹ, hoạt bát và nói những điều rất hay ho về bệnh tật đến nỗi bà chủ nhà cứ há mồm ra mà nghe. Bà chủ tin Lợi, phục Lợi và ơn Lợi cũng phải thôi vì chỉ hai ngày sau, đứa bé đã trở lại bình thường , chạy nhảy tung tăng rất dễ thương. Qua những câu chuyện, Lợi được biết bà chủ nhà là vợ một ông cán bộ cấp tỉnh mới được điều về thành phố khoảng năm sáu năm gì đó, hiện đang đi học thêm ở nước ngoài. Còn bà chủ nhà sáu năm trước cũng là một cô thôn nữ nhà nghèo, đọc chưa thông viết chưa thạo, ngoài nhiệm vụ đẻ con cho chồng ra thì không biết làm gì nữa. Lợi bỗng vụt ý : “Ta cứ tưởng người thành phố phải như thần thánh, tiên phật cơ chứ, hóa ra cũng vốn từ đồng ruộng mà ra cả !...Họ sống và giàu có được thì ta cũng phải sống được và làm giàu như họ…”. Thế là từ hôm đó, Lợi ao ước và dự tính sẽ phải có được một cái nhà lầu to đẹp như ông bà chủ này !...
Ơn cứu người thật là vô giá nên Lợi được bà chủ lưu lại như là thượng khách. Không hiểu tại sao Lợi lại sáng tác ra được một lý lịch rất “kịch tính” về hoàn cảnh của mình : Là sinh viên trường Y năm cuối, chuẩn bị nhận bằng bác sĩ thì “tranh chấp tình yêu” với ông thầy, và vì giận cô người yêu phụ tình, bỏ anh học trò nghèo mà theo ông thầy vừa già vừa giàu nên Lợi đã bỏ trường Y đi sống giang hồ, học thêm nghề thuốc ở trường đời !...Nghe hết câu chuyện tình đẫm lệ của Lợi, bà chủ thổn thức hàng giờ liền và sau khi lau khô những giọt lệ nóng bỏng, bà chủ thú thực với Lợi :
- Giá tôi chưa có chồng thì tôi sẽ thành người tình của cậu !...Thú thực, đây là lần đầu tiên trong đời tôi thấy con tim mình như có ai xé nát ! Tại sao người con gái kia lại bạc tình bạc nghĩa như thế ?...
Lợi đã đủ khôn ngoan để không bỏ lỡ cơ hội trước một con tim đang thổn thức. Lúc ôm bà chủ mập ú vào mà hôn như điên, Lợi suýt bật ra tiếng nói cứ lởn vởn trong đầu : “Ước gì ta trở thành ông chủ của tòa biệt thự này !”…Song, bà chủ nhà tỏ ra rất tỉnh trong hoàn cảnh xa chồng của mình. Bà ân ái với Lợi nhưng lại thu xếp cho Lợi đến tá túc ở nhà một bà bạn đã bỏ chồng, hiện đang bán thuốc tây ở hè đường. Trước khi chia tay Lợi, bà chủ gia hẹn : “Nếu chồng tôi có ngoại tình lăng nhăng thì tôi sẽ li hôn và chúng ta sẽ cưới nhau rồi ở trong nửa cái biệt thự này !”. Thế là từ đó, Lợi “sống chung” với một người đàn bà bán thuốc tây ở hè đường. Nhiều lúc Lợi cứ thầm nghĩ : “Sao người ta ra thành phố nhiều thế và kiếm sống khó khăn thế ? Còn ta, lại thuận lợi làm sao và nếu như lời ông thợ câu bên sông mà đúng thì ta sẽ phất lên nhờ cái nghề bán thuốc này đây ?”.
Lời ông thợ câu quả thật là thiêng : Người đàn bà “sống chung” với Lợi buôn bán thật nhẹ nhàng mà tiền vào như nước. Bà ta chỉ cần Lợi “đáp ứng về mặt tình cảm” còn mua sắm cho Lợi không thiếu thứ gì. Từ căn nhà lụp xụp nơi bãi sông, bà ta mua được căn nhà mặt tiền trên phố đông đúc. Từ khi có cửa hàng cửa hiệu, công việc mua bán càng phát triển, nhiều lúc không đủ hàng mà cung cấp cho các đầu mối từ các tỉnh về. Vào một hôm rảnh rỗi vì bán hết thuốc, bỗng Lợi nảy ra một sáng kiến : Sao ta không chủ động sản xuất ra thuốc mà cứ phải chờ đợi ở đâu đưa đến ? Thế là từ đó, Lợi cho người đi thu gom các loại bao bì, nhãn thuốc để “sản xuất” ra thuốc mới. Thuốc mới của Lợi chủ yếu là làm từ bột mì, bột sắn pha màu như thuốc thật rồi đóng lại vào trong các “con nhộng” hoặc dập thành viên. Lợi nghĩ : “thuốc của mình vô hại, trộn lẫn với thuốc thật thì chẳng ai mà biết được. Vả lại, bây giờ người ta ưa dùng thuốc liều cao gấp đôi ba lần bình thường, thì có lẫn vài viên thuốc “vô hại” vào có ăn nhằm gì ? Không ngờ Lợi lại có “hoa tay” trong cái nghề “sản xuất” thuốc giả này, phải uống thử mới có thể phân biệt được đâu là thuốc thật và đâu là “thuốc” do Lợi “sản xuất” ! Vào những đợt khan hiếm thuốc, Lợi đã phất lên như diều gặp gió. Đúng sau ba năm hành nghề. Lợi đã có thể sánh ngang với các tỉ phú của thành phố !...
*
Để ăn mừng sự thành đạt và tưởng nhớ đến người đã cứu mạng đồng thời cũng là nhà tiên tri là ông thợ câu, Lợi đã tổ chức đại tiệc. (Lợi đã cho người tìm về bến sông thì không thấy ông thợ câu đâu nữa). Nhưng sau bữa tiệc, cả nhà Lợi bỗng lăn ra đau bụng dữ dội, ai cũng ôm bụng quằn quại, riêng Lợi thì bị cấm khẩu. Người hàng xóm bảo đưa đi bệnh viện cấp cứu nhưng Lợi không chịu, viết giấy, ra hiệu nhờ đi kiếm thầy lang đông y. Một lúc sau, người hàng xóm đưa một ông lang đến. Lợi nhìn thấy ông lang thì giật mình nhận ra đó chính là ông thợ câu ở bến sông ba năm về trước ! Ông lão nói :
- Mày có quý tướng nhưng đồng thời cũng có phá tướng, tất gặp nạn lớn nếu cứ lao vào kiếm tiền bằng cái cửa hàng thuốc này. Ta sẽ chữa khỏi cho cả nhà ngươi, nhưng kèm theo một điều kiện ?
Lợi viết ra một tờ giấy : “Điều kiện gì tôi cũng xin theo nếu ông lại một lần nữa cứu mạng”.
Ông lão lại nói :
- Viết giấy hiến toàn bộ ngôi nhà lầu này cho trường nuôi trẻ tàn tật !...
Lợi viết vào tờ giấy : “Thế thì tôi sẽ ở đâu ?”
Ông lão nói liền một mạch :
- Nhà ngươi trở về làng xưa mà sống. Ông bố nuôi của mày đã nghỉ hưu ba năm nay, nhưng con trai lớn ông mới nhận chức chủ tịch xã như bố ngày xưa. Anh ta cần người chạy công văn giấy tờ cho xã và đã cho người đi tìm mày về để làm cái công việc ấy ! Chỉ có một cách duy nhất đó mà thôi. Nếu mày không nghe thì cứ nằm đấy mà đợi thần chết đón đi !
Lợi vội vàng viết vào tờ giấy : “Xin ông cứu mạng, tôi sẽ nghe theo tất cả !”
Ông lão thợ câu bèn lấy ra ba viên thuốc đen bóng nhét vào mồm Lợi rồi vạch quần đái tồ tồ vào mồm Lợi. Lợi sặc sụa rồi nuốt ừng ực. Sau một phút. Lợi nằm ngủ thiếp đi. Sau đó, ông thợ câu cho người đưa tất cả vợ con Lợi vào bệnh viện cấp cứu. Trong lúc chờ Lợi tỉnh lại, ông lão thợ câu gọi người đến cho tất cả thuốc ở cửa hàng của Lợi vào bao tải rồi đem đổ xuống sông… 
*
…Bây giờ, nếu ai đến trụ sở UBND cái xã Thủy Sơn ấy, sẽ thấy một người chạy văn thư rất khó đoán tuổi, lúc nào cũng đeo cái túi đựng công văn giấy tờ, thư báo bên sườn, đó chính là Lợi, người đã từng là một đầu nậu thuốc Tây nổi tiếng một thời. Dù ốm đau, bệnh tật thế nào, ông ta cũng cương quyết không uống thuốc và bất chợt nhìn thấy ai uống thuốc, ông ta cũng giật mình hốt hoảng rồi bỏ chạy như bị ma đuổi!...
TP.HCM, 1996-2009
Đỗ Ngọc Thạch
http://blog.chaobuoisang.net/images/stores/cs/2011/05/21/cai-vang-ben-song.jpg          

CÁI HÚT NƯỚC

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
Không hiểu sao buổi chiều hôm ấy tôi lại quá buồn, bèn thơ thẩn đi ra bờ sông . Gió nhẹ thổi mà sao tôi thấy lành lạnh, một cảm giác hồi hộp lo âu cứ lớn lên trong tâm trí …
Tôi đi lững thững quanh những bụi cây lúp xúp ven sông . Thỉnh thoảng một con chim cút lại vút lao ra, khiến tôi giật thót, và lúc này thì tôi giật mình kinh ngạc thật sự : Bên cạnh một bụi cây cách tôi khoảng 50 mét là một đôi nam nữ đang nằm ân ái với nhau. Họ trần truồng như nhộng, quấn quít lấy nhau một cách cuồng nhiệt…Chỉ thoáng nhìn, tôi đã nhận ra người phụ nữ là chị M, vợ anh H., ở ngay cạnh nhà tôi, anh là bạn cờ tướng của tôi từ lâu. Còn người đàn ông thì tôi không biết là ai ? Tôi quay lại lối cũ và nghĩ : lúc tôi đi ra khỏi khu chung cư, tôi thấy chị M chở thằng con trai bốn tuổi trên chiếc hon đa nữ, nói là đưa con đi chơi công viên, sao giờ này chị ta lại ở đây với tình nhân ? Còn thằng bé con đâu ? Cái cảm giác hồi hộp lo âu ban nãy lớn lên đột ngột, tôi nhớn nhác chạy cuống cuồng, tôi chợt nghĩ rằng : có thể thằng bé con chị M đang chơi ở đâu bên bờ sông ?
Tôi đứng sững lại bên một cái hút nước và trước mặt tôi là một người lạ mặt, nhìn dáng có vẻ dân thuyền chài. Ông ta ngồi im như pho tượng, nhìn chăm chăm vào cái hút nước, trên tay cầm một cái ôtô điện tử bé xíu. Thấy tôi, ông ta hỏi :
- Anh đi tìm một đứa bé phải không ?
Tôi ngạc nhiên đáp :
- Đúng thế ! Tại sao ông lại biết tôi đi tìm một đứa bé ?
- Tôi biết, vậy thôi !
- Thế đứa bé đâu ?
- Nó được Long vương gọi xuống Thủy cung gả công chúa cho rồi.
- Ông nói chuyện gì thế ? Tôi không muốn nghe chuyện cổ tích ! Tôi hỏi đứa bé đâu rồi ?
- Tại sao anh lại ăn nói thô lỗ với tôi như thế ? Tôi là bạn của Long vương đấy ! Tất cả những người thợ câu, thợ đánh bắt cá trên sông này đều là bạn của Long Vương cả !
- Thôi, cho tôi xin…Tôi muốn ông nói thẳng ra : đứa bé đâu rồi ?
- Nó ở dưới hút nước này…Đó là lối vào Thủy cung của Long Vương !
- Sao ông không lặn xuống cứu nó ? Ông cứ lảm nhảm nói Long vương với Thủy cung là cớ làm sao ?
- Thôi, anh đi về đi, đến tối, tôi sẽ câu xác nó lên rồi mai táng ở khu mộ những người thợ câu !
- Tôi phải lặn xuống cứu đứa bé !...
Nói rồi tôi chạy ào xuống hút nước, tính nhảy đại xuống . Nhưng vừa tới mép nước, tôi đã bị người thợ câu giữ lại chặt cứng trong bàn tay như hai gọng kìm. Người thợ câu lôi tôi lên một mô đất, ấn tôi ngồi xuống và chậm rãi nói :
- Tôi biết anh không phải là bố đứa trẻ, có đúng không ?
- Đúng !...Nhưng…
- Không nhưng gì hết ! Tôi nói cho anh biết, ai đã rơi xuống cái hút nước này thì không bao giờ nổi lên được mà chỉ có một mình tôi là có thể câu lên được thôi !
- Vì sao lại như thế ?
- Anh không hiểu gì về sông nước thì nói với anh cũng bằng thừa ! Lúc nào rảnh rỗi, anh hãy đến nhà tôi, tôi sẽ nói cho anh nghe, cả đời người cũng không hết !
- Thế nhà ông ở đâu ?
- Đấy, con sông này !...
- Nếu thế tức là đứa bé đang ở trong nhà ông ? Ông hãy cho tôi xin lại đứa bé tội nghiệp ấy !
- Tôi đã nói chưa được là chưa được ! Phải đến giờ Thìn, Long vương mới chịu trả lại đứa bé ! À, anh có biết bố mẹ đứa bé ở đâu không ?
- Có ! Vợ chồng anh ta ở ngay cạnh nhà tôi, trong một khu chung cư !
- Tôi đề nghị anh không cần phải nói cho bố mẹ đứa bé biết chuyện này. Tôi sẽ mai táng nó ở khu nghĩa địa của làng chài. Làm bố mẹ không biết con mình ra sao thì…
Có tiếng hú gọi bên kia sông. Người thợ câu hú đáp lại và nói :
- Thôi, anh đi về đi ! Ngày mai tôi sẽ làm lễ mai táng đứa bé. Anh cứ qua bên kia sông hỏi ông Chi Câu, ai cũng biết !
Người thợ câu nói rồi nhảy vút lên con thuyền nhỏ, thoáng cái đã thấy con thuyền lao ra dòng sông như một mũi tên rồi mất hút trong sóng nước mông mênh !...Một làn gió lạnh ào đến khiến tôi run lên…Sau vài phút định thần, tôi vẫn như người mộng du, không biết đã có chuyện gì vừa xảy ra với mình…
Trời đã chạng vạng tối, tôi chạy vội vàng như bị ma đuổi. Chạy mãi, chạy mãi, tôi bỗng vấp phải một vật gì đó mềm mềm, nhũn nhũn ? Nhìn kỹ thì ra là hai người đang nằm ôm nhau ngủ như chết, một đàn ông, một đàn bà. Không biết họ nằm đây từ bao giờ ? Vì sao họ lại ngủ say như thế ?
Tôi bị sốt li bì suốt một tuần liền. Đó là hậu quả của những cơn sốt rét rừng từ thời chiến tranh để lại, thỉnh thoảng nó lại hành hạ tôi như thế mỗi khi cơ thể tôi suy nhược vì một lý do nào đó. Lần này thì vì lý do gì vậy ? Phải đến ngày thứ tám, tôi mới hoàn toàn tỉnh táo và nhớ lại một cách rành rẽ những gì đã xảy ra cách đây tám ngày. Tôi hỏi mẹ tôi :
- Mẹ ơi, chị M hàng xóm của chúng ta có nhà không ?
- Con hỏi làm gì ?
- Con muốn gặp chị ta nói một chuyện này !
- Thôi con ơi, chị ta là người phức tạp lắm. Vừa rồi vợ chồng cãi nhau tan cửa nát nhà. Chị ta bỏ đi với tình nhân rồi, hình như đi ra nước ngoài thì phải !
- Đi ra nước ngoài ? Thế còn anh chồng ? Còn thằng con trai bốn tuổi đâu ?
- Anh chồng bây giờ như người bị bệnh tâm thần. Mới có mấy ngày gia đình tan vỡ mà người gầy xọp đi, tóc bạc trắng như ông lão bảy mươi. Suốt ngày cứ đi lang thang ngoài đường như đi tìm ai ?
- Đi tìm thằng con trai đấy ? Thế thằng bé đâu ?
- Nghe chị M nói đem gửi thằng bé về quê sống với ông bà ngoại rồi. Không biết có đúng không ? Mẹ có linh cảm như có điều gì bí ẩn đằng sau câu chuyện này ?
- Linh cảm gì nữa ! Thằng bé bị chết đuối rồi, sao lại nói là đem về quê với ông bà ngoại ?
- Chết đuối ở đâu ? Có thật không ? Tại sao con lại biết ?
- À, không phải chết đuối đâu, Long vương gọi xuống Thủy cung gả công chúa cho nó đấy !
- Mày lại lảm nhảm rồi, lại lên cơn sốt rồi đây này. Nằm xuống đi mẹ lấy khăn chườm cho !
Tôi mơ màng đi vào giấc ngủ từ lúc nào không hay. Bên tai tôi văng vẳng lời ru thật buồn của mẹ :
“ Con ơi tha lỗi mẹ cha
Có sinh không dưỡng thì thà đừng sinh…”
Rồi tôi được hai vị sứ giả trông như hai con cá dắt xuống cái hút nước, thoáng một cái đã thấy một tòa cung điện nguy nga lộng lẫy. Từ xa, tôi đã nhìn thấy một đứa bé đang ngồi cạnh vua Thủy Tề. Tôi chạy ào tới, vừa nhìn thấy tôi, nó òa khóc và nhào tới ôm chặt lấy tôi !...
*
Câu chuyện tôi vừa kể trên cách nay đã vừa một giáp, tức mười hai năm. Tôi tưởng như đã quên khuấy đi bởi tối ngày tất bật làm đủ mọi công việc vì miếng cơm manh áo. Nhưng hôm ấy, cái buổi chiều ảm đạm kia bỗng hiện về đột ngột, rõ ràng từng chi tiết khi tôi bất ngờ gặp lại chị M hàng xóm năm xưa trong một đoàn cứu trợ nhân đạo nước ngoài đi làm từ thiện ở một trung tâm bảo trợ xã hội. Mặc dù đứng tuổi và ăn mặc khác hẳn xưa, nhưng tôi vẫn nhận ra đúng rõ mồn một cái bà Pi-tơ phu nhân kia chính là chị M hàng xóm ngày nào. Bà ta đang say sưa trả lời hai nhà báo đang phỏng vấn những câu hỏi rất ấm ớ, chẳng ăn nhập gì với nội dung của buổi làm việc từ thiện này cả. Hình như hai nhà báo kia rất sùng bái những bà chủ Việt kiều nên cứ thay nhau ghi âm chụp ảnh quanh bà Pi-tơ phu nhân, khiến tôi không thể xen vào một câu nào. Tôi nhìn bà ta một hồi như thôi miên rồi viết vào một tờ giấy mấy chữ sau : “Tôi muốn hỏi bà hai câu thôi : 1 – Bà có phải là M, vợ ông H, mẹ thằng cu H. M không ? 2 – Nếu phải thì tại sao bà không ra cái hút nước bên bờ sông ấy mà tìm con ?”.
    Khi hai nhà báo ham phỏng vấn và chụp ảnh kia đang loay hoay sửa máy ghi âm và máy ảnh (bị hỏng hóc đột xuất), tôi liền đưa cho bà Pi-tơ phu nhân mảnh giấy. Bà ta đọc xong thì mặt biến sắc, hốt hoảng nhìn tôi. Nhưng chỉ sau một phút, bà Pi-tơ phu nhân bỗng la toáng lên :
- Hãy bắt ngay cái thằng lưu manh này ! Nó vừa bóp vú tôi !
Tức thì, tôi tối tăm mặt mũi và không biết gì nữa. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình ở trong trại giam, xung quanh là những khuôn mặt gớm ghiếc xa lạ. Thì ra đó toàn là những tay anh chị đầu gấu. Thấy tôi tỉnh lại, một thằng dựng cổ tôi lên hỏi :
- Anh già này tại sao lại bị tống vào đây ?
- Đại náo Thủy cung ! - Tôi buột miệng nói.
- Á…thì ra cũng là một anh hùng hảo hớn ! Xin tôn làm đại ca ! Đại ca hãy kể cho bọn đàn em này nghe câu chuyện đại náo Thủy cung đi ?
- Hãy đưa cho ta một lít rượu ! -Tôi lại buột miệng nói.
Cả bọn thoáng nhốn nháo rồi nhoáng một cái đã thấy một chai rượu đặt trước mặt tôi và tất cả bọn đã ngồi im lặng xung quanh tôi như một đám lâu la ngồi xung quanh chủ tướng lục lâm thảo khấu ngày xưa ! Tôi làm một hơi hết gần nửa chai rượu. Đầu óc như là có lửa đốt. Tôi nhắm mắt lại và chợt nhìn thấy cái hút nước mười hai năm trước bên sông vắng . Và ông thợ câu đột ngột hiện ra, từ dưới nước bước lên. Ông thợ câu đang bế một đứa bé người đẫm nước !...Và tôi đã kể câu chuyện về cuộc đời của Pi-tơ phu nhân cho lũ chúng nghe, có thằng trợn mắt nghiến răng kèn kẹt…
TP.HCM,1993-2009                                                 
Đỗ Ngọc Thạch

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2012

Làng Nói Trạng; Làng tôi xanh bóng tre - Đỗ Ngọc Thạch

http://tinhtayninh.vn/upload/images/images.jpeg

Làng nói trạng

Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch

 

 Nếu có ai hỏi ông Đồ Tiếu, một trong số những người cao tuổi nhất Làng Hạ, rằng tại sao Làng Hạ có “biệt danh” là “Làng nói Trạng” thì ông đều kể bằng một câu chuyện rất dài và chỉ có thể tóm tắt như sau:
Ngày xưa, có lần ông Thầy Địa lý khét tiếng Tả Ao trên đường đi ngao du bốn phương, khi tới Làng đã năm lần bảy lượt bỏ đi rồi lại quay lại Làng, đi tới đi lui, định nói gì rồi lại thôi. Cứ như thế suốt hai ngày, khiến cho những nhà Nho trong Làng hồi hộp lo âu không biết Làng mình có điều gì bí ẩn mà đến bậc đã khiến cho Quỷ khốc Thần sầu như Tả Ao Tiên sinh phải đắn đo nhiều như vậy? Đến ngày thứ ba, dường như đành bất lực trước những bí ẩn của Thiên cơ, Thầy Tả Ao đến chào bái biệt Trưởng Làng. Trưởng Làng cố gặng hỏi để thầy Tả Ao nói cho vài câu nhưng thầy đều nói mãi ba chữ: “Bất khả tri!”.  Đến khi Trưởng Làng bảo người vợ ra chào thì thầy Tả Ao giật mình kinh ngạc chú mục nhìn người vợ Trưởng Làng rồi ngồi phịch xuống ghế, mắt nhắm nghiền rồi nói: “Kỳ nhân dị tướng! Ngàn năm mới có một người!”. Trưởng Làng thấy vậy thì bảo người nhà lui hết đoạn vái thầy Tả Ao ba vái mà nói: “Xin thầy cho biết! Xin thầy cho biết!”. Thầy Tả Ao lúc ấy mới thong thả nói: “Vợ ông mới tắm xong, cho nên tôi thấy Con Ô Long còn dính nước và nó bò tới mắt cá chân bà nhà! Còn bình thường thì nó xoắn lại, cuốn xung quanh cái chân ngọc ngà của bà nhà, nên không ai nhìn thấy con Ô Long đó! Đó gọi là Tướng cách Đại Quý Ô Long quấn ngọc trụ!”. Thầy Tả Ao nói vậy nhưng Trưởng Làng còn chưa hiểu ra sao, thầy Tả Ao phải giải thích cặn kẽ: “Âm mao của bà nhà cực kỳ xum xuê như lau sậy, trong đó có một sợi đen nhánh, to bằng ba sợi khác, bình thường thì sợi âm mao này xoắn lại quấn lấy bắp đùi, bắp vế bà nhà, cho nên gọi là Ô Long quấn ngọc trụ, tức Con Rồng đen quấn cột ngọc! Ban nãy bà nhà tắm, dội nước nên con Ô Long mới duỗi ra, dài tới mắt cá chân, nên tôi đã nhìn thấy đuôi con Rồng đen đó!”. Trưởng Làng ngẩn ngơ một lúc rồi như hiểu ra, song vẫn cố hỏi cho cặn kẽ: “Vậy con Ô Long của bà nhà tôi có liên quan gì tới vận số của Làng này nói chung?”. Thầy Tả Ao nói: “Sao lại không liên quan! Làng ông là vùng đất Địa linh Nhân kiệt, nhân tài xuất chúng có nhiều nhưng do hướng Đình đặt sai cho nên bị ma quỷ quậy phá, kẻ xấu hãm hại mà không đạt tới kết quả mỹ mãn, đáng đỗ Trạng mà không thấy tên trong bảng Vàng, bia đá!... Song nhờ có Ô Long phò trợ mà tai qua nạn khỏi”. Trưởng Làng nghe nói vậy thì muốn nhờ thầy Tả Ao chọn lại hướng Đình, nhưng thầy Tả Ao nói: “Vận số của Làng đã được định đoạt cho tới vài trăm năm nữa, tôi sao dám sửa lại sổ sách của Nhà Trời. Song tôi có thể giúp cách khắc chế tai ương, giảm thiểu điều xấu, bảo lưu điều tốt!”. Hỏi làm như thế nào thì Thầy Tả Ao nói: “Cần làm ngay cái miếu thờ Thần Ô Long, đặt ở hướng chính Tây của Đình Làng, khoảng cách là năm đến mười dặm. Thêm nữa, trong Làng, phàm chỗ nào đất đã trũng thì cho đào thành ao hồ, thả hoa sen, hoa súng. Cần có ít nhất chín cái ao hồ lớn để làm chỗ cho Thần Ô Long giáng hạ. Điểm cuối cùng, nên đổi tên Làng Hạ thành Làng Hạ Long!”…
Trưởng Làng lắng nghe như nuốt từng chữ, từng lời của thầy Tả Ao. Nghe xong, Trưởng Làng định hỏi thêm thì đã không thấy thầy Tả Ao đâu nữa!
Từ khi Làng mang tên mới là Làng Hạ Long, cảnh sắc của Làng trở nên tươi đẹp như tranh vẽ. Làng có chín cái hồ lớn và chín cái ao nhỏ lúc nào cũng ngào ngạt hương hoa sen, hoa súng gợi cảnh thanh bình, an lạc. Duy chỉ có điều lạ là trẻ con trong Làng đều được cho ăn học từ nhỏ, nhưng đến những nấc thang cuối cùng của chuyện thi cử thì đều rơi rụng hết, không có ai đỗ đạt cao, chẳng hạn như ngày xưa thì có ba kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình, thì chỉ qua được kỳ thi Hương, vài người qua được kỳ thi Hội, còn tới kỳ thi Đình thì không bao giờ có người đỗ; còn như ngày nay thì chỉ qua được kỳ thi Tốt nghiệp Trung học Phổ thông, tới thi Đại học thì rụng gần hết, chỉ còn được vài người đỗ vớt hoặc được cộng thêm điểm ưu tiên!...Tuy nhiên, những người cao tuổi không bao giờ chịu đầu hàng số phận. Hội Bảo trợ học đường ra đời rất sớm, sau này là Hội Khuyến học, hoạt động cũng rất mạnh. Và để khích lệ tinh thần sĩ tử, khóa nào có ai đỗ Trạng Nguyên, Làng cùng mời cho được Quan Trạng về Làng rồi chọn lấy vài người học trò xuất sắc nhất, thi tài họa thơ, đối chữ với Quan Trạng, thực ra là để đánh đổ uy danh của Quan Trạng, tôn vinh tài học của người Làng, song đa phần cũng chỉ một chín một mười mà thôi. Tuy nhiên, trong những cuộc so tài đó, ai có thể đối đáp ngang ngửa với Quan Trạng đều được Làng phong danh hiệu Trạng Nguyên, cũng có nghi thức đón rước Trạng Nguyên về…tận nhà và điều quan trọng nhất là cũng được cưới “Công Chúa của Làng” mà không tốn kém một đồng bạc nào! Việc chọn ra “Công Chúa của Làng” được tiến hành hàng năm nên lúc nào cũng có sẵn Công chúa ngọc ngà đế Tân khoa Trạng Nguyên đón Nàng về dinh động phòng hoa chúc!
Trải qua thời gian, số Trạng Nguyên được Làng phong tặng ngày càng nhiều và hầu hết những Trạng Nguyên này đều mãn nguyện với cuộc sống của mình: vợ đẹp con khôn và không bao giờ lo đói bởi đó sẽ là những ông Đồ đắt giá (sau này là Gia sư) vĩnh viễn của Làng, thậm chí các làng khác trong vùng cũng đem con em tới nhờ dạy bảo! Và, như một tất yếu khách quan, những Ông Trạng không sắc phong này “coi Trời bằng vung”, nói một tấc đến Trời, tức nói khoác không ai bằng! Vì thế, người trong vùng gọi Làng Hạ Long này là Làng Nói Trạng! Hàng năm, Làng đều có tổ chức thi nói Trạng và ai đoạt giải nhất  cũng được Làng phong danh hiệu Trạng Nguyên!
*
Chúng ta đã được biết một số Làng nói Trạng do những nhà sưu tầm văn hóa dân gian, nhà báo sưu tầm và kể lại trên một số báo chí như Quảng Cư (Quảng Bình),Vĩnh Hoàng (tỉnh Quảng Trị), Đồng Sài (tỉnh Bắc Ninh), Trúc Ổ (huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), Văn Lang (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ),v.v… Song, Làng nói Trạng Hạ Long sẽ khiến cho người tiếp xúc lần đầu tiên phải thốt lên: “Không thể nói khoác hơn!”…
Những nhà nghiên cứu, sưu tầm văn hóa dân gian (Folkllore) có quê gốc là Làng Nói Trạng Hạ Long đang khẩn trương sưu tập những câu chuyện Nói Trạng của Làng để in thành ba tập sách, mỗi tập khoảng một ngàn trang, dự kiến hết năm 2010 sẽ xong mọi vấn đề và sẽ được in ấn, phát hành vào quý một năm 2011. Đến lúc ấy, bạn đọc có thể “no sôi chán chè” về Truyện Nói Trạng. Những gì tiếp dưới đây là được rút từ bộ sách nói trên.
*
Làng Nói Trạng có rất nhiều nhân vật thuộc loại Kỳ nhân dị tướng, tất nhiên. Nhân vật có nhiều huyền thoại bao quanh nhất là ông Song Long. Ông Song Long chính là con trai trưởng của ông Trưởng Làng với bà vợ có tướng cách Đại quý Ô Long quấn ngọc trụ, người đã từng được tiếp kiến Tả Ao Tiên sinh đã nói trên. Năm nay, ông Song Long đã hơn trăm tuổi, song sức khỏe còn rất tốt, có thể nói là đẹp Lão, không thua gì các vị Đại Tiên trên Thượng giới. Khi ông được sinh ra, rất đặc biệt, không như người thường. Theo lệ thường, khi người mẹ ra nước ối thì đứa con sẽ chui ra ngay, nhưng ông Song Long thì không chịu ra ngay mà phải một ngày sau. Lúc ông chui ra, bà đỡ thấy tay ông cứ nắm chặt “con Ô Long” của người mẹ thì không biết làm thế nào, bởi nếu làm đứt “con Ô Long” của người mẹ thì rất nguy hiểm bởi người mẹ sẽ mất đi cái Tướng cách Đại quý Ô Long quấn ngọc trụ! Bà đỡ bèn nói rõ tình hình với người mẹ, lập tức người mẹ quát lớn: “Thả tay ra ngay! Mẹ đã cho con những hai con Ô Long rồi còn muốn gì? Sờ tay lên đầu xem!”. Ông Song Long, tức thằng bé vừa chui ra từ bụng mẹ liền sờ tay lên đỉnh đầu, quả nhiên ngay giữa huyệt Bách hội, có hai sợi tóc đen nhánh, to gấp ba lần những sợi khác, dài tới mười phân! Từ đó, đứa bé được đặt tên là Song Long. Hai sợi tóc đó của thằng bé dài ra không ngờ, khi năm tuổi thì có thể quấn kín người như cái áo giáp, dao chém không đứt, dáo đâm không thủng. Bình thường phải cuộn hai sợi tóc đó lại, cho vào một cái túi vải, đeo dưới nách!
Khi mới mười tuổi, cậu bé Song Long đã đỗ đầu kỳ thi Hương, kỳ thi Hội cũng đỗ Á khoa, nhưng đến kỳ thi Đình thì bị đánh trượt vì chê con gái yêu của Quan Chủ khảo là xấu xí, không chịu thành thân. Thực ra, cậu bé Song Long đã được ông Trưởng Làng chọn cho người vợ ở cùng Làng có Tướng cách cực quý là Song Long nhiễu nguyệt, hai vợ chồng đều có quý tướng thì còn mơ tưởng gì nữa!
Sau lần hỏng thi đó, cậu bé Song Long ở nhà, cưới vợ rồi vui thú chuyện vợ con, chẳng thiết gì chuyện thi cử lập công danh nữa! Tuy thế, tài học cũng như tài nói khoác của Song Long đã bay tứ phương, nhiều Đại Nho quanh vùng phải tâm phục khẩu phục!
Lần ấy, có một vị quan Thượng Thư người miền trong, từng đậu Trạng Nguyên, đi kinh lý qua Làng Hạ Long, đã nghe đồn nhiều về Song Long, bèn vào Làng tìm Song Long xem thực hư thế nào. Quan Thượng Thư vốn ghét những người không đỗ đạt mà lại nói khoác nên muốn tìm cách dồn Song Long vào chỗ chết. Lúc đó, Song Long mới gần hai mươi tuổi, đang sức trai tràn trề, mà chỉ loanh quanh ở nhà, không mấy khi đi ra khỏi lũy tre làng, nên quả là có nhiều quả ngon vật lạ ở tứ phương mà chưa biết tới. Quan Thượng Thư muốn khai thác chỗ yếu đó của Song Long, bèn nói: “Ta có người thiếp, tuổi chỉ xấp xỉ bằng ngươi, nhưng đã đi khắp nơi trong Nam ngoài Bắc, món ngon vật lạ gì cũng đã nếm qua. Vậy ngươi có món ăn gì khiến cho Nàng thích như là mới biết lần đầu thì được thưởng ngàn lạng bạc, bằng không sẽ bị chém đầu. Ngươi có dám nhận lời thách đố không?”. Song Long chấp nhận ngay và yêu cầu Quan Thượng Thư quây vải thành cái buồng giữa sân để dâng đặc sản!
Khi Song Long dâng đặc sản, mọi người chỉ nhìn thấy Song Long bưng cái mâm đồng trên úp lồng bàn nên không thể biết trong mâm là món gì? Nhưng chỉ năm phút sau thì người thiếp của Quan Thượng Thư bước ra nói: “Quả là Thiếp chưa từng được nếm món này!... Cực ngon!...”. Lúc ấy Song Long bưng cái mâm ra, Quan Thượng Thư vội lật lồng bàn ra xem thì không thấy gì, tròn mắt hỏi: “Món ấy đâu?”. Người Thiếp nói: “Thiếp đã ăn hết ngay!”… Đám đông xì xào bàn tán hồi lâu mà không biết Song Long đã dâng món gì? Hỏi mấy ông già lão làng thì chỉ nói kiểu gợi ý: Nhìn tạng người Quan Thượng Thư hom hem như thế, tất khi “hành sự” chỉ như “đuôi chuột ngoáy lọ mỡ”, như thế người Thiếp trẻ đẹp kia tất sẽ nuốt chửng cái “món ấy” của chàng trai trẻ!...
*
Có một cao thủ nói khoác ở một Làng nói Trạng khác của tỉnh nọ, nghe đồn Làng nói Trạng Hạ Long có nhân vật huyền thoại Song Long, liền tìm đến thách đấu. Cao thủ nói khoác này có người vợ yêu cực kỳ sung mãn, đặc biệt là đôi nhũ hoa đẹp không thể tả, với số đo vòng một theo kiểu đo bây giờ phải tới hơn chín mươi phân. Người này cũng dò hỏi và biết Song Long có người vợ có quý tướng Song Long nhiễu nguyệt thì háo hức muốn biết Song Long nhiễu nguyệt có hơn Nhũ hoa điểm son của vợ mình hay không, liền đưa ra điều kiện thách đố là “Được hoặc mất vợ với đối phương”. Khi người kia tới thách đấu, Song Long nhận lời ngay. Người vợ Song Long thấy vậy thì nói: “Sao chàng lại đem thiếp ra nhận thách đấu? Lỡ Chàng thua thì làm sao Thiếp sống nổi với người ta?”. Song Long bình thản nói: “Người này thách đấu như thế là đã tự hại mình, thua là cái chắc bởi ba điều: 1/ Mới vào cuộc anh ta đã chăm chăm muốn chiếm đoạt vợ người, không biết có chiếm được vợ người hay không nhưng mất vợ mình là không tránh khỏi; 2/ Vợ anh ta mạnh về đôi nhũ hoa, mà đôi nhũ hoa là tài sản của con cái chứ không phải của người chồng, vậy là anh ta đã cầm lộn vũ khí, con cái sẽ phản đối, chưa đánh đã thua; 3/ Có câu “Thái quá bất cập”, tức đôi nhũ hoa của vợ anh ta to đến như thế là hết cỡ. Anh ta nói khoác ắt nói về đôi nhũ hoa vô địch của vợ, ắt nói nó sẽ to nhất thế giới, phình to đến như thế ắt sẽ nổ tung, anh ta thua cuộc là cái chắc!”. Vợ Song Long nghe nói vậy thì yên tâm và thầm nghĩ, nếu chồng mình biết dùng vũ khí đặc biệt là “Đôi Rồng đang ấp mặt trăng” của mình thì thế nào cũng bắt trói được cô nàng có “Nhũ hoa điểm son” về làm vợ bé cho mình có người sai khiến! Quả nhiên, khi vào cuộc thi nói khoác, tay cao thủ kia cứ bơm mãi cho đôi nhũ hoa của vợ mình lớn đến cực đại để đến nỗi đối thủ chỉ khẽ chọc cũng nổ tung. Còn Song Long cứ tha hồ kéo dài cặp “Song Long nhiễu nguyệt” ra tới vô cực!... Người vợ của kẻ nói khoác bại trận có đôi nhũ hoa điểm son sau đó thành vợ bé của Song Long, khiến cho gia thế thêm thịnh vượng!
*
Khoảng nửa Thế kỷ thứ 21 trở lại đây, “phong trào nói khoác” ở Làng Hạ Long cũng như ở các Làng Nói Trạng khác có phần im ắng, bởi có thời gian, chính quyền địa phương cho chuyện nói Trạng, nói khoác là không tốt, thậm chí có hại cho sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước! Song, khoảng chục năm trở lại đây, vấn đề tìm về cội nguồn dân tộc để xác định bản sắc văn hóa của dân tộc được chú ý nên chuyện Nói Trạng lại được chú ý khai thác, bảo tồn bởi đó là một trong những nét độc đáo của bản sắc văn hóa dân tộc!...
Một ngày kia, Làng nói Trạng Hạ Long lại tổ chức Hội Thi Nói khoác, có mời các Làng nói Trạng ở các nơi tham dự, giải thưởng được treo cực lớn, có mơ như kiểu nói khoác cũng không thể ngờ!... Song, người bị bất ngờ lại chính là Ban Giám khảo của Hội Thi Nói Trạng, trong đó có dị nhân Song Long đã thọ hơn trăm tuổi! Họ bị bất ngờ vì nhận được chín bài dự thi được đóng xén rất đẹp thành chín cuốn sách khổ lớn như Lịch treo tường, dày hơn ngàn trang! Nội dung của chín tập sách đó là gì? Đó là những bản Báo cáo Tổng kết hàng năm (chỉ tập hợp các Báo cáo điển hình trong khoảng mười năm gần đây) của các cơ quan cấp Bộ như Bộ Kế hoạch – Đầu tư, Bộ Giao thông – Vận tải, Bộ Giáo dục, Bộ Y tế,  Bộ Văn hóa, v.v… và một số Tỉnh, Thành phố nổi tiếng về “Báo cáo láo” để phô trương thành tích {mà báo chí gọi là “Bệnh thành tích”)… Hỏi tác giả của những “Bài thi” đó thì toàn là chuyên viên cao cấp chuyên ngành viết Báo Cáo của các Bộ, Tỉnh thành nói trên!
Ban Giám khảo họp một ngày và quyết định trao giải Nhất đồng hạng cho cả chín cuốn Bài thi nói  Khoác! Sau Tết năm con Cọp sẽ làm lễ phát thưởng, chưa biết ngày chính xác là ngày nào? Có lẽ sẽ phải là một ngày dài hơn Thế kỷ!.../.
Sài Gòn, 2010
Đỗ Ngọc Thạch

https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEiV0vAx1bMcO7wW4gU9jq2zhFk8b9lKJad4x1lfqP8t5nqYwUs86CCPn_hpIXXSL8yjz8l7LoGrjprGqOEcZW9w2e09hETMT0PSj8hHCE7XRzMPk_jYP0UteO1aX69fQHaBWdD6uM8G9mUq/s320/10.jpg
LÀNG TÔI XANH BÓNG TRE
Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch


Làng Yên Khê là một vùng bán sơn địa, tuy nhỏ nhưng phong cảnh thật ngoạn mục: có núi Voi phục cao gần một ngàn mét, in hình trên nền trời xanh, nhìn xa xa như một con voi đang phủ phục. Từ núi voi, một dòng suối nhỏ chảy lượn lờ như một dải lụa mềm qua một khu đồi thấp chỉ có cây sim, cây mua lúp súp. Dòng suối nhỏ lúc nào cũng yên bình và trong xanh nên người ta đặt tên cho nó là Yên Khê. Suối Yên Khê uốn lượn được khoảng ba cây số thì chảy vào một cái đầm lớn gọi là đầm Vạc, bởi ở đây chỉ có con cò con vạc. Bên kia đầm Vạc là xã Thanh Thủy…
Khởi thủy, làng Yên Khê là khu đồi hoang sơ, chỉ là nơi dừng chân nghỉ ngơi tắm rửa của những người tiều phu từ Thanh Thủy tới núi Voi kiếm củi. Con suối Yên Khê không ngờ có một bãi tắm rất đẹp: lòng suối mở rộng, nước sâu tới ngực và trong vắt, nhìn tới đáy thấy những viên đá cuội trắng như ngọc trai. Người ta nói đó là bãi tắm Tiên, xưa kia các Nàng Tiên thường tới đây tắm và nô đùa cả buổi. Thời nay, chưa ai nhìn thấy các Nàng Tiên tắm nhưng cái tên bãi tắm Tiên thì vẫn còn. Có một số cô gái ở Thanh Thủy tin là nếu tắm ở bãi tắm Tiên thì sẽ được đẹp như Tiên nên thi thoảng cũng rủ nhau đi núi Voi kiếm củi để rồi tới bãi tắm Tiên. Quả nhiên, sau mỗi lần tắm ở bãi tắm Tiên, các cô gái Thanh Thủy đều thấy mình đẹp hơn, da dẻ trắng ngần…
Vào thời Minh Mạng (*) nhà Nguyễn, ở Thanh Thủy, nhà kia có hai chị em sinh đôi, chị tên Hiền, em tên Hậu, đều thuộc loại đẹp người, đẹp nết nhưng không hiểu sao cả hai chị em đều bị chứng bệnh ngớ ngẩn, càng lớn bệnh càng nặng, nhất là khi hai chị em qua tuổi thập tam. Và sau vài lần đi tắm ở bãi tắm Tiên về, cái bụng của cả hai chị em cứ lớn dần. Bởi vì mắc chứng bệnh ngớ ngẩn nên cả hai chị em đều không thể nói ra được kẻ nào đã làm cho họ mang hoang thai. Các bô lão nói với bà Tình, mẹ của hai chị em: “Cứ theo lệ làng thì hai chị em đều sẽ bị làng phạt vạ, nhưng các bô lão thương tình người bị bệnh ngớ ngẩn nên không phạt vạ mà chỉ bị “đi đầy”: Làng sẽ làm cho hai chị em một căn nhà nhỏ dưới chân núi Voi để tới đó mà sinh nở!”. Ngày mãn nguyệt khai hoa, chỉ có bà Tình, người mẹ của hai chị em tới chăm sóc hai người mẹ trẻ rồi bà cũng ở lại với con và hai đứa cháu gái. Năm người giới tính nữ đó chính là năm người đầu tiên của làng Yên Khê… Một thời gian sau, người ta thấy có khá nhiều người đến chân núi Voi phục cư ngụ, mà những tốp người đầu tiên đến họ đều vốn là nghĩa quân của Phan Bá Vành trôi dạt tới. Chính những người này đã bao bọc, che chở cho năm người giới tính nữ đầu tiên của làng Yên Khê. Khi chính quyền mới được thiết lập, tức năm 1945, thì hai người con của hai bà Hiền và Hậu đã trăm tuổi, để lại ba thế hệ con cháu nữa mà bà Thanh Yên, sinh năm 1946, là thế hệ thứ năm…
*
Làng Yên Khê bây giờ trở nên sầm uất vì nó đã trở thành khu du lịch sinh thái liên hoàn với Đầm Vạc: du khách sau khi chơi thuyền trên Đầm Vạc sẽ được du ngoạn ngắm cảnh suối Yên Khê đẹp như Bồng Lai Tiên cảnh rồi được chơi trò “Tắm Tiên” ở bãi tắm Tiên. Tất nhiên có rất nhiều các “Nàng Tiên” chân dài cùng nô đùa trong dòng nước trong vắt nhìn thấy đáy. Dọc theo con suối Yên Khê và dưới chân núi Voi phục, người ta xây những nhà nghỉ kiểu biệt thự nhỏ, không lúc nào vắng khách…
Cách chân núi Voi phục khoảng năm cây số về phía Nam, có một xóm nhỏ gọi là xóm Ngẩn Ngơ. Gọi là xóm Ngẩn Ngơ vì cư dân của xóm này toàn là những người bị bệnh ngớ ngẩn, vốn là con cháu của năm người giới tính nữ đầu tiên ở chân núi Voi phục. Tuy nhiên, không hiểu sao, con gái của cái xóm nhỏ này lại đều xinh đẹp như Tiên nữ giáng trần khiến ai mới thoạt nhìn cũng đều ngẩn ngơ hàng giờ. Có lẽ cái tên xóm Ngẩn Ngơ hình thành là do cái lý do này. Những người ở xóm Ngẩn Ngơ vốn cư ngụ ngay dưới chân núi Voi phục, nhưng khi qui hoạch khu du lịch sinh thái Đầm Vạc - Yên Khê, người ta đã “giải tỏa - đền bù” và vận động tất cả di dời đến vị trí bây giờ, tức ở phía Nam, cách chân núi Voi phục năm cây số. Có một điều kỳ lạ là khi xóm Ngẩn Ngơ hình thành, bỗng xuất hiện một dòng suối nhỏ chảy từ núi Voi phục tới xóm Ngẩn Ngơ. Dòng suối này ngày càng lớn và không khác gì dòng suối Yên Khê, nơi ở cũ của những người xóm Ngẩn Ngơ. Vì thế người ta gọi dòng suối mới này là Nam Yên Khê. Và điều kỳ lạ nữa đang xảy ra từng ngày là dòng suối Yên Khê cũ có vẻ như đang nhỏ dần, có vẻ như nó đang muốn biến mất để nhập vào dòng suối Nam Yên Khê?
Cho đến thế hệ bà Thanh Yên thì dường như bệnh ngớ ngẩn của con cháu bà Hiền, bà Hậu đã thuyên giảm rất nhiều. Bà Thanh Yên tuy không học hết bậc học phổ thông trung học vì vẫn mắc chứng bệnh “nhớ trước quên sau”, nhưng bà có những năng khiếu bẩm sinh tức cầm kỳ thi họa cái gì cũng giỏi. Hẳn là bà Thanh Yên được thừa hưởng những tài hoa ấy từ người ông nội, một nhà Nho tài tử trong đám nghĩa quân của Phan Bá Vành ngày xưa. Trong những nét tài hoa của bà Thanh Yên thì đặc biệt hơn cả là tài hội họa và thanh nhạc: khi bà cầm bút vẽ thì không khác gì danh họa nổi tiếng thời xưa. Chỉ qua lời kể của các bậc tiền nhân mà bà Thanh Yên đã vẽ được một bộ tranh từ năm người đầu tiên của làng Yên Khê cho đến những người đang sống. Không chỉ vẽ người, bà Thanh Yên còn vẽ được một bộ tranh về làng Yên Khê từ thuở khai sinh cho đến hôm nay. Nhìn vào bộ tranh của bà Thanh Yên, người ta đã viết lại được rất đầy đủ câu chuyện “Sự tích làng Yên Khê”. Và người viết lại được câu chuyện “Sự tích làng Yên Khê” chính là một chàng trai ở xã Thanh Thủy, bên kia Đầm Vạc, tên là Thanh Long, tức chồng bà Thanh Yên bây giờ.
Về năng khiếu thanh nhạc, bà Thanh Yên có một giọng ca trời phú và chỉ nghe ca sĩ nào đó hát một lần, bà có thể hát lại không sai một nốt nhạc và điều bất ngờ là giọng hát của bà truyền cảm hơn rất nhiều, cứ như là nhạc sĩ sáng tác ra bài hát đó là chỉ để riêng cho bà hát mà thôi! Điều đặc biệt là bà rất hay hát và hát rất hay cả bốn bài hát cùng có tên là Làng tôi (**), đặc biệt là hai bài Làng tôi của nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Chung Quân. Mỗi khi bà hát bài Làng tôi của nhạc sĩ Văn Cao, người ta như nghe thấy tiếng chuông nhà thờ đang ngân rung trên thinh không:
Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều, tiếng chuông nhà thờ rung
Đời đang vui đồng quê yêu dấu
Bóng cau với con thuyền, một giòng sông.
Nhưng thôi rồi còn đâu quê nhà, ngày giặc Pháp tới làng triệt thôn.
Đường ngập bao xương máu tơi bời, đồng không nhà trống tan hoang.

Chiều khi quân Pháp qua
Chiều vắng tiếng chuông ngân, phá tan nhà thờ xưa.
Làng tôi theo đoàn quân du kích,
Cướp ngay súng quân thù trả thù xưa.
Bao căm hờn từ xa quê nhà, rừng chiều nhớ cánh đồng chiều xưa.
Từ xa quê trông lớp cây già, làng quê còn thấy buồn đau.

Ngày diệt quân Pháp tan,
Là lúc tiếng chuông ngân, tiếng chuông nhà thờ rung.
Làng tôi theo đoàn quân chiến thắng, đánh tan lũ quân thù về làng xưa.
Dân tưng bừng chặt tre phá cầu, cùng lập chiến lũy đào hào sâu.
Giặc chưa tan chiến đấu không thôi, đồng quê chào đón ngày mai.

(Làng tôi - Văn Cao)
Còn khi bà Thanh Yên hát bài Làng tôi của Chung Quân, người ta như thấy mọi cảnh vật của làng mình hiện ra ngay trước mắt, sống động biết bao và cũng u buồn tới mức muốn khóc:
Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lơ lững vờn quanh êm xuôi về Nam
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau
Đồng quê mơ màng
Nhưng than ôi có một chiều thu lá thu rơi
Có một chiều thu lá thu rơi
Ôm súng chiều quê tôi thầm mơ bóng ngày về
Mơ trong bóng ngày về
Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn người bốn phương

(Làng tôi - Chung Quân)
*
Ông Thanh Long khi còn đang tuổi học trò cũng thường lên núi Voi kiếm củi và khi đi qua bãi tắm Tiên đã bị tiếng hát mê hồn của “Nàng Tiên cá” Thanh Yên quyến rũ. Rồi khi đến tuổi lấy vợ, ông Thanh Long nhất quyết đòi bố mẹ đến làng Yên Khê xin cưới Thanh Yên. Nhưng cả bố và mẹ ông Thanh Long đều không đồng ý cho ông cưới cô gái ngớ ngẩn… cho đến khi ông đem về cho song thân hai bức tranh chân dung của chính hai người do Thanh Yên vẽ chỉ qua lời kể của ông Thanh Long thì hai ông bà mới bái phục tài “cô gái ngớ ngẩn” và đồng ý cho Thanh Long cưới Thanh Yên! Sau khi cưới Thanh Yên, chàng Thanh Long tới làng Yên Khê ở rể và đã hoàn chỉnh câu chuyện “Sự tích làng Yên Khê”. Tới khi những người qui hoạch khu du lịch sinh thái Đầm Vạc - Yên Khê muốn đẩy tất cả những người ngớ ngẩn ở làng Yên Khê đi khỏi chân núi Voi tới năm cây số, tức xóm Ngẩn Ngơ bây giờ, chàng rể Thanh Long lúc này tuy đã là một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng cũng không thể làm gì để cứu vãn tình thế bị di dời! Mặc dù đầy ấm ức, nhưng Thanh Long cũng đành ngậm đắng nuốt cay cùng vợ và những người ngớ ngẩn về nơi “tái định cư” ở xóm Ngẩn Ngơ!
*
Tuy đã phải về định cư ở xóm Ngẩn Ngơ, nhưng chàng rể Thanh Long vẫn ngày đêm âm thầm điều tra cái công ty du lịch sinh thái Đầm Vạc - Yên Khê và chàng đã thu thập được khá nhiều bằng chứng về hoạt động buôn bán bất hợp pháp, nhất là hoạt động đánh bạc và “kinh doanh thân xác phụ nữ”, thậm chí không chỉ phạm vi trong nước mà còn ra cả nước ngoài. Một năm rồi hai năm trôi qua, Thanh Long đã hoàn chỉnh hồ sơ tố cáo Công ty du lịch sinh thái Đầm Vạc - Yên Khê và quyết định giao nộp cho một người cán bộ lãnh đạo đứng thứ hai của tỉnh, dưới một người trên vạn người, cũng là người đồng hương ở xã Thanh Thủy. Người này nhận hồ sơ và hẹn ba ngày sau sẽ gặp lại rồi cho câu trả lời. Thanh Long mừng thầm ra về và bàn với các bô lão về dự án xây dựng kinh tế trang trại tại Làng Yên Khê sau khi đuổi cổ được cái công ty du lịch sinh thái trá hình kia và cùng nhau “trở lại cố đô”!
Nhưng, niềm hi vọng của Thanh Long chỉ tồn tại được đúng ba ngày. Tới ngày hẹn, người cán bộ lãnh đạo đứng thứ hai của tỉnh cho gọi Thanh Long vào phòng làm việc và nói liền một mạch, như là không muốn cho người nghe chen ngang: “Chúng tôi đã cho người đi thẩm tra hoạt động kinh doanh của công ty du lịch sinh thái Đầm Vạc - Yên Khê, họ làm ăn rất tốt, đóng thuế đầy đủ và nộp ngân sách cao nhất trong tỉnh, lại còn đứng đầu tỉnh về công tác xóa đói giảm nghèo, xây dựng nhà tình nghĩa cho bà mẹ Việt Nam anh hùng và những người có công đang gặp khó khăn. Nếu như họ mà biết anh là tác giả của cái hồ sơ tố cáo này, họ sẽ kiện anh tội vu khống, lúc đó không ai có thể cứu anh được. Vì thế, coi như chưa hề có chuyện tố cáo này… Nhân đây, tỉnh muốn giao cho anh với tư cách một nhà khoa học, đọc duyệt bản thảo một cuốn sách về địa chí của tỉnh mà chủ yếu là về phần viết về vùng đất Thanh Thủy quê ta, trong đó Làng Yên Khê như là một điểm sáng văn hóa và tiềm năng làm kinh tế du lịch!”.
Ông Thanh Long biết là chưa thể nói gì thêm về cái vụ làm ăn phi pháp của Công ty du lịch sinh thái Đầm Vạc - Yên Khê nên vội nhận lời đọc cái cuốn địa chí kia, vì nó sẽ liên quan nhiều đến cái nghề sưu tầm văn hóa dân gian của ông. Nhưng khi đọc đến phần nói về “Lịch sử ra đời và phát triển của Làng Yên Khê” thì ông kinh ngạc tột độ bởi trong đó không hề có một chữ nào nói về những người lập làng là năm người giới tính nữ mà lại dựng đứng lên rằng những người đầu tiên khai sinh ra Làng Yên Khê này là những người hát Ả đào, hay còn gọi là hát cô đầu và khẳng định rằng làng Yên Khê là một trong những cái nôi của nghệ thuật hát Ca Trù, vì thế bây giờ cần phục hồi và phát huy truyền thống đó!
*
Tính từ sau khi bàn với các bô lão về dự án làm kinh tế trang trại rồi lên gặp lãnh đạo tỉnh trở về, người dân xóm Ngẩn Ngơ không hiểu vì sao chàng rể Thanh Long, tức nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Thanh Long bỗng trở nên có biểu hiện của căn bệnh ngơ ngẩn nặng nhất xóm Ngẩn Ngơ. Mấy bô lão đã được Thanh Long mời bàn bạc về chuyện kinh tế trang trại, mỗi lần nhìn thấy người vợ của Thanh Long là Thanh Yên thì đều xúm lại hỏi nhưng chỉ nhận được những lời ca tha thiết mà u buồn của bài hát Làng tôi:
Làng tôi có cây đa cao ngất từng xanh
Có sông sâu lơ lững vờn quanh êm xuôi về Nam
Làng tôi bao mái tranh san sát kề nhau
Bóng tre ru bên mấy hàng cau
Đồng quê mơ màng…

Sài Gòn, tháng 5-2011
Đỗ Ngọc Thạch
----
Chú thích:
(*) Vua Minh Mạng, cũng gọi là Minh Mệnh (1791-1841), tức Nguyễn Thánh Tổ Nhân Hoàng đế là vị Hoàng đế thứ hai (ở ngôi từ 1820 đến 1841) của nhà Nguyễn. Minh Mạng tên thật là Nguyễn Phúc Đảm còn có tên Nguyễn Phúc Kiểu.
Minh Mạng được xem là một ông vua năng động và quyết đoán, đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở kinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳ và Nam kỳ. Là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến việc học tập và củng cố thi cử, năm 1822 ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài. Dưới triều Minh Mạng có nhiều cuộc nổi dậy diễn ra: Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân,… ở miền Bắc và Lê Văn Khôi ở miền Nam. Triều đình đã phải đối phó vất vả với những cuộc nổi dậy ấy.
(**) Hai bài Làng tôi khác là của Nhạc sĩ Hồ Bắc và Lê Việt.

Chờ; Ở Trọ - Đỗ Ngọc Thạch

http://lucbat.com/admin/upload/110607054756.jpg

CHỜ

Truyện ngắn ĐỖ NGỌC THẠCH

Vào năm 1972, khi tôi vào học năm thứ hai của Khoa Ngữ Văn (trường ĐH Tổng hợp Hà Nội) thì chúng tôi sơ tán về xã Châu Minh, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Những ngày đầu năm học, cả lớp học quân sự (khoảng 2 tuần), còn tôi và hai người nữa, đều đã từng là quân nhân cho nên không phải dự học quân sự mà thầy Đỗ Đức Hiểu, Chủ nhiệm Khoa lúc đó, giao cho nhiệm vụ đón tiếp sinh viên năm thứ nhất. Chúng tôi đặt trạm đón tiếp ở Chợ Chờ, khi có sinh viên mới đến thì xem giấy gọi, đánh dấu vào bản danh sách có sẵn rồi dắt người sinh viên mới đến đó vào chỗ ở, cũng thuộc xã Châu Minh. Vì là thời chiến, bom đạn khắp nơi nên các sinh viên từ bốn phương không phải đến đúng ngày ghi trong giấy gọi mà mỗi ngày lác đác dăm ba người, phải hơn một tuần mới hết! Trong những ngày nằm chờ các sinh viên mới đến nhập học ở Chợ Chờ, tôi không khỏi ngạc nhiên về sự trùng hợp giữa nhiệm vụ mình làm và cái địa danh mà mình ở: Nằm chờ sinh viên mới ở chợ Chờ!

Nhà chủ mà chúng tôi ở nhờ và đặt trạm đón tiếp có bốn người con, hai người con trai đang chiến đấu ở chiến trường miền Nam, hai cô con gái, cô chị tên Hà, mới học hết THPT năm ngoái nhưng không đi học tiếp Đại học mà phải ở nhà chăm sóc bố mẹ vì cả hai người đều đã già yếu, trái gió trở trời là lại ốm đau. Cô em, tên Bắc, mới mười sáu tuổi, đang học lớp chín. Cả hai chị em đều rất xinh đẹp theo đúng kiểu con gái Kinh Bắc! Những lúc rảnh rỗi, hai chị em thường hát Quan họ cho chúng tôi nghe và kể cho tôi nghe về cái Chợ Chờ quê hương.

Ngày xưa, hăm bảy tháng chạp là phiên chợ tết cuối năm ở chợ Chờ. Đó là một phiên chợ rất đặc biệt vì đây là phiên chợ cuối cùng của một năm và là phiên chợ tết chủ yếu dành cho lũ trẻ con. Vào ngày đó tất cả trẻ con của tổng Chờ và các vùng lân cận sẽ được được đi chơi chợ tết. Sở dĩ có tên gọi Chợ Chờ là bởi từ xa xưa, mỗi lần người dân Kinh Bắc đi làm ăn buôn bán ở bên kinh thành Thăng Long, đều phải vượt sông Cầu, đi qua một bến sông có tên là bến Đò Lo. Xung quanh bến đò rất vắng vẻ, hoang vu, bọn cướp thường lộng hành. Chính vì thế trước khi qua bến đò, họ đã đợi chờ nhau ở khu vực đông dân cư, đủ thành một tốp năm bảy người mới cùng nhau qua sông. Chỗ đợi chờ nhau đó có tên Làng Chờ. Còn những người đi buôn bán, trước khi qua sông cũng buôn qua bán lại với người dân địa phương ở đó mà dần dần hình thành nên Chợ Chờ.

Nhạc sĩ Huy Du là một người đa cảm, chỉ chữ Chờ đã viết thành ca khúc làm nao lòng người:

Chợ Chờ em vẫn chờ ai
Để bâng khuâng câu hát tháng năm dài anh đi
Chợ Chờ ơi em đợi chờ ai
Có phải quê em sau bao mùa đánh giặc
Đất nghìn năm Hà Bắc trái tim luôn thầm nhắc
Này Yên Phong, mảnh đất quê mình xứ Bắc còn ghi
Giặc Tống giặc Nguyên phơi xác đầy đồng
Ngày hội khao quân bên chợ Chờ, chợ Núi
Câu hát đợi chờ, sao anh chẳng đến
Để bến đò chờ thành bến đò lo
Nước chảy lơ thơ, mãi đến bây giờ ...

*
Vào những buổi chiều, khoảng từ bốn giờ trở đi, trạm đón tiếp của chúng tôi không có việc, tức vào giờ này, không có sinh viên mới đến nhập học nữa. Có lẽ chẳng ai lại muốn đến chỗ ở mới vào lúc nhập nhoạng, tối tăm. Cho nên, vào những buổi chiều là khoảng thời gian chúng tôi được sống đúng như những người đã nằm chờ ở chợ Chờ xa xưa!

Tôi thường đi dạo dọc con đường dẫn ra bến đò Lo. Cảnh vật ở đây không còn hoang vu như thời xưa song cũng khá vắng vẻ bởi lúc này đang là thời chiến, thỉnh thoảng vẫn dội về những tiếng bom rền ở cả bốn phương trời xa… Một lần, tới bến đò Lo vào khoảng năm, sáu giờ chiều, tôi thấy một họa sĩ già đang đứng trước giá vẽ. Trên mặt tranh là cảnh hoàng hôn của bến đò Lo đang vẽ dở dang. Người họa sĩ như là đang đưa cái hoàng hôn của bến đò vào bức tranh, không phải là một khoảnh khắc nào đó của hoàng hôn ở bến đò mà là hoàng hôn đang từ từ xâm nhập bến đò, khiến cho ta có cảm giác như hoàng hôn đang chậm chạp đi qua bến đò và muốn đưa cái bến đò hoang vu này vào bóng đêm huyền ảo! Khi người họa sĩ già ngừng vẽ, ông ta liền nói với tôi: “Cậu là người xem tranh của ta đầu tiên, lại ở đúng cả địa điểm và thời gian bức tranh hoàn thành. Vậy cậu hãy nói cảm nhận của mình về bức tranh này! Xin cứ nói thẳng, nói hết, ta rất cần như vậy!”. Tôi không định nói nhưng lại buột mồm: “Tôi có cảm giác bức tranh của ông chưa làm ông mãn nguyện, nó như còn thiếu một cái gì đó!”. Người họa sĩ già chụp lấy tay tôi rồi nói: “Cậu nói rất đúng! Tôi đã vẽ gần một trăm bức “Bến đò Lo hoàng hôn” này rồi mà vẫn chưa thấy ưng ý. Đúng là như còn thiếu một cái gì đó ta chưa thể hiện được trong tranh!”. Nói rồi ông mời tôi về nhà ông chơi để xem những bức tranh “Bến đò Lo hoàng hôn” khác.

Ông họa sĩ già tên là Thảo, đã gần sáu mươi tuổi, là người sinh sống ở Chợ Chờ này đã từ lâu đời. Vừa ngồi xuống bàn trà của ông Thảo, trong khi ông Thảo đang pha trà thì từ trong buồng, một ông già bước ra. Vừa nhìn thấy ông già , tôi giật mình kinh ngạc khi thấy ông già này giống ông Thảo kỳ lạ, chỉ khác là tóc đã bạc trắng như các vị đại tiên trên thượng giới. Ông Thảo nói với tôi: “Đây là cha tôi, tên Hiếu, đã hơn tám mươi tuổi rồi!”. Ông Hiếu nở nụ cười phúc hậu chào tôi rồi ngồi xuống bàn trà. Tôi đã từng gặp những trường hợp cha và con rất giống nhau nhưng chưa có ai giống nhau như hai cha con ông Hiếu – Thảo. Tôi cùng cha con ông Hiếu, Thảo uống xong hai tách trà thì ông Hiếu nói với tôi: “Tôi biết các anh đến Chợ Chờ này để đón sinh viên từ mấy ngày nay, tính qua gặp các anh để nhờ một việc. Hôm nay gặp rồi thì thật là may!”. Tôi hỏi ông Hiếu muốn nhờ việc gì thì ông nói: “Tôi có thằng cháu nội, tên là Cầu, tức con của bố Thảo nó đây, hiện nó đang học ở trường Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội, nhưng tôi muốn xin cho nó chuyển sang Khoa Văn của các anh. Không biết phải làm như thế nào?”. Tôi nói ngay: “Thưa bác, việc đó không khó, chỉ cần viết đơn xin chuyển trường, Hiệu trưởng trường MTCN ký vào rồi tới gặp Thầy Chủ nhiệm Khoa của chúng cháu là thầy Đỗ Đức Hiểu, hiện cũng đang sơ tán về Huyện Yên Phong này. Thầy Hiểu sẽ hỏi chuyện và sẽ ra cho một đề thi về văn học. Nếu làm tốt thì thầy sẽ ký nhận rồi về lại Trường MTCN làm thủ tục chuyển trường!”. Ông Hiếu gật gù rồi nói: “Tức là phải kiểm tra khả năng về việc học văn của nó?”. Tôi nói: “Dạ, đúng vậy. Chính cháu trước cũng đang học ở Khoa Toán, khi muốn chuyển sang Khoa Văn cũng đã phải đi qua các bước như thế!...Vậy cho cháu hỏi thêm, em Cầu có năng khiếu gì về văn chương không?”. Ông Thảo nói: “Cái đó khỏi lo! Thực ra ngay từ đầu nó đã muốn thi vào Khoa Văn các cậu đấy chứ! Nhưng lúc ấy, tôi lại bắt nó thi vào trường MTCN! Tất cả là tại tôi, không nên bắt nó làm theo ý mình!”. Tôi nói thêm với ông Thảo rằng làm lại cũng chưa muộn và sẽ không có khó khăn gì. Hai cha con ông Hiếu, Thảo dường như rất vui, kêu người nhà làm cơm và mời tôi uống rượu Làng Vân nổi tiếng. Được nửa tiệc rượu thì ông Hiếu mời tôi vào xem phòng tranh của ông. Tranh của ông Hiếu chủ yếu là tranh phong cảnh và xoay quanh đề tài Quan Họ. Điều khiến tôi ngạc nhiên là có tới gần một trăm bức chưa hoàn thành về bến đò Lo, và tôi kinh ngạc thật sự khi sang xem phòng tranh của ông con, tức ông Thảo, cũng có gần một trăm bức vẽ bến đò Lo!...
*
Khi tôi trở về nhà trọ của mình, tức Trạm đón tiếp sinh viên mới, thì đã gần nửa đêm. Tôi uống rượu Làng Vân đã nhiều lần và có một điều lạ là không bao giờ say, lần này cũng vậy! Có lẽ rượu ngon là không thể say, bởi say mèm (và ói mửa nữa) thì làm sao biết hết cái sự ngon của rượu!

Chủ nhà trọ của tôi dường như là chưa ngủ. Cô gái út chủ nhà đang hát bài “Chợ Chờ em vẫn chờ ai?” , nghe mà muốn hóa đá! Tôi cứ băn khoăn mãi với ý nghĩ, không biết hai cha con ông Hiếu, Thảo đang tìm kiếm điều gì trong cái buổi hoàng hôn của bến đò Lo? Khi cô con gái của chủ nhà ngừng hát bài “Chợ Chờ em vẫn chờ ai?” thì một ý nghĩ vụt hiện trong đầu: muốn tìm cái điều bí ẩn của bến đò Lo hoàng hôn, hãy đến một vài bến đò khác, khi ấy bến đò Lo sẽ hiện ra cái bí ẩn kia !

Sáng hôm sau, tôi đến ngay nhà cha con ông Hiếu, Thảo và nói cái ý nghĩ ấy của mình. Ông Hiếu, rồi cả ông Thảo, ngẫm nghĩ một lát rồi nói: “Chiều nay chúng ta đến bến sông Như Nguyệt xem sao?”. Buổi chiều, tôi tới nhà cha con ông Hiếu, Thảo thì người nhà nói hai người đã đi được hai mươi phút. Tôi lại thả bộ ra bến đò Lo thì thật là kinh ngạc khi thấy một người thanh niên trẻ tuổi, giống hệt ông Thảo đang đứng bên giá vẽ. Tôi khẳng định đây hẳn là anh chàng tên Cầu, là con của ông Thảo, đang học ở trường Mỹ thuật Công nghiệp. Khi lại gần hỏi chuyện thì quả nhiên là anh chàng Cầu, anh ta đang vẽ dở bức tranh “Bến đò Lo hoàng hôn”!

Khác với người cha là ông Thảo, anh chàng Cầu không hỏi tôi nhận xét về bức tranh anh đang vẽ mà lại hỏi tôi về…thơ! Nào là tôi có làm thơ không, có thích nhà thơ nào của đất Kinh Bắc không và anh chàng đọc cho tôi nghe ba bài liền của các nhà thơ đương đại viết về Quan họ, về đất Kinh Bắc! Xem ra anh chàng Cầu này có vẻ mê đắm Nàng Thơ hơn là vẽ tranh, tôi liền hỏi: “Cậu có thể nói về mối liên hệ giữa hội họa và thi ca không?”. Dường như tôi đã gãi đúng chỗ ngứa của anh chàng Cầu, anh ta nói như reo lên: “Đúng rồi, anh vừa nói tới mối liên hệ giữa hội họa và thi ca, ở đó thơ đã thể hiện rõ đặc trưng của nó: họa là thơ nhìn thấy, thơ là họa cảm thấy! Có đúng không? À, có câu nói rất hay, rất ngắn gọn về điều này, không hiểu tại sao nhất thời em quên mất? Anh có thể nhắc lại cho em không?”. Tôi nói ngay: “Thi trung hữu họa!”. Anh chàng Cầu lại reo lên: “Đúng rồi! Trong thơ có họa! Các nhà thơ quả là những họa sĩ tài ba, họ không cần dùng những hộp màu đắt tiền mà vẫn vẽ lên được những bức tranh tuyệt vời! Chính vì thế mà em muốn đi học Tổng hợp Văn như các anh để trở thành nhà thơ!”. Tôi nói ngay: “Đi học Tổng hợp Văn có thể thôi chứ chưa chắc trăm phần trăm trở thành nhà thơ, nếu như không được Nàng Thơ để mắt tới thì sẽ vỡ mộng!”. Anh chàng Cầu nắm chặt tay tôi nói: “Ông nội em đã nói chuyện của em muốn chuyển về học ở Khoa Văn với anh rồi đó! Anh hãy giúp em nhé! Em xin bái anh làm Sư phụ!”. Nói rồi sụp lạy tôi lia lịa! Tôi vội đỡ anh chàng Cầu lên và nói: “Cậu làm thế tôi tổn thọ đấy! Thôi được, tôi sẽ giúp cậu trong khả năng của tôi. Trước tiên tôi dẫn cậu đi gặp thầy Chủ nhiệm Khoa Đỗ Đức Hiểu, nếu thầy OK thì ta sẽ làm các bước tiếp theo!”.

Tôi dẫn anh chàng Cầu đến ngay chỗ thầy Đỗ Đức Hiểu. Trên đường đi, anh chàng Cầu đọc cho tôi nghe mấy bài thơ lẻ và tôi thật sự bất ngờ khi anh ta đọc chương mở đầu Trường ca “Chợ Chờ quê tôi”. Nhìn chung, thơ của anh chàng Cầu đã “sạch nước cản” và ý tứ vừa rất phóng túng vừa trĩu nặng cảm xúc. Tôi còn nhớ mấy câu như: Chợ Chờ - em chờ đợi ai / Để cho tôi hóa thành người mộng mơ / Con đò lạc giữa đôi bờ / Tôi thì lạc giữa đôi bờ môi em…
*
Sáng hôm sau, như mọi ngày, tôi vào chợ mua vài thứ về nấu ăn. Lúc tới chỗ bán thịt thì thật bất ngờ, tôi đã gặp cô Na, vợ của anh chàng Cầu đang đứng trước phản thịt. Trên phản thịt lúc đó chỉ còn mấy cục xương và một ít thịt vụn. Vừa nhìn thấy tôi, cô Na cười rất tươi và nói: “Anh chờ một lát sẽ có thịt mới!” (Lại là chữ Chờ! ). Cô Na vừa nói xong thì có hai cô gái khiêng một con lợn tới, khoảng năm mươi ki-lô-gam. Và tôi lại bị bất ngờ, khi hai cô gái đó chính là chị em cô Hà con chủ nhà trọ của tôi. Điều bất ngờ chưa chịu dừng lại và tôi như là bị thôi miên khi chứng kiến ba cô gái vừa chọc tiết con lợn, cạo lông, pha thịt…tất cả chưa tới ba mươi phút! Tôi chỉ kịp định thần khi cô Na đưa cho tôi xâu thịt tươi ngon và miệng cũng cười rất tươi: “Cân thịt này em biếu anh để tạ ơn anh đã giúp chồng em tới gặp thầy Chủ nhiệm Khoa Văn của anh! Gọi là của ít lòng nhiều!”. Tôi định nói lời từ chối và lấy tiền ra trả thì cô Na đã như là đang múa dao trước một tảng thịt lớn! Hai chị em cô Hà nhìn thấy điệu bộ lúng túng đó của tôi thì cười khanh khách rồi cô chị nói: “Em vừa nhìn thấy có mấy người đưa con tới nhập học đấy! Anh mau về tiếp họ đi!”. Tôi còn biết làm gì hơn là …nghe theo!

Quả nhiên, buổi sáng hôm đó có tới tám sinh viên mới, đi cùng cả người nhà tới Trạm đón tiếp khiến chúng tôi phải tíu tít tiếp khách. Có một ông là cha của cô con gái đến nhập học, sau khi uống trà thì bỗng nói: “Cái tên Chờ này thật là có nhiều ý tứ. Từ xa xưa người ta đã phải chờ và đến bây giờ các anh lại phải chờ! Vì vậy, tôi bỗng muốn được tham gia vào cái sự chờ đợi này! Tôi có đề nghị này: Chắc phải vài ngày nữa học sinh mới tới đủ và chính thức nhập học. Trong khi các anh chờ cho đủ số học sinh tới nhập học thì cho tôi ở đây chơi với con tôi vài ngày, chờ khi nào chính thức khai giảng thì tôi xin về. Chắc không sao chứ?”. Tôi nói ngay: “Bác cứ ở lại với con bao lâu cũng không sao, chỉ sợ người ở nhà chờ tin bác mà sốt ruột!”. Ông Phụ huynh cười khà khà rất sảng khoái rồi nói: “Đó, thế là cả người ở nhà tôi cũng được tham gia vào cái sự chờ đợi này! Thế thì tôi phải đi tìm hiểu kỹ cái Chợ Chờ này xem nó thế nào rồi tôi sẽ sáng tác một vở chèo về nó! Thú thật với anh, tôi là diễn viên chèo của đoàn chèo Hải Phòng, chưa hề có ý định viết kịch bản, nhưng không hiểu sao bỗng nổi hứng sáng tác kịch bản!”. Nghe đến đó thì tôi không thể “bình thường hóa vấn đề” được nữa, phải xem xét lại từ đầu: cái chữ Chờ kia nó có ma lực gì mà khiến cho người ta phải “lao tâm khổ tứ” nhiều như thế?

Tiếng hát của cô gái út chủ nhà từ phía sau vọng lên, ngân nga một cách kỳ lạ, cắt ngang ý nghĩ của tôi:

Chợ Chờ em vẫn chờ ai
Để bâng khuâng câu hát tháng năm dài anh đi…

Sài Gòn, tháng 3-2010
Đỗ Ngọc Thạch
http://www.neolaia.gr/wp-content/uploads/2011/11/national-geographic-8-200x140.jpg

Ở TRỌ

Truyện ngắn ĐỖ NGỌC THẠCH

Có hai cửa ải quan trọng đối với “dân ngoại tỉnh” khi đến những thành phố lớn là ở trọ và đi làm thuê kiếm sống. Hai cửa ải này nó “liên thông” với nhau nên cùng lúc vượt qua cả hai cửa ải không hề đơn giản. Phải là người đã từng “Nếm mật nằm gai” như Việt Vương Câu Tiễn mới có thể đồng cảm với điều tôi vừa nói. Có lẽ tôi là người có “Quý nhân phù trợ” cho nên việc vượt qua hai cửa ải nói trên tuy cũng trần ai như ai nhưng cũng không đến nỗi nào, công việc thì cũng “sạch sẽ”, vừa sức và cả năm chỗ mà tôi đã từng ở trọ thì đều thuộc loại một, hai sao – tức có đầy đủ tiện nghi tối thiểu chứ không phải dạng “một mình một chiếu” trong một lán trại đông đúc như dân công hỏa tuyến thời chiến tranh!
*
Nhà đầu tiên tôi ở trọ là nhà ông Hòa, ở trong một ngõ hẻm rộng của đường N.T. Lựu thuộc Quận 3. Đây là một khu vực đẹp cả về nhà cửa và đường phố của Quận 3. Chủ nhà, tức ông Hòa là một cựu chiến binh, đã về hưu được dăm ba năm. Hồi chiến tranh, ông là lính cảnh vệ, bảo vệ an toàn cho căn cứ và thủ trưởng nào cần đi đâu thì đều muốn ông đi bảo vệ. Vì thế, khi hết chiến tranh, ông Hòa về thành phố, được các thủ trưởng cũ quan tâm đặc biệt, phân cho một căn nhà khá rộng rãi (4mx25m).
Căn nhà của ông Hòa thuộc loại “trung lưu”, tức không phải vi-la biệt thự nhưng khá đẹp: một trệt một lầu, sân trước 3 mét, sân sau bảy mét, tức diện tích căn nhà chỉ còn 4mx15m=60m2, nhưng với gia đình chỉ có 4 người, hai vợ chồng ông Hòa và hai đứa con (từ 10 đến 15 tuổi) thì quá ư rộng rãi. Vợ ông Hòa khi ở trong cứ làm chị nuôi, được các thủ trưởng rất quý (và đã đứng ra làm chủ hôn cho đám cưới với anh lính cảnh vệ Hòa) nên khi về thành phố, được biên chế vào ngành thương nghiệp rồi giao cho phụ trách hẳn một cửa hàng bách hóa. Vì thế, khi về hưu, bà Hòa làm một cái tủ “Bách hóa” nho nhỏ, bán tại nhà, cũng đủ tiền chợ cho cả nhà. Song, khi hai đứa con lớn dần lên thì lương hưu của hai vợ chồng và cả cái tủ “Bách hóa” cũng không đủ chi tiêu tối thiểu nữa, vì thế ông Hòa quyết định cho thuê toàn bộ phần trên gác sau khi đã mở rộng thêm diện tích trên phần sân trước và sân sau, cũng được 4mx10m=40m2. Như vậy, toàn bộ diện tích cho thuê tổng cộng là 100m2, chia là năm ô, mỗi ô 20m2, tức ngang 4 m, sâu 5 m, cho một hộ “tiểu gia đình” (hai vợ chồng và một đứa con – mô hình “tiểu gia đình” này là khách ở trọ khá phổ biến bởi bất kỳ chàng trai cô gái nào yêu nhau mà chỉ có “hai trái tim vàng” thì đi ở trọ là cách tốt nhất để bảo vệ Tình yêu!) thuê là quá đẹp! Tôi đi ở trọ cũng không ngoài cái công thức khá phổ biến là “Một căn phòng trọ, hai trái tim vàng!”…
Khi tôi đến nhà ông Hòa hỏi thuê nhà thì chỉ còn một phòng ở trên chỗ sân sau, nó ở ngay trên chỗ nhà bếp và khu nhà vệ sinh (sàn lát gỗ) nên khá ồn và nhiều mùi xú uế, nhưng nó lại liền kề với con hẻm nhỏ phía sau nhà (có cổng sau) nên cũng khá thoáng mát…Công việc tôi làm lúc này chỉ là nhận đánh máy bản thảo cho mấy nhà xuất bản, được đồng nào hay đồng ấy bởi người chủ cái “tiểu gia đình” của chúng tôi là vợ tôi, đang làm y tá ở Bệnh viện, tạm thời có thể “nuôi sống” cái “tiểu gia đình” này! Vì thế, những khi hết việc, tức hết bản thảo, tôi thường đem cái máy chữ xách tay Olympia ra chỗ rẽ ở cầu thang, ngồi gõ tí tách đủ các thể loại (tùy hứng) và bao giờ cũng vậy, vừa gõ xong một trang, đang thay giấy thì nghe vọng tới tiếng hát đến nao lòng:

Con chim ở đậu cành tre
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn
Cành tre ... í ... a
Dòng sông ... í ... a
Tôi nay ở trọ trần gian
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời ...

*
Tôi ở trọ được hai ngày thì người hát những câu hát trên xuất hiện: đó là một cô gái có dáng hiền thục thôn nữ, nhưng thoắt cái đã tỏ ra rất tinh ranh, nghịch ngợm. Cô gái ở ngay nhà kế bên. Mỗi khi phơi đồ, cô gái đều hát một bài gì đó. Khi thấy tôi ngừng đánh máy và nghểnh tai lên để nghe thì cô gái cười khanh khách và nói: “Cho anh kia nghe miễn phí nhưng nhớ là khi nào tôi cần đánh máy đơn từ gì đó thì làm giùm nghe không?”. Nghe cô gái nói vậy, tôi nghĩ bụng: cô gái này có giọng hát mê đắm lòng người, thế nào cũng trở thành ngôi sao ca nhạc nếu thời cơ đến!”. Quả nhiên, ngày hôm sau, cô gái sang nhờ tôi đánh máy tờ đơn xin dự tuyển vào Đoàn ca múa nhạc Bông Sen. Tất nhiên là mấy tờ nữa gồm tóm tắt lý lịch, giấy chứng nhận sức khỏe, bản sao học bạ - cô gái tên Hoa, đang học năm cuối trung học phổ thông, v.v…Trong khi ngồi chờ tôi đánh máy, cô gái nói: “Thực ra, em cũng không muốn bỏ học giữa chừng thế này nhưng không hiểu sao, hai năm nay em cứ học trước quên sau, các công thức, định lý chẳng nhớ được cái nào nên khi làm bài tập không biết xoay trở ra sao? Nói chuyện với mẹ, mẹ em bảo em không thích hợp với việc học hành nữa mà nên phát huy sở trường ca múa của mình. Con người ta làm gì cũng đều cao quý miễn làm tốt và được mọi người ủng hộ!”. Tôi nói ngay: “Mẹ cô nói đúng đấy. Cô có giọng hát rất lạ, rất quyến rũ, thế nào cô cũng thành công! Khi nào biểu diễn ở đâu nhớ cho tôi biết nghe!”. Cô gái cười rất hồn nhiên, nói “Nhất định rồi!” rồi cất tiếng hát:

Xưa kia ở đậu miền xa
Cơn gió ở trọ bao la đất trời
Miền xa ... í ... a
Trời đất ... í ... a
Nhân gian về trọ nhiều nơi
Bâng khuâng vì những đôi môi rất hồng …

Cô gái đột ngột ngừng hát rồi lại cười khanh khách, nói: “Em chỉ làm ca sĩ khoảng dăm năm, kiếm được ít tiền thì tu sửa cái nhà thành nhà cho thuê! Mẹ em nói đúng lắm, mọi chuyện đều sẽ trôi đi theo thời gian nhưng chuyện ở trọ thì muôn đời không bao giờ mất đi, bao giờ cũng có người cần ở trọ!”. Tôi đã đánh máy xong, cô gái cầm lấy và cám ơn rối rít rồi lại hát:

Mây kia ở đậu từng không
Mưa nắng ở trọ bên trong mắt người
Từng không ... í ... a
Người xinh ... í ... a
Tim em người trọ là tôi
Mai kia dù có xa xôi cũng gần

*
Năm năm trôi qua thật nhanh…Tôi chỉ ở trọ nhà ông Hòa hai tháng thì một người quen vợ tôi tới nói: “Tôi có một phòng mạch ở quận 5, định tu sửa lại cho khang trang nhưng chưa đủ tiền. Vậy nếu hai người không chê thì đến ở tạm, coi như trông nhà giùm cho tôi!”. Căn nhà đang làm phòng mạch của ông Bác sĩ này cũng khá rộng, ngang 4 mét, sâu 25 mét, gác gỗ nửa sau, điện nước đầy đủ. Ông bác sĩ và phòng mạch chỉ hoạt động từ 4 giờ chiều đến 8 giờ tối, cũng như bao phòng mạch khác. Còn ngoài thời gian đó ra, chỉ có “tiểu gia đình” của tôi. Đúng là cái số tôi có “quý nhân phò trợ”, bởi chỉ mấy tháng sau, “tiểu gia đình” của tôi có thêm một thành viên là cô bé “Tí xíu” – nếu như còn ở trọ (như nhà trọ của ông Hòa chẳng hạn) thì quả là sẽ rất khó khăn!
Khi cô bé “Tí Xíu” của “Tiểu gia đình” chúng tôi được năm tuổi thì vợ tôi được Bệnh viện phân cho một “suất nhà”: cùng một người nữa cũng mới cưới nhau, ở chung trong nửa căn hộ 4mx8m bổ dọc thành 2mx8m. “Tiểu gia đình” của tôi (3 người) ở phía trên (gác gỗ), còn 2 người mới cưới ở phần dưới. Tôi phải làm cái cầu thang ở phía trước để vào nhà và một cầu thang ở phía sau để xuống khu vực vệ sinh, giặt rũ! Tuy nhà là của mình, không phải ở trọ nhưng lại quá chật chội và bất tiện! Và điều bất tiện lớn nhất là từ chỗ ở (trên đường Lò Siêu) đến chỗ làm việc của vợ tôi ở Bệnh viện quá xa, phải đi mất gần sáu mươi phút xe đạp! Vì thế, khi tôi có việc làm ở một tờ báo thì “tiểu gia đình” chúng tôi lại đi ở trọ, không phải nhà ông Hòa mà một nhà ở trong hẻm trên đường Sư Vạn Hạnh, vợ tôi chỉ bước vài bước là tới nơi làm việc ở Bệnh viện Nhi đồng 1, còn tôi chỉ đạp xe 10 phút là tới tòa báo trên đường Phạm Ngọc Thạch. Thế mới biết, ở trọ vẫn là giải pháp tốt nhất đối với những hoàn cảnh luôn có nhiều khó khăn như “tiểu gia đình” của tôi!
Một hôm, có việc phải đi qua chỗ nhà trọ của ông Hòa, tôi tạt vào chơi thì cả nhà đi đâu cả, cửa khóa im ỉm. Tôi tính bước ra thì từ trên lầu nhà bên cạnh có tiếng hát vang lên:

Môi xinh ở đậu người xinh
Đi đứng ở trọ đôi chân Thúy Kiều
Người xinh ... í ... a
Kiều xinh ... í ... a
Xin cho về trọ gần nhau
Mai sau dù có ra sao cũng đành …

Tiếng hát vừa ngừng lại thì từ trên ban-công, một cô gái hiện ra, tươi cười dơ tay vẫy vẫy. Mới nhìn thoáng qua, tôi nhận ra ngay cô bé Hoa năm năm trước, không thay đổi mấy, chỉ có điều rực rỡ hơn, quyến rũ hơn mà thôi! Thì ra cái lần ấy, cách nay năm năm, Hoa đã trúng tuyển vào Ðoàn ca múa Bông Sen nhýng cô chỉ xuất hiện trong những tiết mục tốp ca, tốp múa mà không ðứng riêng nhý một “Ngôi sao”!...Cô gái tỏ vẻ hơi buồn vì gặp lại tôi mà chưa thành “Ngôi sao”. Tôi bảo: “Nếu Hoa mà thành Ngôi sao rồi thì tôi làm sao mà gặp được? Thôi, cứ là bông hoa đẹp trong vườn hoa đẹp là tốt rồi, như thế lại lâu bền !” Cô gái nghe tôi nói vậy thì vui hẳn lên, nói: “Mẹ em cũng thường nói như vậy! Bây giờ em không còn quan tâm chuyện thành Ngôi sao nữa mà tập trung vào việc kinh doanh!”. Hoa mời tôi lên tham quan khách sạn bình dân mới hoàn tất, ngày mai là sẽ khai trương. Tôi quan sát một lượt rồi nói: “Cũng được đấy, nhưng sao không nâng cấp lên thành ba, bốn sao có phải là hái ra tiền không? Khu vực này thuộc trung tâm thành phố, sẽ rất đắt khách!”. Hoa cười rất tươi, nói chuyện kinh doanh mà như bàn về ca từ của một bài ca trữ tình: “Em cần tiền nhưng không thuộc loại kiếm tiền bằng mọi giá, càng nhiều càng ít. Em sửa nhà cho thuê là có ý muốn giúp đỡ phần nào những người “Sảy nhà ra thất nghiệp” vượt qua giai đoạn khó khăn mà vươn lên! Chẳng hạn như anh đó, anh bây giờ có còn phải ở trọ không? Nếu có khó khăn thì đến đây em cho ở trọ miễn phí tháng đầu, từ tháng thứ hai chỉ lấy nửa tiền!”. Quả là buồn ngủ gặp chiếu …hoa, “tiểu gia đình” của tôi đến dãy nhà trọ của Hoa ngay ngày hôm sau và sau đó, chúng tôi ở đây gần một năm nữa!
*
Dãy phòng trọ ở nhà cô bé Hoa cũng gồm 5 phòng, diện tích cũng 20 m2 một phòng nhưng được trang trí đẹp hơn nhà ông Hòa một chút. Song điều đặc biệt là thành phần người thuê có khác nhau cơ bản: bên nhà ông Hòa toàn những người làm ăn buôn bán ở các tỉnh khác về thành phố để móc nối mối buôn bán, còn bên nhà cô bé Hoa đều là viên chức nhà nước “sa cơ lỡ vận”, hoặc sinh viên mới ra trường nhưng còn đang thất nghiệp!
Ngay sát phòng tôi ở trọ là một cô gái học trường Sư phạm, đã tốt nghiệp, nhưng bị phân đi miền núi nên không đến nhiệm sở. Ngày ngày cô gái đi dạy học (làm gia sư) và tối về thì ngồi viết tiểu thuyết. Cô gái làm gia sư kiếm sống này có gương mặt khá xinh xắn và cương nghị, xem chừng cô sẽ “thi gan” với số phận đến cùng! Đối với những cô gái như thế, khi tiếp xúc nên tránh nói đến chuyện bị phân đi miền núi của cô! Tuy nhiên, thi thoảng mới gặp tôi trong thời gian ngắn ngủi, vậy mà cô gái Gia sư đều nói với tôi chuyện về mấy đứa bạn cùng lớp bây giờ đang ở trên Tây Nguyên dạy học và sống ra sao: “Anh biết không, con Lan bạn em nó nói, giờ lên lớp coi như bằng không bởi vì những đứa trẻ người dân tộc ấy chúng nó nghe và nói tiếng Kinh mình còn chưa được thì học hành cái gì? Chúng nói với nhau bằng tiếng dân tộc, còn nói với cô giáo bằng thứ tiếng lơ lớ như người nước ngoài nói tiếng Việt ấy! Được vài ngày lại có hai ba đứa bỏ học, chẳng lẽ cứ phải đến từng nhà để van nài chúng đi học mà lên lớp thì như vịt nghe sấm? Có mấy thằng con trai lớn tướng thì không lo học mà chỉ tìm cách dụ cô giáo đến nhà để bắt làm vợ! Con Lan nó đã thành vợ của thằng học trò nó tên là Ksor Nhú, cuối năm nay thế nào cũng đẻ ra một thằng “oẳn-tà-roằn”!”. Tôi nói: “Vậy những người bạn của cô đã bị “Tây Nguyên hóa” rồi đó! Đến thế hệ sau thì sẽ có một lớp người nửa Kinh nửa Tây nguyên, rất phù hợp! Lúc ấy chắc sẽ không phải bắt buộc những người không thích đi xa như bạn đến Tây Nguyên nữa! Có lẽ bạn sẽ phải chờ đến lúc ấy mới có thể hy vọng người ta đổi quyết định!”. Cô gái làm Gia sư không hề tỏ ra buồn nản mà lại rất vui: “Em đã quen với cách sống tự do này rồi! Mình vẫn được làm cô giáo mà lại được tự do hoàn toàn! Tự do muôn năm!...À, em có việc này tính bàn với anh, có thể kiếm bộn tiền mà rất dễ dàng: Có khoảng gần mười người đang học hệ Tại chức của Khoa Ngữ Văn trường Đại học Tổng hợp phải viết Luận văn tốt nghiệp. Rất tiếc là đề tài của họ toàn là văn học Việt Nam, mà sở trường của em lại là văn học nước ngoài, nhất là văn học Trung Quốc. Vì thế, nếu anh đồng ý thì em sẽ nhận “đấu thầu” hết “cả gói”, tiền công viết tám cái Luận văn này anh cứ nhận hết, nhưng em cần là cần cái tiếng “Viết Luận văn thuê” vào loại cao thủ, để làm ăn về sau!”. Quả nhiên, sau khi tôi hoàn thành tám cái Luận văn, tiếng tăm viết Luận văn thuê của cô gái Gia sư nổi như cồn cát, đến nỗi năm nào tôi cũng phải bỏ ra chục ngày lẫn đêm để tiếp sức cho cô Gia sư giải quyết những Luận văn tại chức không thuộc sở trường của cô!
Tuy việc bán chất xám làm cho tôi khá mệt mỏi nhưng không hiểu sao, đúng vào lúc mệt mỏi nhất, tôi lại nghe thấy tiếng hát của cô gái ca sĩ – chủ nhà ngân vang, khiến cho tôi quên hết mệt mỏi và “như người bỗng lênh đênh giữa đời”:

Trăm năm ở đậu ngàn năm
Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn
Ngàn năm ... í ... a
Buồn như ... í ... a
Ô hay là một vòng xinh
Tôi như người bỗng lênh đênh giữa đời …

*
Lẽ ra, những kỷ niệm ở trọ của tôi toàn những chuyện vui nếu như không có một vụ “tự thiêu” xảy ra ở bên dãy phòng trọ nhà ông Hòa. Song, cũng rất may là vụ “tự thiêu” bị phát hiện ngay nên được khống chế ngay! Sự phát hiện vụ “tự thiêu” hoàn toàn tình cờ: sáng hôm ấy, tôi dậy muộn do phải “viết thuê” đến ba giờ sáng. Khi ra ngoài đầu hẻm ăn sáng thì đã chín giờ. Tôi đang ngồi ăn tô phở thì có một người đàn bà ngồi xuống bàn, phía đối diện và nói ngay: “Tôi là bồ của ông Tám Cá Tra, đang ở trọ bên nhà ông Hòa, cạnh chỗ anh cũng đang ở trọ. Tôi phải nói thật với anh là sáng nay, ông Tám Cá Tra có hẹn tôi đến là để cùng “tự thiêu”, vì chúng tôi nợ nần chồng chất, tới tiền tỷ mà xem ra không có khả năng chi trả! Nhưng tôi không muốn chết chung với ông ta và cũng không muốn ông ta chết mà làm liên lụy tới người khác, bởi ông ta sẽ chọn cách tự thiêu! Vì vậy, anh hãy vào nói ngay với ông Hòa, bắt ông Cá Tra giao cho cảnh sát ngay kẻo sẽ xảy ra hỏa hoạn!”. Nghe tới đó, tôi chạy ngay vào nhà ông Hòa, nói với ông Hòa rồi cùng chạy lên phòng của ông Tám Cá Tra. Quả nhiên, ông Tám Cá Tra đang ngồi uống rượu (chắc là đợi cô bồ), sau lưng là hai can xăng đầy!...
Sau vụ ông Tám Cá Tra, tôi mới nói với ông Hòa: “Khi cho ai ở trọ, ông phải nhìn kỹ mặt người ở trọ sẽ thấy rõ ngay đó là người muốn sống hay muốn chết!”. Ông Hòa ngớ người: “Làm sao mà biết được ai là người muốn sống, ai là người muốn chết?”. Tôi nói ngay: “Người muốn sống thì trên trán có chữ Sinh, người muốn chết thì trên trán có chữ Tử. Đơn giản vậy mà ông không biết hay sao?”. Tôi tưởng nói giỡn chơi ông Hòa vậy rồi thôi nhưng không ngờ hai hôm sau, ông Hòa ăn mặc rất chỉnh tề, qua mời tôi sang làm lễ Bái sư, tức ông sẽ học tôi môn Tướng mạo học, bởi theo ông thì muốn làm chủ nhà trọ, phải biết nhìn người, trông mặt phải bắt được hình dong !...
Sài Gòn, tháng 4-2010
Đỗ Ngọc Thạch

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Chuyện tình đồi hoa sim (6 chương) - Đỗ Ngọc Thạch -trích: Chương Một

Đỗ Ngọc Thạch

Chúc mừng Năm Mới Nhâm Thìn 2012




Chuyện tình đồi hoa sim - Tiểu thuyết mini - Đỗ Ngọc Thạch

trích: Chương Một

Chuyện tình đồi hoa sim (tiểu thuyết mini)

Thứ năm, 29 Tháng 12 2011 14:39 TRUYỆN - Truyện ngắn Đỗ Ngọc Thạch
Chương Một
Cẩm Hương là con gái một của hai cầu thủ bóng chuyền chuyện nghiệp Văn Hải – Cẩm Hà. Cầu thủ trẻ tuổi Cẩm Hà có thai Cẩm Hương từ năm 20 tuổi, khi đang ở đỉnh cao của sự nghiệp.
Vì thế, có thể nói Cẩm Hương biết đánh bóng chuyền “từ trong bụng mẹ” và cuộc đời của Cẩm Hương như là đã được định sẵn: làm cầu thủ bóng chuyền chuyên nghiệp như mẹ và cha và cô còn có lợi thế là cô cao những 1,76 mét, hơn cả cha và mẹ những hai phân. Dự tính của cha và mẹ Cẩm Hương là Cẩm Hương sẽ thi vào Khoa bóng chuyền của Trường Đại học TDTT, sẽ được đào tạo chính qui chứ không làm cầu thủ rồi mới đi học như mẹ, vì mê cầu thủ bóng chuyền Văn Hải mà thành cầu thủ bóng chuyền rồi thành vợ Văn Hải luôn!...

Năm Cẩm Hương tốt nghiệp THPT và thi vào Đại học TDTT cũng là năm cả hai vợ chồng Văn Hải, Cẩm Hà cùng từ biệt cuộc đời cầu thủ: Văn Hải về Sở TDTD phụ trách bộ môn bóng chuyền còn Cẩm Hà làm Huấn luyện viên của đội tuyển bóng chuyền nữ của tỉnh. Trong những ngày đầu làm huấn luyện viên bóng chuyền, người mẹ Cẩm Hà bỗng nhận ra một cách rất rõ ràng rằng: người vận động viên bóng chuyền phải chịu đựng một chế độ luyện tập rất khắc nghiệt mà cuộc đời cầu thủ “quần đùi áo số” thì nước mắt nhiều hơn nụ cười, buồn nhiều hơn vui nếu không liên tục chiến thắng – điều mà không phải đội bóng nào cũng đạt được! HLV Cẩm Hà ngạc nhiên khi thấy sao trước đây, thời còn làm cầu thủ mình không bao giờ có suy nghĩ như thế, thậm chí rất ít nghĩ ngợi mà luôn luôn bị cuốn hút vào những trận đấu nảy lửa, thắng trận thì hò reo còn thua trận thì…khóc! Mà đội bóng của Cẩm Hà, một đội bóng của một tỉnh nghèo, đầu tư chưa thỏa đáng cho nên chưa bao giờ chạm vào Huy chương Đồng trong các mùa thi đấu, chứ đừng nói tới Huy chương Vàng, Bạc! Suy nghĩ mãi đến sự “bạc mệnh” của đời người cầu thủ “quần đùi áo số”, người mẹ Cẩm Hà đã đột ngột đưa ra một quyết định: không cho cô con gái Cẩm Hương theo cái nghiệp “quần đùi áo số” này nữa! Và người mẹ thật bất ngờ khi trao đổi với chồng thì ông Văn Hải cũng đang suy nghĩ như vậy, từ khi thôi làm cầu thủ mà chuyển về Sở TDTT! Khi cha và mẹ Cẩm Hương nói với cô ý nghĩ đó thì Cẩm Hương như là đã biết trước, nói ngay: “Hồi Tết, bà ngoại đã nói với con điều này rồi. Bà còn nói là con nên thi vào trường Đại học Sư phạm mà nhất định phải là Khoa Toán!”. Cả bố và mẹ Cẩm Hương cùng nói “À ra thế!” rồi người mẹ còn hỏi thêm: “Tại sao bà ngoại lại nói thi vào Khoa Toán? Liệu có khó cho con không?”. Cẩm Hương cười rất vô tư, nói ngay: “Hình như mẹ mải mê với quả bóng mà quên mất rằng bà Ngoại đã từng hai mươi năm làm cô giáo dạy Toán hay sao? Bà Ngoại bảo, Toán học là chìa khóa của mọi khoa học, cho nên phải giỏi Toán đã rồi muốn làm gì thì làm! Cũng may cho con là từ hồi đi học tới giờ, môn Toán của con luôn đạt điểm cao nhất lớp, bởi con cũng rất thích môn Toán!”. Cả bố và mẹ Cẩm Hương lại cùng “À ra thế” rồi bố Cẩm Hương nói ngay: “Vậy thì còn chờ gì nữa, chúng ta đi nhà hàng ăn mừng cho quyết định “đổi chiều gió” quan trọng này: Con sẽ không làm cầu thủ bóng chuyền nữa mà sẽ thành cô giáo dạy Toán!”.

Thực ra thì mẹ Cẩm Hương không thể quên mất chuyện bà Ngoại đã có hai mươi năm làm cô giáo dạy Toán của trường Huyện. Chỉ có điều từ hồi bà Ngoại lấy ông Ngoại – cô giáo dạy Toán trường Huyện đã chết mê chết mệt một cầu thủ bóng chuyền, chính là ông Ngoại – thì mọi câu chuyện đều xoay tròn theo quả bóng và mọi người như đã quên đi hình ảnh bình dị của cô giáo dạy Toán trường Huyện mà lóa mắt trước ngôi sao bóng chuyền, đã từng có mặt trong đội tuyển quốc gia, là ông Ngoại! Giờ đây, nghe Cẩm Hương nói đến bà ngoại, cả bố và mẹ Cẩm Hương đều giật mình như người vừa tìm thấy lại một báu vật đã bị che lấp khá lâu trong ký ức! Mẹ Cẩm Hương nghĩ thầm, con bé Cẩm Hương quả là nó rất giống bà Ngoại. Thảo nào bà Ngoại rất cưng chiều nó, hai bà cháu mà gặp nhau là quấn quýt lấy nhau như đôi tình nhân! Thế thì cho nó thi vào Khoa Toán Đại học Sư phạm là “đúng số” rồi! Còn bố Cẩm Hương thì nghĩ, hồi còn đi học, mình rất giỏi Toán, đáng lẽ nghe lời ông bác thi vào Khoa Toán Đại học Tổng hợp, ông chú lại bảo, mày cao như cây sào, không vào học bộ môn bóng chuyền trường Đại học TDTT thì môn bóng chuyền nước nhà mất đi một cầu thủ tài năng! Thế là thành cầu thủ chủ công của đội bóng chuyền tỉnh nhà, khi mà phong trào thể thao bùng nổ ở khắp mọi nơi! Nếu ông chú, vốn là một Huấn luyện viên bóng chuyền, - không quyết lôi kéo thằng cháu cao kều đi theo nghiệp bóng chuyền thì biết đâu bây giờ môn Toán học nước nhà đã có thêm một Tiến sĩ Toán học như ông bác! Vì thế con bé Cẩm Hương thi vào Khoa Toán trường Đại học Sư phạm thì nhất định sẽ đậu thủ khoa bởi nó có gien di truyền giỏi Toán của bố nó!

Ba người trên đường ra nhà hàng đặc sản “Con Nai Vàng” thì thật bất ngờ khi gặp thầy giáo dạy Toán lớp 12 của Cẩm Hương. Cứ như là có bàn tay sắp xếp bí ẩn nào đó đang làm việc rất ngẫu hứng mà cũng rất được lòng người! Khi thầy giáo dạy Toán nghe bố Cẩm Hương nói lý do của bữa tiệc, ông đã reo lên như một cậu học trò trúng tuyển và nhận chịu một nửa kinh phí của bữa tiệc, bởi theo như ông nói thì phải “ăn bằng tiền” của ông – một thầy giáo dạy Toán gần ba mươi năm trong nghề thì mới chắc đậu thủ khoa! Quả nhiên, lời ông thầy dạy Toán của Cẩm Hương chính xác như…Toán học, kỳ thi đại học sau đó, Cẩm Hương đã đậu Thủ khoa mà không có đối thủ cạnh tranh!

*

Trong suốt thời gian Cẩm Hương học Trung học Phổ thông, hầu như cả bố Văn Hải và mẹ Cẩm Hà đều không phải lo đến chuyện học hành của con gái bởi mỗi khi Cẩm Hương đưa giấy báo kết quả học tập từng học kỳ, từng năm học về nhà thì không ai có thể có ý kiến gì vì Cẩm Hương đều đạt điểm 9 và 10 tất cả các môn học. Nếu như bố và mẹ Cẩm Hương có muốn lo chuyện học hành của con gái thì cũng không có thời gian bởi đó là những năm cả hai người đều bị cuốn hút vào những trận quyết đấu của đủ các loại giải bóng chuyền trong tỉnh cũng như khu vực rồi quốc gia. Có lẽ cũng vì mải mê với quả bóng mà bố mẹ quên cả tuổi đi học của cô con gái: khi Cẩm Hương mới Năm tuổi, nhưng do Cẩm Hương đã cao lớn bằng những đứa trẻ bảy, tám tuổi con hàng xóm và hay chơi đùa với chúng, nên khi chúng vào học lớp Một thì bố mẹ Cẩm Hương cũng cho con đi học cùng. Trường tiểu học (và cả các bậc học khác) ở tỉnh vùng cao khi ấy rất ít học sinh cho nên các thầy cô giáo cũng không xét nét chuyện đi học có đúng tuổi hay không, có thêm một học sinh chẳng chết ai mà lớp học thêm đông vui! Thế là Cẩm Hương vào lớp Một sớm những hai năm. Nếu như Cẩm Hương học kém thì người ta sẽ xem lại tuổi tác và bắt lưu ban, chờ đủ tuổi. Nhưng điều đó đã không xảy ra, bởi Cẩm Hương học rất giỏi, luôn luôn đứng đầu lớp! Càng học lên, Cẩm Hương càng cao lớn cho nên vấn đề xem lại tuổi tác hầu như không ai chú ý tới. Năm lên lớp Mười, tức mới 14 tuổi, Cẩm Hương đã cao 1,65 mét, không những cao nhất lớp mà nhất cả trường, có tính cả các thầy cô giáo, vì các thầy cô giáo ở trường của Cẩm Hương hầu hết đều không cao quá 1,60 mét, duy nhất chỉ có thầy giáo Hiệu trưởng là cao 1,63 mét!

Vì cao lớn và lại học giỏi cho nên tất cả đám con trai không ai dám đến gần Cẩm Hương, chứ đừng nói đến chuyện trêu chọc, tán tỉnh này nọ. Mặt khác, dường như chất nữ tính trong cơ thể Cẩm Hương chưa phát triển cho nên thân hình cô vừa cao vừa gày, nhìn xa gần giống như nhân vật Đôn-ki-hô-tê của nhà văn người Tây Ban Nha Xec-van-tet, thậm chí nếu cải nam trang thì sẽ rất giống! Tình trạng này diễn ra từ lớp Mười trường trung học phổ thông cho đến khi Cẩm Hương tốt nghiệp đại học, khi đã 20 tuổi. Tức cho đến lúc đó, Cẩm Hương chưa hề có tình cảm nam nữ với ai. Hoặc nói theo “ngôn ngữ tình trường” thì Cẩm Hương vào đời mà chưa hề có một mảnh tình vắt vai!

*

Cẩm Hương tốt nghiệp với điểm số cao nhất lớp. Giáo sư Tổ trưởng bộ môn đề nghị giữ cô ở lại phụ giảng và làm chuyển tiếp nghiên cứu sinh nhưng những người ở Phòng Tổ chức cán bộ nói: “Bây giờ tiêu chuẩn đào tạo cán bộ giảng dạy phải chú ý cả hình thức, tức là nam thì phải đẹp trai, là nữ thì phải xinh gái, không được như tài tử điện ảnh hoặc người mẫu thời trang thì cũng phải “sạch nước cản”! Đằng này cô Cẩm Hương vừa cao lớn quá khổ vừa không có nữ tính, làm cô giáo sẽ gây “sốc” cho sinh viên, làm cho hình ảnh của người cán bộ giảng dạy bị méo mó, dị dạng!”. Giáo sư Tổ trưởng bộ môn đành chịu thua nhưng vẫn bực mình với Phòng Tổ chức, bèn đề nghị giữ lại hai cô gái xinh đẹp nhất nhì lớp nhưng cũng học kém nhất nhì lớp! Vị giáo sư làm vậy tưởng rằng phòng Tổ chức cán bộ sẽ bị “sốc” mà phải suy nghĩ lại chuyện cô học trò giỏi Cẩm Hương, nhưng thật không ngờ, Phòng Tổ chức cán bộ đồng ý giữ lại Khoa cả hai người đẹp! Mọi người ai cũng ngạc nhiên thì ông Trưởng phòng TCCB giải thích: “Sắp tới có cuộc thi Hoa hậu Giảng đường Đại học, cho hai cô này đi thi thì sẽ đem cả giải Hoa hậu và Á hậu về Khoa! Đây sẽ là sự kiện mang tính lịch sử của Khoa Toán vì từ khi có Khoa Toán đến nay, các nữ giáo viên đều bị coi là “ma chê, quỷ hờn”! Hết thắc mắc chưa?”. Nói vậy thì còn ai thắc mắc được nữa?

Rút cục, Cẩm Hương được phân về Sở Giáo dục tỉnh nhà, Sở phân về trường THPT của tỉnh. Nhưng, hình như Ban Giám hiệu của trường THPT cũng đồng quan điểm với ông Trưởng phòng Tổ chức cán bộ kia cho nên từ chối không nhận Cẩm Hương. Sở phải thông báo cho các Huyện, Huyện nào thích thì …”cho không”! Ông chủ tịch Huyện An Sinh vốn là một cầu thủ bóng chuyền nghiệp dư, cũng là Fan hâm mộ đôi vợ chồng cầu thủ bóng chuyền Văn Hải – Cẩm Hà, tức cha và mẹ của Cẩm Hương, nên khi lên tỉnh họp, biết có cô gái Cẩm Hương như thế, như thế thì lệnh cho Trưởng Phòng Giáo dục Huyện lên Sở Giáo dục xin ngay Cẩm Hương về Huyện với lời nói sau cùng nhắc đi nhắc lại tới ba lần: “Phải đưa bằng được cô gái Cẩm Hương về Huyện, đó sẽ là hạt giống bóng chuyền quý giá của Huyện ta! Phải đưa Cẩm Hương về Huyện bằng mọi giá! Nếu không hoàn thành nhiệm vụ, cậu sẽ bị mất chức!”. Để cho chắc ăn, ông chủ tịch Huyện còn sang Sở Giáo dục canh chừng xem có ai tới lấy mất báu vật của ông hay không!

Nhờ sự nhanh tay của ông Chủ tịch Huyện mà Cẩm Hương được điều về Huyện An Sinh rất mau lẹ. Cẩm Hương được tự chọn ở lại Phòng Giáo dục Huyện hoặc về trường THPT của Huyện. Dĩ nhiên là Cẩm Hương chọn về trường THPT, bởi cô không biết ở phòng Giáo dục Huyện thì sẽ làm cái gì?

*

Trường THPT An Bình của huyện An Sinh vốn là một trường THCS được “nâng cấp” nhờ tiền tài trợ của hai Việt kiều. Khi chưa nâng cấp, trường vốn có tên là trường THCS Đồi Sim vì trường chỉ là một căn nhà tranh vách đất năm gian nằm trơ trọi trên một quả đồi mọc toàn cây sim, loại thấp và mọc thành từng lùm nhỏ lúp xúp, có xen lẫn những bụi cây mua nho nhỏ. Trước nữa, đây chỉ là một trường tiểu học. Nhưng không hiểu vì sao, tuy cơ sở vật chất nghèo nàn nhưng cây cỏ ở quả đồi này bốn mùa xanh tốt, dưới chân đồi người ta còn đào được một cái giếng nước trong mát vô cùng, người ta liền làm một dãy nhà cũng năm gian cho các thầy cô giáo xa quê tạm trú. Vào mùa khô hạn, những cái giếng quanh vùng đều cạn nước nhưng giếng của trường không hề vơi cạn! Cái giếng của trường Đồi Sim đã cứu hạn cả làng. Điều đặc biệt là học sinh của trường Đồi Sim đều học giỏi và sau đều vào đại học cho nên ai cũng nói Đồi Sim là đất lành, đất học. Đó cũng chính là lý do hai nhà doanh nghiệp Việt kiều khi về thăm quê hương đã quyết định đầu tư nâng cấp trường THCS Đồi Sim thành trường PTTH An Bình.

Sau khi nâng cấp, trường PTTH An Bình hiện ra sừng sững trên đồi sim như là có phép Tiên. Cái nhà tranh vách đất năm gian ngày xưa đã biến thành cái nhà hai tầng mười gian cho hai mươi phòng học đẹp như tranh. Hai đầu dãy nhà tầng là hai dãy nhà trệt năm gian làm thành chữ U bao bọc lấy cái sân trường rộng mênh mông. Cổng trường cũng được xây theo kiểu mới: hai cái trụ cổng hai bên là hai bức tường rộng bằng cái bảng đen, bên trái là tên trường đắp nổi, bên phải là câu nói “Tiên học lễ, hậu học văn”, cũng đắp nổi. Hai hàng cọc rào chạy hai bên cổng được xây khá đẹp và cho trồng 12 cây bàng và phượng xen kẽ. Hai dãy nhà trệt năm gian dùng làm phòng Ban Giám hiệu, phòng các Tổ bộ môn, phòng thí nghiệm, thư viện,v.v…Đằng sau hai dãy nhà trệt là vườn trường do tổ Sinh vật quản lý. Nói tóm lại, cơ ngơi của trường PTTH An Bình vừa đẹp vừa hiện đại, hơn hẳn các trường cùng đẳng cấp huyện và các trường thuộc đẳng cấp tỉnh, thành phố cũng khó có thể qua mặt!

Khi Cẩm Hương về trường PTTH An Bình của huyện An Sinh thì trường đã nâng cấp được một năm. Những cây bàng, cây phượng trồng hai bên cổng trường đã cao vượt đầu người và bắt đầu đâm cành xòe lá xanh mơn mởn. Nhìn quang cảnh trường, Cẩm Hương rất thích và ngày nào cô cũng tham gia tưới cây cùng các học trò. Việc tưới cây tuy có hơi nặng nhọc vì phải gánh nước từ cái giếng dưới chân đồi lên, nhưng tạo nên cảm giác rất sảng khoái, khi tưới xong, nhìn những lá cây xanh mướt đang đung đưa trước gió, có cảm giác như nhìn thấy nước đang từ rễ cây chạy ra từng cái lá cây bé nhỏ kia!

Cẩm Hương được bố trí ở trong khu tập thể của giáo viên ở cạnh cái giếng dưới chân dồi, tất nhiên là cái nhà tranh vách đất ngày xưa cũng đã được thay bằng một dãy mười hai căn phòng nhà trệt, tường xây, mái tôn chắc chắn. Vì là trường mới nâng cấp nên số giáo viên tạm trú tại khu tập thể đã kín mười hai căn phòng, có mười cô và hai thầy, đều chưa tới ba mươi tuổi, trai chưa vợ, gái chưa chồng. Sau này, nếu có thêm giáo viên thì sẽ phải ở chung hai người một phòng. Cạnh phòng Cẩm Hương là cô giáo dạy văn Thanh Phi, về trường trước Cẩm Hương ba ngày, cùng một khóa với Cẩm Hương. Khi vừa nhìn thấy Cẩm Hương, Thanh Phi đã nhào tới nắm chặt tay Cẩm Hương mừng rỡ rối rít: “Ôi, cứ tưởng trường ta chỉ có một mình tớ về đây, đang buồn muốn chết! Sao nghe nói cậu được giữ lại trường cơ mà? À, phải rồi, vật đổi sao dời, làm sao mà biết trước? Trước đây chúng ta chỉ biết nhau mà chưa truyện trò vì hai đứa ở hai khoa. Giờ về đây thì là bạn cùng trường, chúng ta phải coi nhau như chị em, bảo vệ nhau thì mới tồn tại được nơi đất khách quê người này!...”.

*

Cẩm Hương và Thanh Phi là đôi bạn “cọc cạch” một cao một thấp (Thanh Phi chỉ cao mét rưỡi - 1,50 mét), một béo mập, một gày gò, tất nhiên là cao thì gày (Cẩm Hương – còn có biệt danh là Cò Hương) và thấp lùn thì béo mập (Thanh Phi – còn có biệt danh là Thùng Phi). Kiểu cặp đôi cọc cạch này đã rất nổi tiếng trong Làng Báo chí thời trước Cách mạng Tháng Tám như Lý Toét – Xã Xệ, hoặc sau này, báo Thiếu niên Tiền Phong có cặp đôi Bóng Nhựa – Bút Thép cũng làm nên chuyện (Bóng Nhựa do nhà báo Cửu Thọ vào vai, Bút Thép do nhà báo Mạnh Chuẩn đảm nhiệm). Cặp đôi Cẩm Hương – Thanh Phi (Cò Hương – Thùng Phi) này cũng chính là hai nhân vật chủ chốt của tiểu thuyết “Mối tình Hoa Sim” này bởi đây là hai tính cách rất độc đáo và đối ngược nhau: Cẩm Hương có vẻ ngờ nghệch, lớ ngớ trong cuộc sống đời thường thì Thanh Phi rất nhanh tay lẹ mắt, biến báo rất linh hoạt; Cẩm Hương ngu ngơ, dại khờ trong tình cảm nam nữ thì Thanh Phi đã biết “mùi đàn ông” từ thuở mười ba và cô thường rất hay đọc câu ca dao: Lấy anh từ thuở mười ba / Đến nay mười tám em đà năm con / Ra đường thì tưởng còn son / Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng! Tất nhiên thân hình khiêm tốn về chiều cao của Thanh Phi tràn trề nữ tính (cặp mắt lúng liếng hơn cả Thị Mầu, cặp môi mọng ướt như mời gọi, ngực căng tròn như hai trái dừa xiêm…),chứ không “thẳng đuỗn”, “trước sau như một”, “tấm phản di động”…như Cẩm Hương!

Một hôm, có một cô bé học sinh lớp chín, đến khu tập thể giáo viên có việc gì đó vào buổi tối, bất chợt nhìn thấy Cẩm Hương thì buột miệng “Chào Thầy!...” đã khiến cho Cẩm Hương giật mình hoảng hốt và bắt đầu suy nghĩ về cái gọi là “Nữ tính” của con người mình. Trước đây, từ hồi còn học đại học, Cẩm Hương cũng thỉnh thoảng nghe bạn bè xì xào rằng cô không có “Nữ tính”, nhưng cô bỏ ngoài tai vì có lần hỏi mẹ về chuyện này, mẹ giải thích: “Cái người ta gọi là Nữ tính đó thực ra phải gọi là “đĩ tính”, tức người phụ nữ đó chỉ biết và chỉ muốn làm chức phận đàn bà, ngoài ra không thể và không muốn làm gì khác. Còn những người như chúng ta, phải lo học hành suốt đời và trăm công ngàn việc kiếm sống thì cái gọi là Nữ tính kia nó có thuyên giảm đi ít nhiều nên có vẻ như ít Nữ tính! Đó là qui luật của cuộc sống!”. Song, bây giờ có đứa học trò gái lại chào Cẩm Hương là “Thầy” thì quả là có chuyện! Chẳng lẽ chỉ vì không yêu đương, không quan hệ nam nữ mà mình đã biến (sẽ biến) thành đàn ông? Nghĩ cả ngày vẫn không thấy rõ câu trả lời, đến tối, Cẩm Hương đem chuyện “Chào Thầy” ra nói với Thanh Phi thì Thanh Phi cười ầm lên rồi ôm chầm lấy Cẩm Hương rồi đè Cẩm Hương xuống giường, làm những động tác như của một tên “Yêu râu xanh” đang cưỡng bức gái nhà lành, khiến cho Cẩm Hương thấy nhột vô cùng và rồi chân tay như bị tê liệt, không thể chống cự nổi! Lúc ấy, Thanh Phi vừa từ từ lột hết quần áo bạn ra vừa nhẹ nhàng nói: “Ai dám bảo bạn Cẩm Hương của tôi đã hóa thành đàn ông? Thì vẫn là trong ngọc trắng ngà , rày rày sẵn đúc một tòa thiên nhiên đó thôi!...Nhưng quả là có kém phần bóng bảy, nở nang, khêu gợi quyến rũ! Nhưng không sao, ta sẽ giúp bạn ta trở thành một tuyệt sắc giai nhân với một thân hình bốc lửa có thể thiêu cháy bất cứ đấng mày râu nào!”…

Cô bạn Thanh Phi của Cẩm Hương có phép thuật cao siêu hay không, có quyền năng vô biên hay không mà nói cao giọng như vậy, xin mời xem tiếp Chương Hai sẽ rõ.

(Hết Chương Một)

Sài Gòn, tháng 6-2010

Đỗ Ngọc Thạch

< LùiTiếp theo >
 

nguồn: vannghechunhat.net

http://vietnamvolleyball.files.wordpress.com/2011/08/1.jpg

11 Chuyện tình đồi hoa sim (chương 6) 76
12 Chuyện tình đồi hoa sim (chương 5) 63
13 Chuyện tình đồi hoa sim (chương 4) 58
14 Chuyện tình đồi hoa sim (chương 3) 63
15 Chuyện tình đồi hoa sim (Chương 2) 61
16 Chuyện tình đồi hoa sim (tiểu thuyết mini) 53


Tìm tag: Tiểu thuyết